Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách “50 năm Viện Hóa học môi trường quân sự - Hành trình và khát vọng” khái quát chặng đường xây dựng, phát triển và những thành tựu nổi bật của Viện trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, góp phần nâng cao năng lực bảo vệ môi trường và phục vụ nhiệm vụ quốc phòng
Vùng núi Bắc Bộ nhìn dưới lăng kính địa lý nhân văn, được chia làm hai miền Đông và Tây, dòng sông Cái - sông Hồng là ranh giới tự nhiên. Theo đó, miền Đông Bắc bao gồm 6 tỉnh, gọi tắt là Cao - Bắc (nay là tỉnh Thái Nguyên) - Lạng - Thái - Tuyên - Hà (nay là tỉnh Tuyên Quang). Miền Tây Bắc hiện nay cũng gồm có 6 tỉnh là: Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai), Sơn La và Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ).
Nói đến vùng núi Bắc Bộ cũng không thể không lưu ý đến miền trung du liền kề ngay phía nam địa bàn này. Đó là vùng đệm, nối liền giữa miền núi và khu vực đồng bằng sông Hồng. Trên bình diện cả vùng núi Bắc Bộ có đến 26 tộc người sống cận cư và xen cư với nhau. Vì thế, lãnh thổ tộc người khá mờ nhạt, mang tính lịch sử và mang tính tương đối như hiện nay. Mỗi miền Đông hoặc Tây đều có những đặc trưng về tự nhiên và văn hóa - xã hội riêng. Dòng sông Lô phát nguyên từ Bàn Long Giang ở Trung Hoa chảy qua Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang), có chi nhánh lớn là sông Gâm chảy qua Tuyên Quang. Tại Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng. Sông Hồng chảy qua Lào Cai và Phú Thọ rồi đổ dòng vào Hà Nội. Sông Đà từ Lai Châu, Sơn La đổ dòng vào hồ Sông Đà ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ).
Cả vùng núi và trung du Bắc Bộ từ lâu đã trở thành cái nôi ngưng tụ các luồng di dân từ miền Nam Trung Quốc xuống và từ miền tây sang. Tộc người với số đông vượt trội và là cư dân chủ thể tại miền Đông Bắc có các tộc Tày, Nùng. Họ tiếp thu sâu đậm văn hóa miền Nam Trung Quốc; đời sống tâm linh theo Nho - Phật - Đạo; đẩy mạnh nông nghiệp trồng lúa nước, phát triển thủ công nghiệp, mở chợ phiên ở từng vùng để mua bán định kỳ.
Tộc người có số đông vượt trội và là cư dân chủ thể tại miền Tây Bắc là tộc người Thái có ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Nhưng ở phía nam sông Đà là tộc người Mường. Họ đều theo tín ngưỡng cổ truyền với tâm thức vạn vật hữu linh, thờ cúng đa thần nguyên thủy.
Về thành phần tộc người ở mỗi miền Đông và Tây nói trên, trong số 26 tộc người cư trú sớm hoặc muộn tại vùng núi Bắc Bộ, có tới 9 tộc người phân cư ở cả hai miền Đông và Tây. Cùng với người Tày, có số lượng dân cư đáng kể ở cả hai miền là người Mông, Dao, Sán Chay, Nùng, Giáy. Số ít có người Phù Lá, Lô Lô và Bố Y. Trên miền Đông Bắc chỉ có 4 tộc người dân số ít đều không có bộ phận nào sinh sống ở miền Tây. Đó là các nhóm La Chí, Pà Thẻn, Cờ Lao và Pu Péo. Trái lại, trên miền Tây Bắc Bắc Bộ có đến 13 tộc người, có dân số đông như: Thái, Mường, Khơ Mú, Xinh Mun. Dân số ít hơn có các tộc: Hà Nhì, Kháng, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, v.v… đều vắng bóng trên miền Đông Bắc.
Những tộc người ở vùng núi Bắc Bộ đều được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới ở đây theo thứ tự dân số dựa vào kết quả của cuộc tổng điều tra năm 2019. Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, mong nhận được những góp ý chân thành của bạn đọc.
