Văn hóa - Xã hội
Hồ sơ văn hóa Mỹ (A File on American Culture)
Hữu Ngọc
Trong không khí trao đổi văn hóa quốc tế từ sau cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, vấn đề tìm hiểu văn hóa Mỹ được đặt ra, nhất là sau khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận (1994). Ở nước ta, có một kho tàng trước tác phong phú bằng tiếng Việt về những nền văn hóa châu Á - đặc biệt về Trung Quốc, Ấn Độ - và các nước Đông Âu. Đối với các nền văn hóa phương Tây, chúng ta biết rõ nhất là văn hóa Pháp. Đối với văn hóa Mỹ, nhất là ở phía Bắc vĩ tuyến 17, chúng ta chưa có một cuốn sách nào trình bày một cách sâu sắc và có hệ thống. Trong khi chờ đợi một tác phẩm bác học và toàn vẹn như thế, chúng tôi muốn đóng góp một phần khiêm tốn vào vấn đề ấy. Sách này bắt đầu bằng hai câu hỏi: “Có một nền văn hóa Mỹ hay không? Nếu có thì cái hay cái dở của nó như thế nào?” Chúng tôi đặt hai câu hỏi này cho hơn một chục bạn ở Mỹ (da trắng, da đen, da đỏ), Anh, Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Luxembourg; những bài trả lời được in nguyên, không bình luận, coi như bản dạo đầu với vấn đề. Cuốn sách là những cảm tưởng, ghi chép, bài nghiên cứu, phóng sự, phỏng vấn, đối thoại, bản dịch thơ và văn xuôi, bản tóm tắt tác phẩm, có cả thống kê và bảng khái quát, - đa số của tác giả, nhưng cũng có những đóng góp của bạn bè Mỹ và người nước ngoài khác, một số bài của báo chí quốc tế. Cuốn sách này là một tập Hồ sơ văn hóa Mỹ. Vì là hồ sơ nên không khỏi không có ý lặp lại hoặc đối lập. Chúng tôi tôn trọng sự tự do lựa chọn của độc giả.
2985 lượt xem
5 Tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh - 5 Bảo vật quốc gia
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

5 Tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh - 5 Bảo vật quốc gia

2302 lượt xem
Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn
Hoàng Tuấn Cư, Đỗ Trí Tú

Lễ hội truyền thống là kết tinh của bản sắc văn hóa các dân tộc xứ Lạng, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với sự đa dạng của cộng đồng Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông…, Lạng Sơn hình thành một không gian văn hóa phong phú, trong đó lễ hội giữ vai trò trung tâm, phản ánh toàn diện đời sống xã hội và tinh thần của cư dân bản địa. Trước tác động của hiện đại hóa và công nghệ số, nhu cầu gìn giữ, nghiên cứu và phát huy lễ hội truyền thống càng trở nên cấp thiết, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và cội nguồn cộng đồng. Từ khảo sát thực tiễn và tư liệu nghiên cứu, cuốn sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn” được biên soạn nhằm giới thiệu những giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội người Tày trong bức tranh văn hóa Đông Bắc Việt Nam.

5748 lượt xem
Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam tập 1: Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

cuốn sách Di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam, tập 1: Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Cuốn sách này nhằm nhận diện và cung cấp những kiến thức cơ bản về các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của các tỉnh/thành phố khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng và cung cấp thông tin về 10 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở mỗi tỉnh/thành phố. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương.

1014 lượt xem
Phát huy giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc
Bộ Thông tin và Truyền thông

