Văn hóa - Xã hội
Đình làng tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Long (Phần I - Đình làng tiêu biểu ở Bến Tre)
TS. Phạm Văn Luân, ThS. Uông Thị Cẩm Vân, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách giới thiệu kết quả khảo cứu 32 ngôi đình đã được các cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích theo quy định của Luật Di sản Văn hóa ở tỉnh Bến Tre trước đây, bao gồm 06 đình được xếp hạng di tích Quốc gia, 01 đình thuộc quần thể di tích quốc gia đặc biệt và 25 đình là di tích cấp tỉnh. Mỗi ngôi đình được trình bày theo một cấu trúc khoa học, hướng đến việc làm nổi bật những giá trị cốt lõi nhất. Từ lịch sử khởi dựng, quá trình tồn tại và phát triển, quy mô kiến trúc, đến những tinh hoa trong nghệ thuật chạm khắc, giá trị của các hiện vật cổ, tín ngưỡng thờ phụng và diễn trình lễ hội truyền thống. Điểm đặc biệt là với cuốn sách này, tiếng nói Ban Khánh tiết, Ban Quản lý các đình làng trên địa bàn tỉnh đã được ghi nhận thông qua quá trình trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu và cho phép các tác giả tiếp cận để nghiên cứu, ghi nhận. Ý kiến chuyên môn quý báu của các nhà nghiên cứu, chuyên gia văn hóa, các nhà sử học trong và ngoài nước đã giúp các tác giả có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về giá trị của 32 ngôi đình được tập hợp trong cuốn sách này. Không dừng lại mô tả những giá trị về vật chất, cuốn sách còn đi sâu vào phân tích những giá trị phi vật thể - phần “hồn” vốn có của 32 ngôi đình có những đóng góp to lớn trong quá trình tạo dựng và vun đắp bản sắc văn hóa cho cộng đồng làng xã Bến Tre xưa. Qua đó, chúng ta càng thêm hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển của một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, nơi quá khứ và hiện tại giao thoa, tạo nên một Bến Tre đầy sức sống và bản sắc trong không gian phát triển mới của tỉnh Vĩnh Long bước vào kỷ nguyên vươn mình.

955 lượt xem
Mối quan hệ về tôn giáo - Cơ sở để phát triển tình hữu nghị giữa Việt Nam và hai nước láng giềng Lào, Campuchia
Bộ Thông tin và Truyền thông

Mảnh đất Đông Dương chứng kiến biết bao lần hợp - tan của các vùng đất theo sự đổi thay cương vực của lãnh thổ bao quanh vương quyền và cũng là nơi lắng đọng những tầng phù sa tư tưởng của những dòng chảy tôn giáo qua đây mà lan tỏa đến những vùng đất mới. Những biểu tượng của tín ngưỡng bản địa như những đá hòn, đá tảng vững vàng trên dòng suối nguồn các tôn giáo nối nhau cuộn chảy từ trung tâm của lục địa Á Âu sang tới vùng hải đảo của Đông Nam Á: Bà-la-môn giáo mở đường cho Phật giáo, Hồi giáo dấn bước để kế tiếp là Thiên chúa giáo theo cùng, Lão giáo cho tầng lớp tinh tuyển cơ sở tri thức để hiểu được sự cải cách của Tin lành... Mỗi một đợt phù sa mới lại mang đến thêm nhiều hạt giống tư tưởng gieo vào trên nền đá gốc đang lắng đọng những màu mỡ của tinh hoa nhân loại, để từ đây, gạn lại những gì sống động nhất, những tôn giáo của nhân loại vươn mình đơm hoa kết trái trên mảnh đất ven bờ Thái Bình Dương, căn đều hai bên sống dãy Trường Sơn.
Bước sang thế kỷ XXI, Campuchia, Lào, Việt Nam đã trải qua hàng trăm năm dung hòa tín ngưỡng bản địa với tôn giáo ngoại lai; giữa niềm tin vào chính con người đến những sản phẩm (dù cụ thể hay siêu hình) mà con người tạo tác nên... Ba quốc gia đều đã tiếp biến và tái sáng tạo, đều đã loại bỏ những yếu tố siêu hình để mỗi yếu tố của tôn giáo mới du nhập trở thành căn cốt thực tiễn trong đời sống tinh thần của nhân dân nơi đây. Và đây cũng là một trong những yếu tố cơ bản để phát triển tình hữu nghị giữa Việt Nam và hai nước láng giềng Lào, Campuchia.