Cuốn sách thuộc bộ sách Không gian văn hóa Việt Nam, được biên soạn theo hướng khoa học thường thức nhằm giới thiệu những nét đặc trưng về lịch sử và văn hóa của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định. Nội dung sách tập trung trình bày một cách hệ thống các yếu tố hình thành, quá trình phát triển và những giá trị văn hóa tiêu biểu của vùng đất Sài Gòn – Gia Định trong tổng thể văn hóa Việt Nam.
Tác giả sử dụng lối viết mang tính “văn hóa sử”, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách diễn đạt gần gũi, dễ hiểu. Các nội dung được sắp xếp theo từng thành tố văn hóa đặc trưng của vùng đất, từ điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành, con người, phong tục tập quán đến đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Sách cũng được minh họa bằng hình ảnh nhằm giúp người đọc tiếp cận kiến thức trực quan hơn.
Thông qua việc giới thiệu những đặc điểm nổi bật của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định, cuốn sách góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa của vùng đất Nam Bộ nói chung và Sài Gòn – Gia Định nói riêng, đồng thời quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam.
Nội dung cuốn sách giới thiệu những thông tin cơ bản về đất nước và con người Lào, về những đặc trưng của đất nước Triệu Voi thông qua các lĩnh vực lịch sử - quân sự, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội,... cùng song hành trong thế tương quan so sánh với những đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, cuốn sách còn đi sâu phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Việt Nam - Lào trong quá khứ, hiện tại và những triển vọng kết nối trên tất cả lĩnh vực. Qua đó giúp cho việc triển khai hiệu quả kế hoạch hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới và cũng là nhằm hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, đặc biệt là với đất nước Lào; nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào.
Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”,và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.
Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.
Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập.
Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh.
Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được.
Năm 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.
Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.
Hà Nội dường như là thủ đô thiên nhiên của châu thổ sông Nhị, của miền Bắc Việt Nam. Các mạch núi Tây Bắc đều dồn về đây, các dòng sông cũng dồn về đây rồi toả ra thế “chúng thuỷ triều Đông”. Và có lẽ bởi vậy mà vùng“đất lành chim đậu” này cũng trở thành nơi hội tụ của các anh tài, các nghệ nhân từ khắp mọi miền đất nước. Từ mùa thu năm Canh Tuất (1010) đất kinh thành được phục hưng và bừng nở với Long phượng thành, với 61 rồi 36 phố phường, với thập tam trại và nhiều chợ búa ở cửa ô. Trí thức, thương nhân, thợ thủ công tụ hội về đây chen đua, cọ sát trí năng thủ xảo, tâm linh để dần dần kết tinh thành văn hiến, văn vật, thành tài hoa đất kinh kỳ. Nếu nhà văn Tô Hoài cho rằng Hồ Gươm - Kẻ Chợ tạo ra tiếng Hà Nội, do trăm nhà trăm vùng đua tiếng rồi dung hợp lại mà thành, không giống bất cứ một phương ngữ tiếng Việt nào thì “tài khéo đất rồng” là kết quả hội tụ và kết tinh cái sành sỏi, cái tế vi của người Hà Nội. Xung quanh Thăng Long - Đông Kinh - Kẻ Chợ mọc dần lên các làng chuyên doanh đặc sản: các làng nghề như gốm sứ Bát Tràng, vàng quỳ Kiêu Kỵ, làng nghề giấy vùng Bưởi, làng hoa Ngọc Hà, quất Nghi Tàm... Làng nghề trồng trọt, làng nghề thủ công cứ thế mà nổi danh cùng năm tháng. Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, nhiều nghề, làng nghề Hà Nội vẫn tồn tại, phát triển và để lại dấu ấn khó quên trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam. Thăng Long - Hà Nội ngày càng bộc lộ một diện mạo phong phú, một tiềm năng không nhỏ, một truyền thống nghề không thể để mai một với thời gian. Hà Nội có tiềm năng lớn về du lịch các làng nghề. Khách đến với Hà Nội không chỉ được chiêm ngưỡng các danh thắng, di tích lịch sử và các lễ hội mà còn được thưởng thức, ngắm nhìn cả một bảo tàng sống động về các sản phẩm đặc sắc, phong phú và đa dạng của các làng nghề đã được hình thành và tồn tại hàng ngàn năm lịch sử.
Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam
Cuốn sách Khu di tích Hang Con Moong: tính toàn vẹn, xác thực và giá trị nổi bật toàn cầu do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa, thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thực hiện với sự tham gia biên soạn của PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử, PGS.TS. Bùi Văn Liêm và TS. Nguyễn Văn Hải vừa hoàn thành, sau thành công của Hội thảo khoa học về Hang Con Moong tháng 7 năm 2025. Cuốn sách đã trình bày có hệ thống toàn bộ kết quả các lần khai quật, nghiên cứu di tích Hang Con Moong và phụ cận vốn được giới khảo cổ học trong và ngoài nước tiến hành trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua, trong đó có sự đóng góp trực tiếp của chính các tác giả cuốn sách này. Các tư liệu khai quật đã được phân tích chuyên sâu, làm rõ các đặc trưng nổi bật về di tích, di vật, xác định niên đại, các giai đoạn phát triển tiền sử Hang Con Moong và phụ cận trong bối cảnh rộng hơn.
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Thanh của tác giả Hà Nguyễn là cuốn sách giới thiệu những nét đặc trưng về lịch sử, văn hóa và con người của vùng đất Thanh Hóa trong tổng thể không gian văn hóa Việt Nam. Tác phẩm khái quát quá trình hình thành và phát triển của xứ Thanh qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời làm rõ những yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa riêng của vùng đất này. Nội dung sách đề cập đến điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử, đời sống kinh tế, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội dân gian cùng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu. Bằng cách tiếp cận địa – văn hóa kết hợp với lối trình bày khoa học, dễ hiểu và sinh động, cuốn sách giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về một vùng đất giàu truyền thống, góp phần bồi đắp hiểu biết và tình yêu đối với di sản văn hóa Việt Nam.
Những vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn về vấn đề ảnh hưởng của thông tin tội phạm trên truyền hình đối với công chúng ở Việt Nam
Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững” tập trung làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của rừng đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh sinh thái quốc gia. Nội dung sách cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn về quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và chuyển đổi xanh. Tác phẩm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng trong gìn giữ “lá phổi xanh” của đất nước vì sự phát triển bền vững hôm nay và mai sau.
Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.
Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một công trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống và khái quát, có những kiến giải mới, góp phần làm sáng tỏ một phương diện của chủ nghĩa xã hội hiện còn ít được nghiên cứu - phương diện chủ nghĩa xã hội đi từ lý luận đến thực tiễn, từ đó rút ra một số bài học kinh nghệm bổ ích cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhân dân ta đang tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nội dung cuốn sách "Xây dựng hợptác xã phát triển theo chuỗi giá trị dược liệu (Khu vực miền núi phía Bắc) (bản rút gọn)" góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dược liệu ở Việt Nam; phản ánh thực trạng hoạt động của các hợp tác xã dược liệu; phân tích vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững lĩnh vực này.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sách sẽ góp phần lan tỏa nhận thức về vai trò của hợp tác xã trong phát triển kinh tế dược liệu, góp phần thực hiện thành công các chương trình mục tiêu quốc gia, chiến lược phát triển dược liệu Việt Nam và nâng cao đời sống của người dân miền núi phía Bắc.
Trân trọng giới thiệu.
Cuốn sách tập hợp 18 bài nghiên cứu nguồn lực sinh thái - văn hóa một các tỉnh, thành Đông Nam Bộ và một số tỉnh, thành Tây Nam Bộ (Cần Thơ, Long An, An Giang, Trà Vinh) được bố trí theo trình tự từ chung cả vùng đến riêng từng địa phương, từ Đông Nam Bộ đến Tây Nam Bộ, và từ địa phương đóng vai trò trung tâm vùng đến một số tỉnh xung quanh. Cuốn sách tập trung vào hai nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất là, nhận diện tổng thể nguồn lực sinh thái - văn hóa của một số địa phương và thiết chế văn hóa tiêu biểu ở Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa học; thứ hai là, xây dựng triết lý và thương hiệu văn hóa cho các địa phương nhằm góp phần định hình hướng phát triển bền vững trong tương lai.