Việt Nam được ví như “bảo tàng tín ngưỡng, tôn giáo thế giới”, đời sống tín ngưỡng của người dân đa dạng, phong phú. Sự đa dạng của tín ngưỡng dân tộc qua các loại hình tín ngưỡng như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Tín ngưỡng thờ vua Hùng, Tín ngưỡng thờ Mẫu, Tín ngưỡng phồn thực… Mặc dù các tín ngưỡng có nguồn gốc hình thành, phát triển khác nhau; nội dung, nghi lễ khác nhau nhưng không vì thế mà có sự xung đột, phá hoại lẫn nhau để phát triển riêng mình, ngược lại trong quan hệ, các tín ngưỡng luôn có sự gắn kết, giao thoa với nhau để cùng tồn tại, phát triển trong một quốc gia, dân tộc. Các tín ngưỡng dân tộc mang những đặc điểm cơ bản như đa thần, bình đẳng, dân chủ, giàu chất nhân văn, hỗn dung tôn giáo.
Những giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc đã góp phần tạo nên nét đẹp trong tinh hoa văn hóa dân tộc, truyền tải những giá trị nhân văn của dân tộc như đạo hiếu, uống nước nhớ nguồn, trách nhiệm với quê hương đất nước, tinh thần cố kết cộng đồng… Bên cạnh đó, tín ngưỡng dân tộc cũng đang bị lợi dụng ảnh hưởng tiêu cực đối với cộng đồng, làm suy giảm, mai một các giá trị nhân văn của các tín ngưỡng, lễ hội truyền thống. Nhiều vấn đề đặt ra từ sự tác động của một số xu hướng biến đổi tín ngưỡng đến đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền - Nguyễn Thị Hiệp biên soạn, xuất bản cuốn sách “Phát huy giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc”.
Từ việc nghiên cứu thực trạng xu hướng biến đổi của các tín ngưỡng dân tộc trước sự tác động của quá trình hội nhập, cách mạng công nghệ, công nghiệp hóa, đô thị hóa… Và những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát huy những giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc trong điều kiện mới. Qua đó đề xuất nhóm giải pháp nhằm phát huy tốt hơn vai trò của các tín ngưỡng dân tộc trong tiến trình bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc trong điều kiện mới hiện nay.

2971 lượt xem
Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên (Bản rút gọn)
TS. Nguyễn Thu Dung

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Thị Thu Dung (chủ biên) biên soạn và xuất bản cuốn sách Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Nội dung được kết cấu thành 2 phần gồm một số bài viết và bài nghiên cứu chuyên sâu, phản ánh những giá trị đặc sắc trong đời sống văn hóa cũng như đặc điểm ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số sinh sống tại tỉnh Điện Biên. Mỗi bài viết đều là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của các tác giả - những người tâm huyết với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Cuốn sách không chỉ cung cấp những tư liệu quý báu về ngôn ngữ, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Điện Biên, mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí của văn hóa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ hội nhập.

388 lượt xem
Xây dựng hợp tác xã phát triển theo chuỗi giá trị dược liệu (Khu vực Miền núi phía Bắc) (bản rút gọn)
TS. Nguyễn Mạnh Cường

Nội dung cuốn sách "Xây dựng hợptác xã phát triển theo chuỗi giá trị dược liệu (Khu vực miền núi phía Bắc) (bản rút gọn)" góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dược liệu ở Việt Nam; phản ánh thực trạng hoạt động của các hợp tác xã dược liệu; phân tích vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững lĩnh vực này.

Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sách sẽ góp phần lan tỏa nhận thức về vai trò của hợp tác xã trong phát triển kinh tế dược liệu, góp phần thực hiện thành công các chương trình mục tiêu quốc gia, chiến lược phát triển dược liệu Việt Nam và nâng cao đời sống của người dân miền núi phía Bắc.

Trân trọng giới thiệu.

578 lượt xem
100 điều nên biết về tiến trình văn hóa Việt Nam
Hà Nguyễn

Thông qua cuốn sách 100 điều nên biết về tiến trình văn hóa Việt Nam của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối liền bạn đọc với những tri thức chung phổ quát và các sắc màu văn hóa đặc sắc trong tiến trình văn hóa Việt Nam.   Trải qua các thời kỳ lịch sử, những yếu tố văn hóa trong mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc và của cả quốc gia - dân tộc Việt Nam đã không ngừng tiếp xúc và hòa hợp, biến đổi và phát triển, để lại những dấu ấn sâu đậm trong tiến trình văn hóa Việt Nam. Văn hóa Việt Nam được nuôi dưỡng trên nền tảng truyền thống lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc, được bảo tồn và phát huy đã trở thành động lực sáng tạo, góp phần kiến tạo nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

2351 lượt xem
Di sản Văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh Lào Cai - Intangible cultural heritages of the ethnic minorities in Lào Cai province
Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Lào Cai, Hà Văn Thắng (Chủ biên)

Được coi là vùng đất cổ, là cửa ngõ thông thương với vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào Cai độc đáo với cảnh quan tươi đẹp, núi non hùng vĩ, là nơi cư trú của nhiều dân tộc với 25 nhóm, ngành khác nhau, như: Mông, Dao, Tày, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Kinh… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, bằng tài năng sáng tạo của con người cùng với sự đa dạng về các thành phần dân tộc, Lào Cai đã có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú về loại hình, độc đáo về bản sắc tộc người, với một hệ thống: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; phong tục tập quán; tri thức dân gian… 

Từ khi được tái lập năm 1991, với bộn bề những khó khăn trong công cuộc tái thiết nền kinh tế, xã hội còn  lạc hậu của một tỉnh miền núi nhưng các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã sớm chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các dân tộc. 

Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 13 của Tỉnh ủy về phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; 

Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 8 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển văn hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành chương trình kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 25 nhóm, ngành dân tộc cư trú ở 500 thôn bản trên toàn tỉnh; lựa chọn và lập hồ sơ khoa học được 26 di sản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trong đó 02 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là: Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, GiáyNghi lễ Then của người Tày trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái”. 

Bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở hình thành và tạo nên giá trị cốt lõi để phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn độc đáo, góp phần đưa Lào Cai trở thành một địa phương được đông đảo bạn bè trong nước và ngoài nước biết đến, thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai. 

Trong những năm qua, Lào Cai luôn dẫn đầu các tỉnh phía Tây Bắc về số lượng khách du lịch. Năm 2019, lượng khách đến Lào Cai đạt gần 5 triệu lượt, doanh thu từ du lịch đạt 19.800 tỷ đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. 

Có thể nói, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc của tỉnh Lào Cai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ðể có được những kết quả này, ngoài sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp thực hiện chặt chẽ của các sở, ngành, còn có sự chung tay của cộng đồng các dân tộc, của các nghệ nhân dân gian, những người am hiểu sâu sắc về vốn văn hóa truyền thống của dân tộc. Di sản văn hóa sẽ mãi tồn tại và phát triển, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ hội nhập.

2998 lượt xem
ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)
Trần Xuân Hiệp, Trương Công Vĩnh Khanh

Sau những thể nghiệm đầu tiên về việc thành lập một tổ chức khu vực với sự tham gia của tất cả các quốc gia Đông Nam Á từ những năm 1960, cuối cùng một tổ chức chính thức đã ra đời vào ngày 08/8/1967, mang tên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trải qua những thăng trầm lịch sử, sự tồn tại và phát triển của ASEAN là minh chứng cho tình đoàn kết chặt chẽ của các nước Đông Nam Á. Từ khi thành lập với ASEAN-6, từng bước kết nạp thêm các thành viên mới để trở thành ASEAN-10, và đến năm 2015, Cộng đồng ASEAN (AC) đã được xây dựng, củng cố trên ba trụ cột: Cộng đồng An ninh - Chính trị (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC), Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC).
Sau 55 năm xây dựng và trưởng thành (1967 - 2022), ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trước hết, ASEAN đã tạo cho mình một vị thế mới, với vai trò là trung tâm trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, ủng hộ như EAS, ARF, ASEAN+1, ASEAN+3, RCEP, ADMM+ nhìn chung đều được các cường quốc và đối tác trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương đón nhận. Ở cấp độ quốc gia, một số thành viên của ASEAN đã và đang tận dụng tốt sự cạnh tranh chiến lược, vị thế địa chính trị và các lợi thế riêng khác của mình để đóng vai trò lớn hơn trong xây dựng cấu trúc hợp tác khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, ASEAN đã gặt hái được những thành công ấn tượng về kinh tế, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba ở châu Á, sau Trung Quốc và Nhật Bản. Hơn nữa, tiến trình hội nhập của ASEAN đánh dấu một cột mốc, giai đoạn quan trọng mới với việc tuyên bố thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, mở ra một trang mới trong tiến trình liên kết kinh tế gắn chặt hơn. Về văn hóa - xã hội, ASEAN cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, thu hút sự tham gia của người dân và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân: thu hút sự tham gia của các nhóm, giới và các tiến trình của ASEAN; tăng quyền cho người dân và tăng cường các thể chế đảm bảo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được rất đáng khâm phục, ASEAN hiện nay vẫn đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức. Khu vực Đông Nam Á được xác định là trung tâm của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và cũng là điểm mấu chốt của sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, Đông Nam Á trở thành “đấu trường” can dự, lôi kéo, tập hợp lực lượng nhằm kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau. Ngoài ra, xuất phát từ lợi ích chiến lược, nội bộ ASEAN cũng có những vấn đề gây cản trở cho sự thống nhất cần có của một cộng đồng, chưa thật sự đoàn kết và đôi khi là những bất đồng giữa các nước thành viên về các nội dung liên quan. Điều này khiến cho sức mạnh chung của khu vực bị ảnh hưởng, có phần giảm sút khi đối diện với các vấn đề quốc tế cần tiếng nói của tập thể.
Với tầm quan trọng về vị trí địa chiến lược, địa kinh tế, địa văn hóa, ASEAN đã, đang và sẽ là nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng của khu vực Đông Nam Á cũng như Ấn Độ - Thái Bình Dương, đồng thời là nhân tố trung tâm của nhiều định chế hợp tác trong khu vực. Cuốn sách “Cộng đồng ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)” ra đời trong thời điểm ASEAN hướng đến kỷ niệm 55 năm ngày thành lập sẽ tạo thêm nhiều động lực cho chúng ta cùng chung tay xây dựng hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN ngày một phát triển. Dù biết rằng các tác giả đã hết sức cố gắng, nhưng để nghiên cứu về ASEAN là việc không hề dễ dàng, vì thế, chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót, bất cập. Hy vọng rằng, cuốn sách này sẽ góp phần cung cấp thông tin và kiến thức cho bạn đọc về quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN trong giai đoạn hiện nay.

