Văn hóa - Xã hội
Sóng căng đét - Ví khét lẹt
Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tần số Vô tuyến điện

"Sóng căng đét – Ví khét lẹt" là ấn phẩm truyền thông của Cục Tần số Vô tuyến điện, được biên soạn nhằm phổ biến kiến thức về tần số vô tuyến điện, nâng cao nhận thức về việc sử dụng phổ tần và thiết bị vô tuyến đúng quy định, đồng thời truyền tải các thông tin chuyên ngành qua lối thể hiện gần gũi, sinh động và dễ tiếp cận với đông đảo bạn đọc.

955 lượt xem
Chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia giai đoạn 1954-1970
TS Nguyễn Thành Văn
Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng nằm trên bán đảo Đông Dương, có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít và diễn ra liên tục từ lâu đời. Tuy vậy, quan hệ giữa hai nước cũng có những thăng trầm nhất định tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, chính sách xây dựng phát triển đất nước nói chung, chính sách đối ngoại nói riêng và đặc biệt là chính sách của mỗi nước dành cho nhau. Thực tế lịch sử cận hiện đại Việt Nam và Campuchia cho thấy mọi sự biến động chính trị - xã hội của nước này đều có ảnh hưởng nhất định đến nước kia và ngược lại. Sau khi giành được độc lập (1953), Campuchia thực hiện chính sách đối ngoại trung lập cho đến năm 1970 (Lon Nol lật đổ chế độ của Norodom Sihanouk). Chính sách đối ngoại trung lập không chỉ góp phần quan trọng tạo nên một trong những thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử Campuchia mà còn có tác động đến công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.. Cuốn sách Chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia giai đoạn 1953 - 1970 gồm 03 chương: Chương 1: Bối cảnh lựa chọn và thực hiện chính sách đối ngoại của Campuchia; Chương 2: Quá trình hình thành và triển khai chính sách đối ngoại của Campuchia; Chương 3: Đặc điểm và hệ quả của chính sách đối ngoại của Campuchia. Mục đích của cuốn sách trước hết là phân tích, lý giải tại sao Campuchia lựa chọn chính sách đối ngoại trung lập, những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách này. Hai là,làm rõ quá hình thành, nội dung, mục tiêu của chính sách đối ngoại cũng như việc hiện thực hóa chính sách này. Ba là, đánh giá về những đặc điểm, hệ quả của chính sách này đối với Campuchia và công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các nhà nghiên cứu, đồng nghiệp ở cả Việt Nam và Campuchia. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó. Mặc dù đã cố gắng nhưng trong quá trình biên soạn, tác giả khó có thể tránh được những sai sót vì vậy rất mong độc giả lượng thứ.
3168 lượt xem
Các bức thư hay nhất thế giới - Kỷ niệm 50 năm cuộc thi viết thư quốc tế UPU (1971 - 2021)
Liên minh Bưu chính Thế giới