1902 lượt xem
Quan hệ Việt Nam - Campuchia từ sau chiến tranh lạnh đến nay
Trần Xuân Hiệp
Cách đây nửa thế kỷ, vào ngày 24/6/1967, Việt Nam và Campuchia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Sự kiện chính trị trọng đại này là một mốc son trong lịch sử mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống gắn bó nhân dân hai nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi dân tộc. Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng nằm trên bán đảo Đông Dương, có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó. Tuy vậy, quan hệ giữa hai nước cũng có những thăng trầm nhất định tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cũng như chính sách đối ngoại của mỗi nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Nhưng trên hết, có thể khẳng định, trải qua nửa thế kỷ, quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia luôn được vun đắp và đã đạt được nhiều thành tựu trên hầu hết các lĩnh vực: Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng… Đây là cơ sở, nền tảng vững chắc để hai nước tiếp tục phát huy trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Được sự đồng ý của Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã kịp thời phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và các chuyên gia nghiên cứu về Đông Nam Á biên soạn, xuất bản Bộ sách gồm 05 cuốn nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Campuchia (1967 - 2017), đó là: 1. Chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia giai đoạn 1953-1970 2. Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia: Thực trạng và triển vọng 3. Quan hệ Việt Nam - Campuchia từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay 4. Việt Nam - Campuchia: Hợp tác hữu nghị và phát triển 5. 50 năm quan hệ Việt Nam - Campuchia: Thành tựu và triển vọng Mặc dù, Nhà xuất bản và các tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và các nội dung được đề cập ở nhiều lĩnh vực, do vậy không thể tránh khỏi những hạn chế; rất mong nhận được góp ý của bạn đọc để bộ sách sẽ được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
2860 lượt xem
Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc (bản rút gọn)
TS. Nguyễn Mạnh Cường

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, cùng mục tiêu góp phần lan tỏa tri thức, chia sẻ kinh nghiệm và định hướng phát triển cho lĩnh vực này, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Mạnh Cường biên soạn và xuất bản cuốn sách Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Cuốn sách là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, kết hợp giữa cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động từ các địa phương, phản ánh nỗ lực chung trong việc tìm kiếm mô hình phát triển kinh tế cộng đồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa của vùng miền.

591 lượt xem
Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Thủ đô Hà Nội là trung tâm của cả nước, nơi hội tụ tinh hoa văn hoá dân tộc. Ít có nơi nào lưu giữ được nhiều chứng tích lịch sử như thành phố Hà Nội. Nơi đây, mỗi địa danh, mỗi đường phố đều gắn với các sự tích, chiến công của ông cha. Những địa danh như Cổ Loa, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình... chứa đựng những dấu ấn, ghi nhớ những chặng đường lịch sử quan trọng, thể hiện ý chí bất khuất và tài năng của nhân dân Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Một nét kiến trúc Chùa Một Cột, tổng hòa không gian Văn Miếu - Quốc Tử Giám... đều góp phần làm rạng rỡ truyền thống lịch sử - văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là chứng tích vô giá của truyền thống ngàn năm văn vật, là viên ngọc quý, là cổ vật thiêng liêng của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là biểu tượng của sức sống nội tại, được dựng xây từ mồ hôi công sức và cả xương máu của lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng. Đó là những tảng đá nền kê chân cột để tạo dựng tòa nhà cao vững, vừa là bằng sắc để minh chứng cho quá khứ huy hoàng, vừa là di sản quý giá, là nét vàng son của phẩm chất đặc trưng cho con người Hà Nội, con người Việt Nam, vừa là linh hồn truyền tải những giá trị thiêng liêng của mảnh đất ngàn năm văn vật. Thăng Long - Hà Nội sắp bước qua tuổi ngàn năm. Thăng Long - Hà Nội có hàng ngàn di tích lịch sử - văn hóa. Các di tích lịch sử - văn hóa chính là một cây cầu kết nối Thăng Long xưa với Hà Nội nay, nối liền quá khứ - hiện tại - tương lai. Yêu Thăng Long - Hà Nội, trân trọng di sản của ông cha, trước hết và hơn hết là yêu, trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
4421 lượt xem
 НОВЫЙ ПУТЬ ДЛЯ НАЦИИ (ИНФОРМАЦИОННЫЕ МАТЕРИАЛЫ ДЛЯ ВНЕШНЕПОЛИТИЧЕСКОЙ ПРОПАГАНДЫ О XIV СЪЕЗДЕ КПВ –  ТОМ 3)
ЦЕНТРАЛЬНЫЙ ОТДЕЛ ПРОПАГАНДЫ, ВОСПИТАНИЯ И ПО РАБОТЕ С НАСЕЛЕНИЕМ