8859 lượt xem
85 Chân dung Văn hóa, Văn chương Việt - Tập 3
GS. Phong Lê

Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”,và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.

 Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.

 Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập. 

Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh. 

Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được. 

m 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.

Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.

5806 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Đông
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Đông, hay xứ Hải Đông, là tên gọi dân gian để chỉ tiểu vùng văn hóa nằm ở mạn phía đông của vùng đồng bằng sông Hồng, chủ yếu bao gồm tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng hiện nay. Lấy Thăng Long - Kẻ Chợ làm trung tâm, có thể chia 4 phần còn lại của đồng bằng Bắc Bộ - tam giác châu sông Hồng và sông Thái Bình thành “tứ trấn” (tứ chiếng): Hải Đông trấn (lộ, xứ) tức xứ Đông; Sơn Tây trấn (xứ) tức xứ Đoài; Sơn Nam trấn (xứ) tức xứ Nam; Kinh Bắc trấn (xứ) tức xứ Bắc. Còn miền núi phía Bắc và từ Thanh, Nghệ trở vào Nam thì đều là vùng ngoại vi đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Với cách phân chia như vậy, xứ Đông gần như nằm trọn trong lưu vực sông Thái Bình. Hệ thống sông Thái Bình bị chi phối mạnh bởi chế độ thủy triều nên đất đai ở xứ Đông không màu mỡ như ở xứ Nam. Nguồn sống chính của cư dân nơi đây chủ yếu dựa vào đánh bắt thủy hải sản kết hợp với sản xuất nông nghiệp. Thủ công nghiệp trong vùng cũng khá phát triển, đặc biệt tập trung quanh các khu vực kế cận thành phố Hải Dương, thành phố Hải Phòng với số lượng ngành nghề đa dạng, phong phú, như nghề làm vật dụng (chiếu, nón, lược, mũ, giầy dép), nề, mộc, chạm khắc, đan mây tre, chế biến lương thực thực phẩm, khắc ván in sách... Xứ Đông có vị chí chiến lược quan trọng. Từ Kiếp Bạc (thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) có 6 đường thủy bộ đi ra biển và tiến vào đất liền, kết nối với Thăng Long - Hà Nội. Cũng chính vì lý do đó nên hoạt động thương mại ở nơi đây diễn ra từ rất sớm. Buôn bán, trao đổi hàng hóa phát triển suốt một dải ven biển Hải Phòng và mở rộng ra khu vực lân cận, tạo thành những đầu mối giao thương không chỉ của thương nhân khắp mọi miền đất nước Việt Nam mà còn của khách buôn ngoại quốc đến từ Trung Quốc, Cao Ly (Triều Tiên), Ấn Độ... Văn hóa xứ Đông có sự hội tụ, hỗn dung giữa văn hóa nông nghiệp (đồng bằng) và văn hoá biển (vùng duyên hải, hải đảo). Quá trình đô thị hoá (nhất là từ thời Pháp thuộc với các trung tâm công nghiệp, khai mỏ...) làm phong phú, đa dạng hơn văn hóa nơi đây nhờ sự tiếp nhận những yếu tố mới ảnh hưởng từ bên ngoài. Cư dân xứ Đông khá phức tạp. Cộng đồng cư dân nơi đây là kết quả của nhiều đợt di cư trong lịch sử. Vào khoảng đầu thiên niên kỷ I, chính quyền đô hộ Đông Hán chuyển một bộ phận người dân từ miền trung du xuống ven biển làm muối và khai thác hải sản. Theo sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (dòng họ Vũ “tổ tiến sĩ” ở Mộ Trạch, Bình Giang, Hải Dương) thì Hải Đông là quê hương nguyên thủy của nhà Trần thuở hàn vi lưu lạc, sau mới dời về Tức Mặc - Thiên Trường (Nam Định). Tiếp đó, dân cư từ các vùng khác cũng đến khẩn hoang, lập làng. Cũng có trường hợp những người vượt biển từ phía bắc xuống, phía nam lên. Từ muôn nẻo, các nhóm cư dân kẻ trước người sau cùng tới mảnh đất này, cộng cư lâu dài, tạo thành một cộng đồng cư dân mới trong vùng.