Liên minh Bưu chính Thế giới (gọi tắt là UPU) khởi xướng và tổ chức Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần đầu tiên vào năm 1971 dành cho các em thanh thiếu niên từ 10 - 15 tuổi với mục đích nhằm phát triển khả năng viết văn của thanh thiếu niên, làm phong phú thêm sự tinh tế trong tư duy, góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa các dân tộc và giúp các em hiểu biết thêm về bưu chính và vai trò của ngành Bưu chính trong cuộc sống và phát triển kinh tế, xã hội.
Mỗi năm UPU chọn ra một chủ đề của Cuộc thi gắn với các hoạt động mang tính văn hóa, kinh tế xã hội nổi bật chung của Liên hợp quốc hoặc các vấn đề lớn mang tính toàn cầu và cấp thiết. Thông qua các chủ đề này, các em học sinh không chỉ có dịp để phát triển tư duy và khả năng sáng tạo mà còn là dịp bày tỏ quan điểm và ý kiến của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan tới chủ đề của cuộc thi. Nhiều em đã có những bức thư làm sửng sốt người đọc vì tư duy và tình cảm sâu sắc vượt trên lứa tuổi của mình, mang tính nhân văn sâu sắc.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU (1971 - 2021), Văn phòng Quốc tế UPU đã phát hành ấn phẩm tập hợp 53 bức thư đạt giải Nhất Quốc tế tại các Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU và bình chọn ra bức thư hay nhất trong số đó (Best of The Best). Bức thư đạt giải Nhất Quốc tế Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 7 (năm 1978) với chủ đề “Bác bưu tá, người bạn tốt của tôi - The postman, my best friend” đã được lựa chọn là bức thư hay nhất. Chủ nhân của bức thư đó là Mi-kyong Ryu, bé gái 11 tuổi đến từ Hàn Quốc vào năm 1978. Chủ đề và nội dung bức thư gắn tới hình ảnh thân quen về người bưu tá, gợi cho chúng ta nhớ tới hình ảnh các nhân viên Bưu điện Việt Nam - một trong những lực lượng tuyến đầu miệt mài chuyển phát thư, bưu kiện, hàng hoá tới tận tay người dân trong bối cảnh đại dịch Covid ảnh hưởng tới toàn xã hội. Để tạo cơ hội cho các Nhà trường và các em học sinh trên cả nước tiếp cận phiên bản bức thư hay nhất (Best of The Best) của UPU, Bộ Thông tin và Truyền thông đã liên hệ được bản quyền, và giao Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tổ chức biên dịch, biên tập, xuất bản và phát hành cuốn sách “Các bức thư hay nhất thế giới” sang tiếng Việt. Cuốn sách hữu ích này không chỉ giới thiệu nguyên tác 53 bức thư như những viên ngọc sáng lấp lánh sắc màu mà còn đem đến cho người đọc những ý tưởng, cảm xúc chân thật, các chi tiết ấn tượng nhất của mỗi bức thư. Đọc những bức thư sinh động và lay động lòng người trong ấn phẩm nêu trên cũng là lúc chúng ta lắng lại để suy ngẫm, cảm nhận và liên tưởng về cuộc sống xoay quanh mỗi chủ đề của cuộc thi. Hy vọng, các em học sinh sẽ tìm thấy trong cuốn sách của mình những gợi mở, những liên hệ thú vị để hình thành cách thể hiện riêng, ghi dấu ấn riêng và sẽ có những bức thư hay khi tham gia những cuộc thi tới.

7304 lượt xem
Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc (bản rút gọn)
TS. Nguyễn Mạnh Cường

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, cùng mục tiêu góp phần lan tỏa tri thức, chia sẻ kinh nghiệm và định hướng phát triển cho lĩnh vực này, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Mạnh Cường biên soạn và xuất bản cuốn sách Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Cuốn sách là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, kết hợp giữa cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động từ các địa phương, phản ánh nỗ lực chung trong việc tìm kiếm mô hình phát triển kinh tế cộng đồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa của vùng miền.

496 lượt xem
ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)
Trần Xuân Hiệp, Trương Công Vĩnh Khanh

