Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Ngọc Lặc là huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy, Bá Thước; phía Nam giáp huyện Thọ Xuân, Thường Xuân; phía Tây giáp huyện Lang Chánh; phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Yên Định.
Ngọc Lặc từ xa xưa đã giữ một vị trí địa lý khá đặc biệt. Đối với nội tỉnh Thanh Hóa, Ngọc Lặc là vùng đất cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa vùng miền núi với các huyện đồng bằng của tỉnh. Đối với bên ngoài tỉnh, Ngọc Lặc có tính chất mở ra với các địa phương khác trong nước. Vị trí địa lý của Ngọc Lặc ngày càng phát huy giá trị của một vùng đất mang tính cởi mở tạo nên thế và lực cho huyện trong thời kỳ hợp tác và phát triển.
Ngọc Lặc có diện tích tự nhiên 49.092,4 ha; có 21 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm Thị trấn Ngọc Lặc (huyện lỵ) và 20 xã: Cao Ngọc, Cao Thịnh, Đồng Thịnh, Kiên Thọ, Lam Sơn, Lộc Thịnh, Minh Sơn, Minh Tiến, Mỹ Tân, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Trung, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Quang Trung, Thạch Lập, Thúy Sơn, Vân Am.
Ngọc Lặc là nơi có một lịch sử cư trú lâu đời của các dân tộc: Mường, Kinh (Việt), Dao, Thái. Tính đến ngày 31/12/2023, dân số của Ngọc Lặc là 35.137 hộ. Trong đó, người Mường có 25.295 hộ, chiếm hơn 70% dân số toàn huyện. Người Kinh có 9.209 hộ, chiếm 28% dân số toàn huyện. Người Dao, người Thái và các dân tộc khác chiếm khoảng gần 2% dân số toàn huyện.
Ở Ngọc Lặc, người Mường có mặt khắp nơi trong huyện, đông nhất là ở các xã: Thạch Lập, Nguyệt Ấn, Vân Am, Thúy Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Mỹ Tân, Cao Ngọc, Quang Trung, Đồng Thịnh, Lộc Thịnh, Ngọc Trung, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Minh Tiến, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Cao Thịnh và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Kinh có số dân đông ở các xã: Lam Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Ngọc Liên, Cao Thịnh, Minh Tiến và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Dao tập trung tại làng Tân Thành thuộc xã Thạch Lập, làng Hạ Sơn thuộc thị trấn Ngọc Lặc và làng Phùng Sơn thuộc xã Phùng Giáo. Người Thái cư trú tại xã Phùng Minh, Phúc Thịnh.
Các dân tộc ở Ngọc Lặc cư trú và sinh sống với nhau hòa hợp. Người Mường có mặt trên đất Ngọc Lặc từ rất lâu đời. Huyền thoại về vùng đất cho biết các Mường như Mường Rặc (nay thuộc xã Quang Trung, Ngọc Liên, và một phần xã Ngọc Sơn), Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Chẹ (nay thuộc xã Cao Ngọc, Mỹ Tân); Mường Lập, Mường Yến (nay thuộc xã Thạch Lập); Mường Tạ (nay thuộc xã Thúy Sơn và một phần của xã Thạch Lập); Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Ngòn (nay thuộc xã Ngọc Khê); Mường Ứn; Mường Bằng (nay thuộc xã Kiên Thọ, Nguyệt Ấn); Mường Um (nay thuộc xã Vân Am) là các Mường cổ trong vùng. Từ đó, đã hình thành nên những lớp di sản văn hóa dân gian Mường phong phú, có nét sắc thái riêng, biểu hiện rõ nét trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục, lễ hội và nguồn tri thức dân gian, kiến tạo nên bản sắc vùng đất Ngọc Lặc với nền tảng văn hóa Mường sâu đậm. Và nét đặc trưng dễ nhận thấy nhất là không gian sinh sống của người Mường với kiến trúc ngôi nhà sàn truyền thống. Trên địa bàn huyện hiện có gần một nghìn ngôi nhà sàn, trong đó, tập trung nhiều nhất là làng Lập Thắng, xã Thạch Lập. Lập Thắng là làng văn hóa du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Mường.
Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, vùng đất Ngọc Lặc có địa thế chiến lược trọng yếu, là căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược. Vì thế Ngọc Lặc là vùng đất có mật độ cao về các di tích lịch sử, văn hóa: Đền thờ Trung túc vương Lê Lai, Đền Lai, Đền Lê Lâm, Đền Mỹ Lâm, Đền Cao, Đền Chẹ, Đền Cọn, Đền Riếng, Đền Bà Chúa Chầm, Thiền tự Trúc Lâm - Bàn Bù. Các di tích lịch sử, văn hóa này đều gắn với các lễ hội truyền thống có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng các dân tộc ở Ngọc Lặc và các vùng phụ cận.
Trên cơ sở tính đặc sắc của tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa, Ngọc Lặc có đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch: Du lịch cộng đồng, Du lịch sinh thái, Du lịch văn hóa, Du lịch tâm linh, Du lịch nghỉ dưỡng, Du lịch nông thôn, đưa du lịch trở thành một ngành, một thành phần kinh tế quan trọng của địa phương. Du lịch là ngành định hướng tài nguyên rất rõ nét, vì vậy, việc biên soạn sách Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc có ý nghĩa quan trọng, nhận diện các giá trị văn hóa truyền thống và giá trị tự nhiên có thể khai thác phát triển thành sản phẩm du lịch, đồng thời quảng bá, giới thiệu về tài nguyên du lịch Ngọc Lặc, nhằm đưa các di tích lịch sử, văn hóa trở thành các điểm đến, cùng các giá trị văn hóa đặc sắc trở thành các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn đối với du khách khi đến Ngọc Lặc.
“Tài Sản Số – Cơ Hội, Thách Thức Và Tương Lai Rộng Mở” là cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ về tài sản số, từ tiền mã hóa, blockchain đến các xu hướng công nghệ đang định hình nền kinh tế số. Sách phân tích những cơ hội đầu tư, kinh doanh và đổi mới mà tài sản số mang lại, đồng thời chỉ ra các rủi ro, thách thức về pháp lý, bảo mật và biến động thị trường. Với góc nhìn cân bằng và thực tiễn, tác phẩm giúp người đọc chuẩn bị kiến thức để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của kỷ nguyên số. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến tương lai của tài chính và công nghệ.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Cuốn sách thuộc bộ sách Không gian văn hóa Việt Nam, được biên soạn theo hướng khoa học thường thức nhằm giới thiệu những nét đặc trưng về lịch sử và văn hóa của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định. Nội dung sách tập trung trình bày một cách hệ thống các yếu tố hình thành, quá trình phát triển và những giá trị văn hóa tiêu biểu của vùng đất Sài Gòn – Gia Định trong tổng thể văn hóa Việt Nam.
Tác giả sử dụng lối viết mang tính “văn hóa sử”, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách diễn đạt gần gũi, dễ hiểu. Các nội dung được sắp xếp theo từng thành tố văn hóa đặc trưng của vùng đất, từ điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành, con người, phong tục tập quán đến đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Sách cũng được minh họa bằng hình ảnh nhằm giúp người đọc tiếp cận kiến thức trực quan hơn.
Thông qua việc giới thiệu những đặc điểm nổi bật của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định, cuốn sách góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa của vùng đất Nam Bộ nói chung và Sài Gòn – Gia Định nói riêng, đồng thời quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam.
Tây Nguyên là vùng đất của các cao nguyên miền tây Trung Bộ, nằm ở sau dãy núi Trường Sơn Nam, còn gọi là Tây Trường Sơn. Các cao nguyên ở đây có độ cao từ 1.200m, xuống đến 500m. Từ bắc qua nam có các cao nguyên nổi tiếng như:
Ở đầu bắc có cao nguyên Kon Plông nằm giữa hai dãy núi An Khê về phía đông và Ngọc Krinh về phía tây. Tiếp sau là cao nguyên Kon Hà Nừng rồi đến cao nguyên Pleiku rộng lớn. Tại miền Trung Tây Nguyên có cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên M’đrăk về phía đông; cao nguyên Đăk Nông về phía tây. Xuống nam Tây Nguyên có các cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên), cao nguyên Đran (Đơn Dương) và cao nguyên Blao (Bảo Lộc). Ranh giới phía nam các tỉnh Đăk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) và Lâm Đồng là vùng đất Nam bộ với đồng bằng sông Cửu Long và miền đất cao ở phía đông.
Ngoài cư dân Việt (Kinh), trên toàn khu vực nói trên là địa bàn sinh sống chủ yếu của 15 tộc người, trong đó 11 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, chiếm quá nửa số lượng tộc người nhóm Môn - Khmer trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó là 3 trong số 5 tộc người nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesian thuộc ngữ hệ Nam Đảo; và chỉ có duy nhất một tộc người Hoa được giới thiệu ở tập hợp này.