2970 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Quảng là vùng đất vốn thuộc vương quốc Chămpa xưa. Sau nhiều biến cố lịch sử, vùng đất này đã trở thành một bộ phận của lãnh thổ Đại Việt. Buổi đầu thời Lê Sơ (thế kỷ XV), trên bản đồ quốc gia, vùng đất Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi được ghi là Nam Giới, được xem như một phên dậu của Đại Việt. Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), giữa Đại Việt và Chămpa xảy ra xung đột. Vua Lê Thánh Tông thân chinh và đánh thắng Chămpa, cắt đặt vùng đất từ phía nam đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông làm Thừa tuyên Quảng Nam, gồm có 3 phủ, 9 huyện. Cũng từ thời vua Lê Thánh Tông, tên gọi xứ Quảng bắt đầu xuất hiện trong dân gian bên cạnh xứ Thanh, xứ Nghệ... Sau thời kỳ chiến tranh Lê - Mạc và Trịnh - Nguyễn, vùng đất này nằm dưới quyền cai quản của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát phân chia lãnh thổ Đàng Trong thành 12 dinh. Về mặt hành chính, xứ Quảng khi đó trực thuộc dinh Quảng Nam. Tại xứ Quảng có cửa biển Hội An là cửa biển duy nhất lúc bấy giờ được phép buôn bán với nước ngoài. Năm 1806, vua Gia Long chia cả nước làm 23 đơn vị hành chính. Trong đó, đạo Quảng Nam hay dinh Quảng Nam được chia thành 3 trấn. Xứ Quảng hiện nay thuộc vào địa giới hành chính của doanh Quảng Nam và trấn Quảng Ngãi. Năm 1832, vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính quy mô lớn, đổi tất cả trấn và doanh thành tỉnh, đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát trông coi việc cai trị. Địa giới hành chính của tỉnh Quảng Nam (nay là Quảng Nam và Đà Nẵng) và tỉnh Quảng Ngãi lúc bấy giờ tương đương với xứ Quảng hiện nay. Dưới thời Pháp thuộc (1858-1945), sau khi Liên bang Đông Dương được thành lập (1887), chính quyền thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam, đổi tên là Tourane, trở thành một đơn vị hành chính độc lập, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Quốc gia Việt Nam (tức chính quyền Bảo Đại). Đến tháng 3 năm 1965, các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn. Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa quy định là thành phố trực thuộc Trung ương. Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa. Từ đó đến nay, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng là 3 đơn vị hành chính độc lập. Cũng như các tiểu vùng văn hóa khác, quá trình hình thành và phát triển của tiểu vùng văn hóa xứ Quảng là sự tích hợp của nhiều yếu tố tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa... Các yếu tố này mang đặc trưng riêng biệt, tạo cho mỗi vùng miền những bản sắc không pha lẫn trong tổng thể lịch sử - văn hóa Việt Nam. Những giá trị đặc trưng của văn hóa xứ Quảng đã góp phần làm giàu thêm nét đặc sắc, đa dạng trong văn hóa Việt Nam. Chính vì vậy, sứ mệnh lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa quý báu đó phải được xem là trọng trách không chỉ của những con người sinh sống trên mảnh đất này, mà còn là trách nhiệm chung của cả cộng đồng và xã hội Việt Nam nói chung.
2294 lượt xem
Tư tưởng phật giáo trong văn hóa Lào - Việt Nam: Một cơ sở kiến tạo tình đoàn kết
TS Đỗ Thu Hiền, TS Nguyễn Phương Liên

