Văn hóa - Xã hội
Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ (bản rút gọn)
TS. Nguyễn Thị Thanh Vân

Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.

92 lượt xem
Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972
Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc như một trang vàng chói lọi. Với ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần dũng cảm, kiên cường, bộ đội ta đã giữ vững Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm, góp phần tạo nên thắng lợi trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, đồng thời giữ vững vùng giải phóng, nơi bố trí trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Là người lính thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, rồi sau này là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48 (Thạch Hãn), đã từng trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị những năm tháng đó, tôi vô cùng xúc động mỗi khi nghĩ đến đồng đội của mình - những người vào sinh, ra tử trên chiến trường, họ luôn phải đối diện với bom đạn, chết chóc, nhưng vẫn hiên ngang, bình thản và tự tin vào chiến thắng. Trong những đồng đội ấy - những người lính kiên cường chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong lòng tôi.
Trong Chiến dịch Quảng Trị 1972 nói chung, cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị nói riêng, quân và dân Quân khu Thủ đô (trước đây) đã có những đóng góp vô giá. Những năm tháng đó, lớp lớp thanh niên Hà Nội - Hà Tây không ngại hy sinh, gian khổ sẵn sàng xung phong ra tiền tuyến với tinh thần “Ba sẵn sàng” và chí khí “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” chỉ mong Bắc – Nam sớm được sum họp một nhà. Thật khó có thể liệt kê, đong đếm hết được những tình cảm và đóng góp của quân và dân Thủ đô Hà Nội vì miền Nam ruột thịt trong những ngày tháng khó khăn ấy. Trong số hơn bốn nghìn chiến sỹ đã ngã xuống ở Mặt trận Thành cổ Quảng Trị năm 1972, riêng cán bộ, chiến sỹ người Hà Nội (bao gồm cả Hà Nội và Hà Tây trước đây) đã hy sinh 518 người, đứng đầu danh sách liệt sỹ của 30 tỉnh - thành phố trong cả nước có con, em chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Ngày 23/6/2015, Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội đã ra
Quyết định số 2872/QĐ-UBND về việc thành lập Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội. Với mục đích nghĩa tình đồng đội, tri ân liệt sỹ, phát huy truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”... ngay sau khi thành lập, Hội đã nhận được sự cổ vũ, giúp đỡ của các cấp ủy, chính quyền và đáp ứng nguyện vọng của hàng nghìn cựu chiến binh (CCB) đang sinh sống trên địa bàn Hà Nội. Cho đến nay, Hội đã tổ chức được 15 chi hội ở các quận, huyện, thị xã với số lượng trên 1.400 hội viên. Trong năm 2024, hướng tới kỷ niệm 10 năm thành lập Hội, đồng thời thiết thực kỷ niệm các Ngày lễ lớn của Quân đội và Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội đã chủ trương xuất bản cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa nhằm tri ân các anh hùng liệt sỹ, nâng cao niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mỗi hội viên Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị trong việc giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và lực lượng vũ trang (LLVT) Thủ đô trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong tình hình mới.
Cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 được kết cấu làm 2 phần. Phần 1 gồm các bài viết của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, các tướng lĩnh (những người đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu) và những ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội về cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.
Phần 2 là ký ức về 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Phần này chủ yếu tập hợp những bài viết của hội viên 15 chi hội. Với dung lượng gần 500 trang và hơn 70 bài viết dưới các thể loại, cuốn sách thực sự là một tư liệu quý giá. Thông qua những câu chuyện của những người trong cuộc, để lại cho người đọc những cảm xúc chân thật về những con người một thời không tiếc tuổi xuân và tính mạng của mình cho nền độc lập tự do của dân tộc. Qua những trang viết mộc mạc đơn sơ của những người lính trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972, người đọc nhận thấy khát vọng cống hiến của một thế hệ sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sự dũng cảm, hy sinh của các chiến sỹ năm xưa vẫn là nguồn cảm hứng mãnh liệt, thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống có lý tưởng, hoài bão, mang hết sức lực, tài năng cống hiến cho hòa bình, phát triển của Thủ đô Hà Nội và đất nước.

2066 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 3 - Kiên trì vượt khó
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Người có thành công bắt đầu bằng việc kiên trì vượt qua những khó khăn, thử thách.