«Новый путь нации»: отражение хода и итогов XIV съезда Коммунистической партии Вьетнама; ключевых идей и стратегических ориентиров XIV съезда в Новую эпоху; утверждение веры и решимости всей партии, всего народа и всей армии Вьетнама в успешной реализации Резолюции XIV съезда. Материал собран тщательно и системно, в нем глубоко затронуты вопросы внешней информации в надежде на то, что это издание станет важным документом для работы в области внешнеинформационной деятельности, способствующим мощному распространению образа Вьетнама как страны мира, независимости, самостоятельности, сотрудничества, дружбы, развития, процветания и счастья.

68 lượt xem
A NEW JOURNEY FOR THE NATION (EXTERNAL INFORMATION MATERIAL ON THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE PARTY - VOLUME 3)
CENTRAL COMMISSION FOR PROPAGANDA, EDUCATION AND MASS MOBILIZATION

Reflects the proceedings and outcomes of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; key guiding thoughts and strategic orientations of the 14th Congress in the New Era; and affirms the faith and determination of the entire Party, people, and armed forces of Vietnam to successfully implement the Resolution of the 14th National Congress. This document has been meticulously and systematically compiled, featuring deep coverage of key external information themes. It aims to serve as a vital reference for external information work, actively promoting a image of Vietnam as peaceful, independent, self-reliant, cooperative, friendly, prosperous, and happy.

64 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản Rút gọn)
TS. Trần Văn Miều

“Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” giới thiệu những nội dung cốt lõi về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên biển, hải đảo trong bối cảnh phát triển hiện nay. Ấn phẩm cung cấp các thông tin khái quát về thực trạng, thách thức và định hướng quản lý, khai thác hợp lý gắn với bảo tồn hệ sinh thái. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ tiếp cận, tài liệu góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hành động vì mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam.

798 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 6
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