Về tộc người Hoa thì tổ tiên họ lần hồi có mặt trên vùng núi Bắc Bộ từ thời Bắc thuộc. Còn tại Nam Bộ, họ mới di cư tới từ năm 1679 vào đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (tức Chúa Hiền). Với những cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer thì bán đảo Đông Dương đã là nơi sinh tụ của tổ tiên họ từ nhiều thiên niên kỷ trước Công nguyên, khi mà những tộc người có nguồn gốc Nam Đảo còn chưa có mặt trên đồng bằng ven biển miền Trung và các cao nguyên miền Tây Trung Bộ như ngày nay.
Cuốn sách này giới thiệu khái quát những nét chính về 15 cộng đồng tộc người sinh sống ở khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Đặc biệt nhấn mạnh về văn hóa truyền thống ở 11 tộc người Môn - Khmer với nhiều thang bậc phát triển từ thấp đến cao, và lưu giữ được nhiều thành tố văn hóa từ rất xa xưa, soi tỏ không ít những dấu ấn của văn hóa truyền thống hiện tồn. Trên đất nước Việt Nam, cộng đồng ngôn ngữ Môn - Khmer có 21 tộc người. Họ phân bố dân cư ở 3 khu vực với những ảnh hưởng khác nhau từ các địa bàn cư trú. Khu vực Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ có quá nửa số lượng tộc người. Văn hóa cội nguồn còn lưu giữ được dưới nhiều dạng tồn tại khác nhau, ít chịu ảnh hưởng văn hóa ngoại tộc.
Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, sơ suất, chúng tôi rất mong bạn đọc lượng thứ và xin nhận được những góp ý chân thành.
Cuốn sách "Những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay qua tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia)" góp phần nghiên cứu sâu sắc và nâng cao nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời lan tỏa những giá trị của cuốn sách "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng".
“Học, đọc sách và sáng tạo (Hay tư tưởng về phát triển con người)” là cuốn sách đề cao vai trò của học tập, đọc sách và sáng tạo trong quá trình hoàn thiện và phát triển con người. Tác phẩm khẳng định đọc sách là con đường hiệu quả để tiếp thu tri thức, mở rộng hiểu biết và rèn luyện tư duy. Không chỉ dừng lại ở việc học hỏi, cuốn sách còn nhấn mạnh tầm quan trọng của sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Với những luận điểm sâu sắc và giàu tính nhân văn, tác phẩm truyền cảm hứng cho mỗi người xây dựng thói quen học tập suốt đời. Đây là cuốn sách hữu ích dành cho những ai mong muốn phát triển bản thân và đóng góp tích cực cho xã hội.
Liên minh Bưu chính Thế giới (gọi tắt là UPU) khởi xướng và tổ chức Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần đầu tiên vào năm 1971 dành cho các em thanh thiếu niên từ 10 - 15 tuổi với mục đích nhằm phát triển khả năng viết văn của thanh thiếu niên, làm phong phú thêm sự tinh tế trong tư duy, góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa các dân tộc và giúp các em hiểu biết thêm về bưu chính và vai trò của ngành Bưu chính trong cuộc sống và phát triển kinh tế, xã hội.