2620 lượt xem
Việt Nam - Lào: Sự gắn bó xuyên thời gian (Những nét tương đồng về chính trị, lịch sử, văn hóa cổ đại cho đến nay)
TS Nguyễn Phương Liên

Nội dung cuốn sách giới thiệu những thông tin cơ bản về đất nước và con người Lào, về những đặc trưng của đất nước Triệu Voi thông qua các lĩnh vực lịch sử - quân sự, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội,... cùng song hành trong thế tương quan so sánh với những đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, cuốn sách còn đi sâu phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Việt Nam - Lào trong quá khứ, hiện tại và những triển vọng kết nối trên tất cả lĩnh vực. Qua đó giúp cho việc triển khai hiệu quả kế hoạch hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới và cũng là nhằm hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, đặc biệt là với đất nước Lào; nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào.

2574 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 7
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sỹ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

216 lượt xem
5 Tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh - 5 Bảo vật quốc gia
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

5 Tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh - 5 Bảo vật quốc gia

1973 lượt xem
Thực hành tính ngưỡng thờ mẫu tam phủ của người Việt - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Từ Thị Loan

Với những giá trị văn hóa, nghệ thuật và tâm linh đặc sắc như vậy, ngày 01/12/2016, “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Cuốn sách này là một cố gắng nhỏ bé nhằm chuyển tải những kiến thức, hiểu biết cơ bản nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, bản chất, giá trị, vai trò của thực hành tín ngưỡng này trong đời sống tâm linh người Việt. Đây thực sự là một di sản văn hóa độc đáo được trao truyền từ quá khứ qua nhiều thế hệ, cần được hiểu đúng và nhận thức đầy đủ nhằm giữ gìn và phát huy những mặt tích cực trong xã hội đương đại.

2536 lượt xem
Hệ thống di tích Nho học Việt Nam và các Văn miếu tiêu biểu ở Bắc Bộ
Dương Văn Sáu