Sau những thể nghiệm đầu tiên về việc thành lập một tổ chức khu vực với sự tham gia của tất cả các quốc gia Đông Nam Á từ những năm 1960, cuối cùng một tổ chức chính thức đã ra đời vào ngày 08/8/1967, mang tên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trải qua những thăng trầm lịch sử, sự tồn tại và phát triển của ASEAN là minh chứng cho tình đoàn kết chặt chẽ của các nước Đông Nam Á. Từ khi thành lập với ASEAN-6, từng bước kết nạp thêm các thành viên mới để trở thành ASEAN-10, và đến năm 2015, Cộng đồng ASEAN (AC) đã được xây dựng, củng cố trên ba trụ cột: Cộng đồng An ninh - Chính trị (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC), Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC).
Sau 55 năm xây dựng và trưởng thành (1967 - 2022), ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trước hết, ASEAN đã tạo cho mình một vị thế mới, với vai trò là trung tâm trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, ủng hộ như EAS, ARF, ASEAN+1, ASEAN+3, RCEP, ADMM+ nhìn chung đều được các cường quốc và đối tác trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương đón nhận. Ở cấp độ quốc gia, một số thành viên của ASEAN đã và đang tận dụng tốt sự cạnh tranh chiến lược, vị thế địa chính trị và các lợi thế riêng khác của mình để đóng vai trò lớn hơn trong xây dựng cấu trúc hợp tác khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, ASEAN đã gặt hái được những thành công ấn tượng về kinh tế, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba ở châu Á, sau Trung Quốc và Nhật Bản. Hơn nữa, tiến trình hội nhập của ASEAN đánh dấu một cột mốc, giai đoạn quan trọng mới với việc tuyên bố thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, mở ra một trang mới trong tiến trình liên kết kinh tế gắn chặt hơn. Về văn hóa - xã hội, ASEAN cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, thu hút sự tham gia của người dân và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân: thu hút sự tham gia của các nhóm, giới và các tiến trình của ASEAN; tăng quyền cho người dân và tăng cường các thể chế đảm bảo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được rất đáng khâm phục, ASEAN hiện nay vẫn đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức. Khu vực Đông Nam Á được xác định là trung tâm của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và cũng là điểm mấu chốt của sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, Đông Nam Á trở thành “đấu trường” can dự, lôi kéo, tập hợp lực lượng nhằm kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau. Ngoài ra, xuất phát từ lợi ích chiến lược, nội bộ ASEAN cũng có những vấn đề gây cản trở cho sự thống nhất cần có của một cộng đồng, chưa thật sự đoàn kết và đôi khi là những bất đồng giữa các nước thành viên về các nội dung liên quan. Điều này khiến cho sức mạnh chung của khu vực bị ảnh hưởng, có phần giảm sút khi đối diện với các vấn đề quốc tế cần tiếng nói của tập thể.
Với tầm quan trọng về vị trí địa chiến lược, địa kinh tế, địa văn hóa, ASEAN đã, đang và sẽ là nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng của khu vực Đông Nam Á cũng như Ấn Độ - Thái Bình Dương, đồng thời là nhân tố trung tâm của nhiều định chế hợp tác trong khu vực. Cuốn sách “Cộng đồng ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)” ra đời trong thời điểm ASEAN hướng đến kỷ niệm 55 năm ngày thành lập sẽ tạo thêm nhiều động lực cho chúng ta cùng chung tay xây dựng hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN ngày một phát triển. Dù biết rằng các tác giả đã hết sức cố gắng, nhưng để nghiên cứu về ASEAN là việc không hề dễ dàng, vì thế, chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót, bất cập. Hy vọng rằng, cuốn sách này sẽ góp phần cung cấp thông tin và kiến thức cho bạn đọc về quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN trong giai đoạn hiện nay.

9502 lượt xem
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng công viên địa chất Lạng Sơn
PGS. TS. Vương Toàn, Nguyễn Phúc Hà

Lạng Sơn, vùng phên giậu phía đông bắc của Tổ quốc, sở hữu cảnh quan hùng vĩ và nền văn hóa đa dạng, là nơi hình thành Công viên địa chất Lạng Sơn nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản đặc sắc của tỉnh. Từ hội thảo khoa học về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể năm 2022, nhóm tác giả đã tập hợp các nghiên cứu để biên soạn cuốn “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng Công viên địa chất Lạng Sơn”. Cuốn sách góp phần khẳng định giá trị của vùng di sản này trong chiến lược phát triển bền vững theo các định hướng của Chính phủ và tinh thần Tuyên ngôn UNESCO về đa dạng văn hóa.

1866 lượt xem
Biến đổi sinh kế của người Mường ở vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình (mô hình tái định cư) (bản rút gọn)
TS. Trịnh Thị Hạnh

Cuốn sách "Biến đổi sinh kế của người Mường ở vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình (mô hình tái định cư) (bản rút gọn)" được bố cục làm 5 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề tái định cư

Chương 2: Quá trình tái định cư Thủy điện Hòa Bình

Chương 3: Biến đổi sinh kế trong mô hình di vén: Xóm Ké

Chương 4: Biến đổi sinh kế trong mô hình lập làng mới: Xóm Lương Phong

Chương 5: Một số hoạt động hỗ trợ phát triển sau tái định cư

Tái định cư công trình thủy điện Hòa Bình đã diễn ra cách đây gần nửa thế kỷ, tạo ra một khoảng thời gian đủ dài để nghiên cứu này, với dữ liệu được thu thập và phân tích trong bối cảnh thực địa những khoảng thời gian trước năm 2017, mang tính tổng kết sâu sắc. Nhờ những thành công, hạn chế trong việc thi hành chính sách tái định cư bắt buộc đối với người Mường ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ), mà bài toán sinh kế cho người dân vùng tái định cư bắt buộc phải được coi trọng và tính toán hơn nữa.

Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sẽ góp phần cải thiện việc xây dựng và thực hành chính sách tái định cư, chính sách phát triển vùng miền núi ở Việt Nam.

908 lượt xem
Truy tìm thủ phạm giấu mặt
Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tần số Vô tuyến điện

Truyện tranh Truy tìm thủ phạm giấu mặt đặt kiến thức vào bối cảnh cuộc sống, mong muốn gửi đến người đọc một thông điệp gần gũi nhưng rất thiết thực: trong cuộc sống hiện đại, nhiều thiết bị quen thuộc sử dụng sóng vô tuyến như smartkey, điều khiển từ xa, chuông báo, adapter... có thể vô tình gây ảnh hưởng lẫn nhau nếu xảy ra lỗi hoặc nhiễu tín hiệu.

920 lượt xem
Phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên trung học cơ sở
Bùi Thị Thanh Diệu, Hoàng Thế Hải, Lê Quang Sơn, Hồ Thị Trúc Quỳnh, Phạm Tiến Sỹ, Ngô Thế Lâm

Nội dung chính của cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên; Chương 2: Thực trạng năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh của giáo viên trung học cơ sở; Chương 3: Chương trình phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên trung học cơ sở; Chương 4: Kết quả thực nghiệm chương trình phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên trung học cơ sở. Những thông tin sẽ hữu ích cho giáo viên trong việc phát hiện sớm các rối nhiễu tâm lý ở học sinh, góp phần giúp cho quá trình hỗ trợ học sinh được hiệu quả. 

1274 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Huế
Hà Nguyễn

Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Huế của tác giả Hà Nguyễn là công trình giới thiệu toàn diện về một trong những tiểu vùng văn hóa đặc sắc và tiêu biểu của Việt Nam. Cuốn sách khái quát quá trình hình thành và phát triển của văn hóa xứ Huế, làm rõ những yếu tố tạo nên bản sắc riêng của vùng đất cố đô, nơi hội tụ và kết tinh nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nội dung sách đề cập đến con người xứ Huế, đời sống vật chất, kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và hệ thống di sản văn hóa phong phú của vùng đất này. Đặc biệt, tác phẩm nhấn mạnh nét văn hóa cung đình và tính cách thanh lịch, tinh tế của Huế, những giá trị vẫn được bảo tồn và phát huy trong đời sống đương đại. Với cách trình bày khoa học, dễ hiểu cùng nhiều tư liệu minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về vị trí, vai trò và những đóng góp của xứ Huế trong không gian văn hóa Việt Nam.

328 lượt xem
Tài sản số - Cơ hội, thách thức và tương lai rộng mở
Lê Ngọc Anh, Phạm Xuân Thỏa, Lê Anh Dũng

“Tài Sản Số – Cơ Hội, Thách Thức Và Tương Lai Rộng Mở” là cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ về tài sản số, từ tiền mã hóa, blockchain đến các xu hướng công nghệ đang định hình nền kinh tế số. Sách phân tích những cơ hội đầu tư, kinh doanh và đổi mới mà tài sản số mang lại, đồng thời chỉ ra các rủi ro, thách thức về pháp lý, bảo mật và biến động thị trường. Với góc nhìn cân bằng và thực tiễn, tác phẩm giúp người đọc chuẩn bị kiến thức để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của kỷ nguyên số. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến tương lai của tài chính và công nghệ.

440 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 3 - Kiên trì vượt khó
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Người có thành công bắt đầu bằng việc kiên trì vượt qua những khó khăn, thử thách.

4082 lượt xem
100 điều nên biết về phong tục cưới hỏi các dân tộc Việt Nam
Ha Nguyen