Nội dung Bộ sách giới thiệu những thông tin cơ bản về đất nước và con người Lào, về những đặc trưng của đất nước Triệu Voi thông qua các lĩnh vực lịch sử - quân sự, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội,... cùng song hành trong thế tương quan so sánh với những đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, bộ sách còn đi sâu phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và những triển vọng kết nối trên tất cả lĩnh vực. Qua đó giúp cho việc triển khai hiệu quả kế hoạch hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới và cũng là nhằm hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, đặc biệt là với đất nước Lào; nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào, đúng như mong muốn và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt - Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”

2601 lượt xem
VIETNAM INDIA Relations New Context And New Vision
PHD. Le Van Toan, ASSOC. PROF.
Vietnam - India relationship has had a firm foundation for ages, starting from the historical exchanges about culture, religion and trade. The relationship has been continuously improved and achieved new heights thanks to the creation and enhancing of the two great leaders President Ho Chi Minh and Prime Minister Jawaharlal Nehru and leaders of both nations through the generations. Prime Minister Jawaharlal Nehru was the first foreign state leader to visit Vietnam immediately after Dien Bien Phu Victory in 1954. In February 1958, President Ho Chi Minh paid a state visit to India. Since then, both countries have maintained regular exchanges of high level visits. For the last half of the century, although the situation in Vietnam, India, the region and the world has been fluctuating and complicating with interweaving of international relations Vietnam- India relationship has still been regarded as “Cloudless blue sky”. The term which was used by Prime Minister Pham Van Dong during 1980s still maintains its value until now and has always been used by the leaders of both countries through generations as a proverb to refer to the developing relation between the two peoples. On the basis of the foundation laid by the two leaders - two towering culturalists, the relationship between Vietnam and India has witnessed a strong growth over years. The two countries established the consular relation in 1956, ambassadorial relations on 7th January 1972, strategic partnership in July 2007 and comprehensive strategic partnership in September 2016. Along with excellent political relation, cooperation in economic and commerce, security and defense, cultural exchanges between the two countries, etc are bright colors in the beautiful picture of the relationship between Vietnam and India. 2017 is a particularly important year in diplomatic relations between Vietnam and India when the two countries celebrate the 45th anniversary of the establishment of diplomatic relations (07/01/1972 - 07/01/2017), and 10th anniversary of establishment of strategic partnership (7/2007 - 7/2017). The Information and Communications Publishing House coordinated with Center for Indian Studies under Ho Chi Minh National Academy of Politics and Vietnam-India Friendship Association for publishing a set of books on countries and people of India with eight following books. 1. India: Country - Society - Culture. 2. Indian Economy - The evolution to self -reliance. 3. Being Indian - The trust about why the 21st century will be India’s. 4. The Argumentative Indian. 5. Vietnam India Relations in Economic, Commerce and Energy. 6. Vietnam India Cultural Relations. 7. India’s Strategic Culture - The making of National security policy. 8. Vietnam India Relations - New context and new vision. The contents of these books will bring to readers good knowledge on history, culture, economy and people of India, highlighting the India’s strategic culture in building national security policy over historical periods and the scientific contribution of Vietnamese and Indian experts on Vietnam India relations in the area of culture and economics.
2597 lượt xem
Cẩm nang thủ tục hành chính trên môi trường số
TS. Phạm Ngọc Huyền

Cẩm nang thủ tục hành chính trên môi trường số là cuốn sách cung cấp hướng dẫn tổng quan và thực tiễn về việc thực hiện các thủ tục hành chính trong bối cảnh chuyển đổi số. Nội dung sách làm rõ quy trình, phương thức và các nền tảng số đang được áp dụng trong giải quyết thủ tục hành chính, hướng tới nguyên tắc công khai, minh bạch và thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp. Cuốn cẩm nang giúp người đọc hiểu rõ quyền, nghĩa vụ cũng như cách thức tra cứu, nộp hồ sơ, theo dõi và nhận kết quả trực tuyến. Đồng thời, sách phân tích những thay đổi trong tư duy quản lý nhà nước khi chuyển từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao kỹ năng số, hỗ trợ người dân và cán bộ thực thi hiệu quả các thủ tục hành chính trong giai đoạn hiện nay.

510 lượt xem