Việt Nam là một quốc gia văn hiến có lịch sử phát triển mấy nghìn năm rực rỡ; ngay từ thế kỷ XV, sau khi đánh đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho đất nước, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã khẳng định trong “Bình Ngô đại cáo”: 唯, 我 大 越 之 國, 實 為 文 献 之 邦…Duy, ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang...: Như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến.... Một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần làm nên văn hiến Việt Nam chính là Nho giáo, Nho học; và chính những di tích nho học là một phần bộ mặt của nền văn hiến đó. Với truyền thống “tôn sư trọng đạo”, trọng người hiền tài; hơn 500 năm về trước, vâng mệnh vua Lê Thánh Tông - vị minh quân “võ công văn trị” nổi tiếng trong lịch sử dân tộc; Thân Nhân Trung - Hàn lâm viện Thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ, Quốc tử giám Tế tửu, Lễ bộ Thượng thư, Lại bộ Thượng thư, đã viết: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng Thánh đế, minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý trọng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng...”[1]. Thực tế cho thấy, với bất cứ một quốc gia, dân tộc nào muốn phát triển đều phải chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực - nhân tài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nước nhà, sự nghiệp giáo dục - đào tạo càng có vai trò to lớn hơn bao giờ hết. Việc nghiên cứu, tìm hiểu truyền thống và kinh nghiệm của cha ông là một động thái quan trọng cho tiến trình hội nhập và phát triển hiện nay. Trong lịch sử dân tộc, tầng lớp Nho sĩ Việt Nam đã góp phần to lớn của mình trong sự nghiệp củng cố và phát triển đất nước. Công lao to lớn của họ đã được đất nước và nhân dân trân trọng, tôn vinh. Các nhà nước phong kiến Việt Nam đã luôn dành cho họ vị trí xứng đáng trong xã hội; thể hiện bằng việc sử dụng, bổ nhiệm những người có tài, có trình độ học vấn đã đỗ đạt vào các vị trí trong bộ máy chính quyền phong kiến từ Trung ương đến địa phương. Việc tưởng nhớ, ghi công ông tổ nho học và các hiền triết - danh nho ở bất kỳ triều đại nào cũng là mối quan tâm của chính quyền phong kiến các cấp cũng như đông đảo các tầng lớp nhân dân. Từ đó đã ra đời hệ thống di tích thờ tự danh nho trên khắp miền đất nước. Vùng đồng bằng Bắc Bộ, mảnh đất gốc, cái nôi của văn minh Việt, nơi đã tiếp nhận sớm nhất sự du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo từ Trung Hoa. Đây cũng là vùng đất mà Nho học phát triển mạnh nhất và đạt được những thành tựu to lớn nhất. Cũng chính ở đây, hệ thống di tích Nho học có số lượng khá lớn. Sau những biến thiên dữ dội của lịch sử dân tộc, hệ thống Văn miếu ở đồng bằng Bắc Bộ hiện chỉ còn lại 4 di tích với qui mô kiến trúc tương đối lớn ở Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên. Ngoài ra, một số địa phương trên cả nước cũng còn giữ lại được nhiều di tích Văn miếu với qui mô và tính chất khác nhau, như: Văn Thánh Huế, Khổng Tử miếu [Hội An, Quảng Nam], Khổng Tử miếu Tam Kỳ [Quảng Nam], Văn miếu Bình Định, Văn miếu Diên Khánh [Khánh Hòa], Văn miếu Trấn Biên [Đồng Nai], Văn Thánh miếu Vĩnh Long… và rất nhiều các văn chỉ, từ chỉ với qui mô và hiện trạng khác nhau ở các địa phương. Trong những năm qua, việc nghiên cứu các di tích Nho học ở các địa phương cũng đã và đang được tiến hành dưới nhiều mức độ khác nhau. Từ đó rút ra những ý nghĩa, bài học cần thiết để khai thác giá trị của hệ thống di tích Nho học trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế tri thức hôm nay. Kế thừa những thành tựu to lớn của các nhà nghiên cứu trước đây, cuốn sách "Hệ thống di tích Nho học Việt Nam và các văn miếu tiêu biểu ở Bắc Bộ" sẽ hệ thống hóa tổng quan những vấn đề về Nho giáo và Nho học Việt Nam đồng thời giới thiệu khá chi tiết những di tích Văn miếu tiêu biểu ở Bắc Bộ. Cuốn sách cũng cung cấp một cách tiếp cận đa chiều thông qua việc “giải mã văn hóa” các vấn đề liên quan đến hệ thống di tích Nho học. Điều đó giúp cho người đọc hiểu sâu hơn về các di sản văn hóa tri thức của cha ông ta để lại.

1549 lượt xem
Activities of Hanoi Folk Arts
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Throughout the 1,000-year history of Thang Long - Hanoi, folk activities such as Giong Temple, Co Loa Temple and Hai Ba Temple festivals have always been considered national events by Vietnamese feudal dynasties. At the same time, various types of folk art activities ranging from puppetry to Chèo (popular opera)... were inherited and actively developed. Imperial culture was initiated from folk culture and in turn contributed to improving and developing the later. The harmonious and close combination, parallel existence and intermixture of the two cultures has given Thang Long - Hanoi unique artists and a rich cultural diversity. Most of popular folk art activities in the Red River Delta were present in Thang Long - Hanoi. The vast countryside areas (called Kẻ Quê) surrounding urban areas (called Kẻ Chợ) were places to maintain and develop folk culture with unique and special folk-songs. Then from Kẻ Quê, these folk art activities penetrated into Kẻ Chợ to enrich the cultural life of Thang Long - Hanoi. Artists of Thang Long - Hanoi also brought in their own characteristics, resulting in Ca trù (popular folk music), Chầu Văn (spiritual form of music), Xẩm (songs of strolling blind musicians)and Chèo... being presented by artists of Thang Long - Hanoi, which had unique characteristics and identities and became ancient Đoài Chèo Area and Xẩm singing in Hanoi ancient streets...
2236 lượt xem
Giữ cũ, thêm mới làm tài sản cho con cháu
PGS.TS. Nguyễn Trường Giang