Hôn nhân không chỉ là bước chuyển trọng đại trong chu kỳ vòng đời người mà còn là một sự kiện quan trọng đối với mỗi gia đình, dòng họ, làng xóm... Ngoài các quy định của pháp luật, hôn nhân cần được xác lập thông qua các phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi của các dân tộc Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời khác và luôn biến đổi theo thời gian. Bởi vậy, phong tục cưới hỏi không chỉ là một trong những nghi lễ quan trọng của chu kỳ vòng đời người, mà còn phản ánh rõ nét
đặc điểm văn hóa tộc người với những dấu ấn truyền thống và hiện đại. Từ xưa đến nay, các dân tộc Việt Nam đều rất chú trọng phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi vừa là một sinh hoạt văn hóa tâm linh, vừa là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phong tục cưới hỏi chứa đựng các giá trị văn hóa truyền thống đã được chắt lọc, kết tinh qua nhiều thế hệ, như lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa nghệ thuật... và có tác động sâu sắc đến việc hình thành cốt cách, tình cảm, diện mạo văn hóa của cá nhân và cộng đồng. Phong tục cưới hỏi là một phần không thể thiếu đối với mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng, một thành tố quan trọng góp phần cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

6797 lượt xem
Con lật đật
Võ Văn Minh

Cuốn sách là những chia sẻ nhẹ nhàng và sâu sắc về giai đoạn tuổi học trò – khoảng thời gian đầy biến động trong tâm sinh lý, cảm xúc và suy nghĩ. Tác giả thấu hiểu những áp lực, bối rối, hoang mang mà người trẻ phải đối diện trong học tập, các mối quan hệ và định hướng tương lai. Với hình ảnh “con Lật đật” – biểu tượng của sự kiên cường và cân bằng – cuốn sách gửi gắm thông điệp tích cực, truyền cảm hứng sống, giúp người đọc vượt qua khó khăn, giữ vững niềm tin và cảm nhận hạnh phúc từ những điều giản dị trong cuộc sống.

1449 lượt xem
Kỷ yếu đoàn công tác số 15 năm 2024
Ban Tuyên giáo Trung ương

Năm 2024, Đoàn công tác số 15 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong quá trình công tác, học tập và rèn luyện. Với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và sáng tạo, các thành viên trong đoàn không chỉ phát huy cao độ năng lực cá nhân mà còn góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, gắn bó. Những chuyến đi, những buổi làm việc, những kỷ niệm đáng nhớ trong suốt hành trình là minh chứng sống động cho tinh thần cống hiến, khát vọng vươn lên và tình đồng đội bền chặt. Kỷ yếu này là nơi lưu giữ lại những dấu mốc ý nghĩa, để mỗi thành viên khi nhìn lại đều cảm nhận được niềm tự hào và động lực tiếp tục phấn đấu trong chặng đường sắp tới.

618 lượt xem
Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số
PGS.TS Trần Thị Việt Trung

Cuốn sách Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số dày dặn (hơn 400 trang), bao gồm 2 phần: - Phần I: Nghiên cứu về văn học các DTTS dưới góc độ thể loại; - Phần II: Phê bình tác giả, tác phẩm văn học DTTS. Đây thực sự là một cuốn sách vừa công phu, có tính lý luận, tính thực tiễn, tính khoa học lại vừa có chất tài hoa, nghệ sĩ của một nhà thơ làm lý luận phê bình văn học. Điểm nhấn của cuốn sách chính là phần tác giả viết về tình hình và đặc điểm của mảng nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS Việt Nam (Chương 3 - Phần I). Đây có lẽ là phần viết có tính mới, tính khoa học rõ rệt nhất và cũng là phần đóng góp mới, có giá trị của nhà nghiên cứu, phê bình Trần Thị Việt Trung - trong việc bổ sung, hoàn thiện bức tranh chung của đời sống lý luận phê bình văn học Việt Nam sau 1945. Bởi trong các công trình nghiên cứu về lý luận phê bình văn học Việt Nam nói chung hiện nay - hầu như mảng lý luận phê bình văn học DTTS còn rất ít được nhắc tới; hoặc có được nhắc tới (trong một số bài báo, bài nghiên cứu lẻ) thì cũng mới chỉ ở dạng điểm qua, thiếu tính hệ thống và chưa có cái nhìn toàn diện. Phần II của cuốn sách (phê bình tác giả, tác phẩm) với lối viết phê bình, lối dựng chân dung đầy sắc sảo, tài hoa đã thể hiện khá rõ chất “nữ tính” trong từng trang viết của tác giả. Dồn bao tình cảm, trí tuệ và sự đam mê của mình vào việc nghiên cứu văn học các DTTS - PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã mang đến cho bạn đọc cả nước nói chung, đồng bào các DTTS nói riêng những tác phẩm, những công trình nghiên cứu đầy công phu và tâm huyết của mình.

2753 lượt xem