Mỗi năm UPU chọn ra một chủ đề của Cuộc thi gắn với các hoạt động mang tính văn hóa, kinh tế xã hội nổi bật chung của Liên hợp quốc hoặc các vấn đề lớn mang tính toàn cầu và cấp thiết. Thông qua các chủ đề này, các em học sinh không chỉ có dịp để phát triển tư duy và khả năng sáng tạo mà còn là dịp bày tỏ quan điểm và ý kiến của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan tới chủ đề của cuộc thi. Nhiều em đã có những bức thư làm sửng sốt người đọc vì tư duy và tình cảm sâu sắc vượt trên lứa tuổi của mình, mang tính nhân văn sâu sắc.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU (1971 - 2021), Văn phòng Quốc tế UPU đã phát hành ấn phẩm tập hợp 53 bức thư đạt giải Nhất Quốc tế tại các Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU và bình chọn ra bức thư hay nhất trong số đó (Best of The Best). Bức thư đạt giải Nhất Quốc tế Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 7 (năm 1978) với chủ đề “Bác bưu tá, người bạn tốt của tôi - The postman, my best friend” đã được lựa chọn là bức thư hay nhất. Chủ nhân của bức thư đó là Mi-kyong Ryu, bé gái 11 tuổi đến từ Hàn Quốc vào năm 1978. Chủ đề và nội dung bức thư gắn tới hình ảnh thân quen về người bưu tá, gợi cho chúng ta nhớ tới hình ảnh các nhân viên Bưu điện Việt Nam - một trong những lực lượng tuyến đầu miệt mài chuyển phát thư, bưu kiện, hàng hoá tới tận tay người dân trong bối cảnh đại dịch Covid ảnh hưởng tới toàn xã hội. Để tạo cơ hội cho các Nhà trường và các em học sinh trên cả nước tiếp cận phiên bản bức thư hay nhất (Best of The Best) của UPU, Bộ Thông tin và Truyền thông đã liên hệ được bản quyền, và giao Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tổ chức biên dịch, biên tập, xuất bản và phát hành cuốn sách “Các bức thư hay nhất thế giới” sang tiếng Việt. Cuốn sách hữu ích này không chỉ giới thiệu nguyên tác 53 bức thư như những viên ngọc sáng lấp lánh sắc màu mà còn đem đến cho người đọc những ý tưởng, cảm xúc chân thật, các chi tiết ấn tượng nhất của mỗi bức thư. Đọc những bức thư sinh động và lay động lòng người trong ấn phẩm nêu trên cũng là lúc chúng ta lắng lại để suy ngẫm, cảm nhận và liên tưởng về cuộc sống xoay quanh mỗi chủ đề của cuộc thi. Hy vọng, các em học sinh sẽ tìm thấy trong cuốn sách của mình những gợi mở, những liên hệ thú vị để hình thành cách thể hiện riêng, ghi dấu ấn riêng và sẽ có những bức thư hay khi tham gia những cuộc thi tới.
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã là cuốn sách tập trung giới thiệu vai trò và lợi ích của công nghệ số trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp và kinh tế hộ. Nội dung sách trình bày các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong tổ chức sản xuất, quản lý quy trình, truy xuất nguồn gốc, bảo quản và chế biến sản phẩm. Đồng thời, sách phân tích cách thức tận dụng nền tảng số, thương mại điện tử và mạng xã hội để mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm. Cuốn sách cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong quá trình chuyển đổi số ở hộ gia đình và hợp tác xã hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các mô hình, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực quản lý, tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho khu vực kinh tế nông thôn.
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Huế của tác giả Hà Nguyễn là công trình giới thiệu toàn diện về một trong những tiểu vùng văn hóa đặc sắc và tiêu biểu của Việt Nam. Cuốn sách khái quát quá trình hình thành và phát triển của văn hóa xứ Huế, làm rõ những yếu tố tạo nên bản sắc riêng của vùng đất cố đô, nơi hội tụ và kết tinh nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nội dung sách đề cập đến con người xứ Huế, đời sống vật chất, kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và hệ thống di sản văn hóa phong phú của vùng đất này. Đặc biệt, tác phẩm nhấn mạnh nét văn hóa cung đình và tính cách thanh lịch, tinh tế của Huế, những giá trị vẫn được bảo tồn và phát huy trong đời sống đương đại. Với cách trình bày khoa học, dễ hiểu cùng nhiều tư liệu minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về vị trí, vai trò và những đóng góp của xứ Huế trong không gian văn hóa Việt Nam.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, cùng mục tiêu góp phần lan tỏa tri thức, chia sẻ kinh nghiệm và định hướng phát triển cho lĩnh vực này, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Mạnh Cường biên soạn và xuất bản cuốn sách Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Cuốn sách là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, kết hợp giữa cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động từ các địa phương, phản ánh nỗ lực chung trong việc tìm kiếm mô hình phát triển kinh tế cộng đồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa của vùng miền.
Nội dung cuốn sách "Xây dựng hợptác xã phát triển theo chuỗi giá trị dược liệu (Khu vực miền núi phía Bắc) (bản rút gọn)" góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dược liệu ở Việt Nam; phản ánh thực trạng hoạt động của các hợp tác xã dược liệu; phân tích vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững lĩnh vực này.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sách sẽ góp phần lan tỏa nhận thức về vai trò của hợp tác xã trong phát triển kinh tế dược liệu, góp phần thực hiện thành công các chương trình mục tiêu quốc gia, chiến lược phát triển dược liệu Việt Nam và nâng cao đời sống của người dân miền núi phía Bắc.
Trân trọng giới thiệu.