Tà Ôi là một trong số 54 dân tộc sinh sống ở Việt Nam. Với mong muốn độc giả có cái nhìn sâu hơn về nơi cư trú, hệ thống quản lý xã hội, quan hệ thân tộc, phương thức mưu sinh, chu kỳ vòng đời và tín ngưỡng dân gian, Nhà xuất bản Thông tấn xin trân trọng giới thiệu với độc giả cuốn sách điện tử “Giữ cũ, thêm mới làm tài sản cho con cháu” của PGS. TS. Nguyễn Trường Giang. Cuốn sách là công trình khảo cứu kỹ lưỡng của tác giả về cuộc sống của người Tà Ôi, được thực hiện một cách có hệ thống và toàn diện, qua đó khắc họa rõ nét bức tranh sinh động về văn hóa của người Tà Ôi, từ văn hóa mưu sinh, đến văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần bao gồm tâm linh tín ngưỡng. Cuốn sách được thực hiện năm 2014 nên số liệu trong sách được tính từ năm 2014 trở về trước. Thời điểm này, tên các địa phương nghiên cứu của tác giả vẫn giữ theo cách gọi cũ, vì vậy, để bạn đọc tiện theo dõi theo danh sách địa phương mới được cập nhật từ ngày 1/7/2025 đến nay, Nhà xuất bản Thông tấn xin gửi kèm bảng Phụ lục về các địa danh này. Cuốn sách của PGS. TS. Nguyễn Trường Giang là tài liệu chuyên khảo bổ ích, có giá trị cho những người làm công tác quản lý dân tộc và những người nghiên cứu giảng dạy cũng như học tập ngành Dân tộc học - Nhân học. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách tới quý bạn đọc.

1976 lượt xem
Giới thiệu thông tin Các công trình, cụm công trình được Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ (đợt 1 - 6)
Bộ Khoa học và Công nghệ

Cuốn sách giới thiệu một cách hệ thống những thành tựu khoa học và công nghệ tiêu biểu của Việt Nam qua nhiều giai đoạn. Nội dung sách phản ánh trí tuệ, tâm huyết và sự cống hiến bền bỉ của các nhà khoa học đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Các công trình được vinh danh không chỉ có giá trị khoa học cao mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Thông qua việc khái quát bối cảnh, nội dung và giá trị của từng công trình, cuốn sách góp phần tôn vinh những đóng góp xuất sắc cho nền khoa học và công nghệ nước nhà. Đây cũng là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạch định chính sách khoa học. Cuốn sách đồng thời khơi dậy niềm tự hào và cảm hứng sáng tạo cho các thế hệ cán bộ khoa học và công nghệ Việt Nam.

163 lượt xem
Tư duy sinh thái và tương lai học
Võ Văn Minh
Tất cả các quốc gia cần phải có bài học vỡ lòng rằng “là con người thì phải biết quý trọng Mẹ trái đất”. Từ tư duy đó mà thiết lập trật tự thế giới bằng các nguyên lí căn bản của Sinh thái học: “Tôn trọng tự nhiên - Tôn trọng loài người”. Đừng cố hành động theo bản năng để tranh giành, cướp giật, bất chấp mọi thứ như một loài hoang dã. Mục đích của những ngày “cách li xã hội” là cắt đứt các mối quan hệ tạm thời để virus corona không còn cơ hội lây lan. Hi vọng sau một thời gian sẽ dứt dịch. Song, điều quan trọng là nếu hệ sinh thái toàn cầu vẫn mất cân bằng nghiêm trọng thì sớm hay muộn vẫn còn đó nhiều trận đại dịch khác ở tương lai. Để tương lai được an toàn với loài người và Trái đất được vẹn toàn, thì những “người anh em” trên quả đất này cần phải đoàn kết, thương yêu, cùng nhau bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên từ tư duy của mỗi người như chính ứng xử với người mẹ yêu quý của mình. Hi vọng tư duy sinh thái sẽ là “chủng virus” hữu ích “lây nhiễm” nhanh chóng trong cộng đồng để thiết lập cân bằng sinh thái trên toàn cầu. Để thế giới an bình và mọi nhà hạnh phúc!
3506 lượt xem
Cẩm nang thuyết minh một số điểm du lịch tiêu biểu về dân tộc, tôn giáo và tín ngưỡng vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc
TS. Nguyễn Tư Lương

Cuốn cẩm nang là tài liệu thuyết minh chuyên sâu về các điểm du lịch gắn với các chủ đề về dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng, giúp cho hướng dẫn viên nhận thức đầy đủ ý nghĩa và giá trị văn hóa dân tộc, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng của đất nước, góp phần truyền bá và lan toả tới cộng đồng, du khách trong và ngoài nước để từ đó phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Bộ tài liệu bao gồm những kiến thức chung về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam và những giá trị đặc sắc gắn vói các di tích, điểm du lịch tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, giúp cho hướng dẫn viên có thể xây dựng được những bài thuyết minh đúng cấu trúc, nội dung phong phú, hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu của khách du lịch.

2853 lượt xem
Cơ cấu tổ chức và lãnh đạo ngành Khoa học và Công nghệ qua các thời kỳ (từ năm 1945 đến nay)
Bộ Khoa học và Công nghệ

Cuốn sách “Cơ cấu tổ chức và lãnh đạo ngành Khoa học và Công nghệ qua các thời kỳ (từ năm 1945 đến nay)” khái quát quá trình hình thành và phát triển của ngành Khoa học và Công nghệ Việt Nam gắn liền với lịch sử cách mạng và xây dựng đất nước. Nội dung sách hệ thống hóa sự thay đổi về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ qua từng giai đoạn lịch sử. Qua đó, cuốn sách làm rõ vai trò của đội ngũ lãnh đạo ngành trong việc hoạch định đường lối, chính sách và thúc đẩy sự phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các mốc chuyển đổi quan trọng phản ánh sự thích ứng của ngành trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Đây là tài liệu có giá trị tham khảo đối với công tác nghiên cứu lịch sử ngành, quản lý nhà nước và đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Cuốn sách đồng thời góp phần khơi dậy niềm tự hào về truyền thống và những đóng góp của ngành Khoa học và Công nghệ trong suốt gần tám thập niên qua.

189 lượt xem
Quảng bá, giới thiệu văn hoá, du lịch tỉnh Thanh Hoá
Sở văn hoá Thể thao và du lịch Thanh Hoá

Cuốn sách có nội dung quảng bá, giới thiệu về văn hoá, du lịch tỉnh Thanh Hoá

2422 lượt xem
Phát huy giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc
Bộ Thông tin và Truyền thông

Việt Nam được ví như “bảo tàng tín ngưỡng, tôn giáo thế giới”, đời sống tín ngưỡng của người dân đa dạng, phong phú. Sự đa dạng của tín ngưỡng dân tộc qua các loại hình tín ngưỡng như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Tín ngưỡng thờ vua Hùng, Tín ngưỡng thờ Mẫu, Tín ngưỡng phồn thực… Mặc dù các tín ngưỡng có nguồn gốc hình thành, phát triển khác nhau; nội dung, nghi lễ khác nhau nhưng không vì thế mà có sự xung đột, phá hoại lẫn nhau để phát triển riêng mình, ngược lại trong quan hệ, các tín ngưỡng luôn có sự gắn kết, giao thoa với nhau để cùng tồn tại, phát triển trong một quốc gia, dân tộc. Các tín ngưỡng dân tộc mang những đặc điểm cơ bản như đa thần, bình đẳng, dân chủ, giàu chất nhân văn, hỗn dung tôn giáo.
Những giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc đã góp phần tạo nên nét đẹp trong tinh hoa văn hóa dân tộc, truyền tải những giá trị nhân văn của dân tộc như đạo hiếu, uống nước nhớ nguồn, trách nhiệm với quê hương đất nước, tinh thần cố kết cộng đồng… Bên cạnh đó, tín ngưỡng dân tộc cũng đang bị lợi dụng ảnh hưởng tiêu cực đối với cộng đồng, làm suy giảm, mai một các giá trị nhân văn của các tín ngưỡng, lễ hội truyền thống. Nhiều vấn đề đặt ra từ sự tác động của một số xu hướng biến đổi tín ngưỡng đến đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền - Nguyễn Thị Hiệp biên soạn, xuất bản cuốn sách “Phát huy giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc”.
Từ việc nghiên cứu thực trạng xu hướng biến đổi của các tín ngưỡng dân tộc trước sự tác động của quá trình hội nhập, cách mạng công nghệ, công nghiệp hóa, đô thị hóa… Và những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát huy những giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc trong điều kiện mới. Qua đó đề xuất nhóm giải pháp nhằm phát huy tốt hơn vai trò của các tín ngưỡng dân tộc trong tiến trình bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc trong điều kiện mới hiện nay.

2719 lượt xem