677 lượt xem
Mỹ thuật Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Trong mỹ thuật truyền thống Việt Nam, mỹ thuật dân gian Hà Nội đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Các tác phẩm điêu khắc được tạo tác ở các chùa, đình, đền Hà Nội, hay những bức tranh dân gian Hàng Trống, Kim Hoàng độc đáo thể hiện những dấu ấn lớn của mỹ thuật dân gian Thăng Long - Hà Nội nói riêng và mỹ thuật dân gian Việt Nam nói chung, phản ánh được tính cách và tâm hồn người Hà Nội xưa, bảo tồn các giá trị lịch sử - văn hóa to lớn trong nhiều mặt của cuộc sống. Đến thời kỳ cận đại và hiện đại, mỹ thuật hiện đại Hà Nội với những con người Hà Nội mới, từ các hoạ sĩ tự học đến các họa sĩ ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, từ các nghệ nhân dân gian đến những nghệ sĩ được đào tạo bài bản, đã không ngừng tiếp thu phương pháp khoa học tạo hình của Mỹ thuật phương Tây (được coi là một cơ sở khoa học xây dựng hình tượng nghệ thuật) và kế thừa những tinh hoa của nghệ thuật tạo hình truyền thống trong sáng tác mỹ thuật, đã làm chủ nhiều chất liệu như sơn dầu, sơn mài, lụa, tranh khắc, không ngừng sáng tạo các tác phẩm mỹ thuật trong dòng chảy chung của nghệ thuật. Mỹ thuật Hà Nội đã phản ánh được cái đẹp về hình ảnh cuộc sống, phong tục, tập quán của người Hà Nội, vẻ đẹp con người Hà Nội, với đầy đủ phẩm chất nghệ thuật và mang một bản sắc văn hoá tạo hình có nhiều nét riêng biệt. Nhiều tài năng bậc thầy, với nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo của Mỹ thuật Hà Nội đã góp phần tạo nên một diện mạo chung của nền mỹ thuật Việt Nam. Đồng thời, mỹ thuật Hà Nội là nơi hội tụ và tỏa sáng tinh hoa truyền thống dân tộc, nơi ghi danh những bậc thầy của hội hoạ - điêu khắc Việt Nam hiện đại với những bản sắc độc đáo của mình.
3993 lượt xem
Trường học Hà Nội xưa
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Trong tấm bia Tiến sĩ đầu tiên được dựng lên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám ghi chép tên tuổi, quê quán những Tiến sĩ Nho học thi đỗ trong khoa thi năm 1442, bài ký do Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung soạn có câu: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy, cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo xây dựng nhân tài”. Đây được xem như tuyên ngôn về giáo dục Nho học của các vương triều phong kiến Việt Nam nói riêng, của nền giáo dục đào tạo Việt Nam nói chung qua các thời kỳ lịch sử. Muốn có nhân tài để dựng nước và giữ nước thì phải giáo dục, đào tạo. Việc giáo dục, đào tạo nhân tài được thực hiện bởi các trường học, từ trường học của quốc gia, trường học ở địa phương, cho đến những ngôi trường tư thục do các thầy giáo tự lập ra để đào luyện con người. Thăng Long - Hà Nội nghìn năm qua nổi tiếng là mảnh đất thiêng của nền giáo dục Việt Nam. Nơi đây có Quốc Tử Giám Thăng Long - trường đại học sớm nhất và lớn nhất của quốc gia Đại Việt thời trung đại. Nơi đây có trường Đông Kinh nghĩa thục - ngọn cờ đầu của nền tân học Việt Nam thời cận đại. Nơi đây có nhiều ngôi trường tư thục nổi tiếng của các danh sĩ nối tiếp nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Văn hiến Thăng Long - Hà Nội thể hiện trước hết và hơn hết, là sự tụ hội, thăng hoa và tỏa rạng trong suốt nghìn năm qua, là nơi biểu tượng bền bỉ bậc nhất của nền học vấn: các ngôi trường học xưa trên đất Thăng Long - Hà Nội.
3236 lượt xem
Les fêtes du Phù Đổng - Une bataille céleste dans la tradition Vietnamiene
Nguyễn Văn Huyên
Il me semble qu’aucun Vietnamien n’ignore la légende de Thanh Giong (Génie Giong). Transmise oralement de génération en génération, citée dans les manuels scolaires, elle est devenue une œuvre littéraire immortelle. Thanh Giong est le sujet de nombreuses oeuvres d’art. Ce héros mythique national a éveillé l’imagination de générations de Vietnamiens. Cependant, ils ne savent pas tous que Thanh Giong est un génie tutélaire vénéré par une dizaine de villages du delta du Fleuve Rouge. Non loin de Hanoi, dans les villages de Phu Dong du district de Gia Lâm et de Vê Linh du district de Soc Son, Thanh Giong est le sujet de fêtes villageoises, les Fêtes de Giong, qui se déroulent autour des temples de Phu Dong et de Soc. Ces fêtes annuelles présentent des symboles et des scènes théâtrales vivantes inspirées de la légende de ce héros. Elles ont lieu dans une ambiance de respect et de ferveur religieuse très populaire. C’est grâce à ces fêtes que l’immortalité de la légende est assurée. En même temps, elles répondent à d’authentiques demandes spirituelles des habitants. Pour ces raisons essentielles, l’UNESCO a classé les fêtes de Giong au patrimoine immatériel de l’Humanité. L’actuelle fête de Giong du village de Phu Dong a connu bien des changements. A partir d’août 1945, durant les 11 années de résistance contre les Français qui ont suivi, cette fête n’a pas été organisée. Après Dien Bien Phu, elle n’a eu lieu que trois fois, en 1956, en 1957 et en 1958. Puis elle a connu de nouveau une rupture pendant plus de 20 ans. En 1980, pour la première fois après plus de 30 ans d’interruption, elle revit, de manière très sommaire cependant; de nombreux symboles, tels les “Gardes du corps” et les “Généraux”, ainsi que les scènes qui leur sont rattachées, n’y figurent pas. Sur les deux “combats”, un seul, celui de Soi Bia, est représenté. Il faut attendre l’année 1995 pour que la grande fête soit à nouveau organisée. Auparavant, la fête de Giong du village de Phu Dong durait sept jours, selon un programme strict d’activités soigneusement consignées dans le “cahier des fêtes” du village. Malheureusement, ce cahier a disparu durant la guerre. En 1998, un nouveau programme de fête de 3 jours a été établi d’après les souvenirs des personnes âgées des villages. Actuellement, sous la direction des autorités et des services de la culture, les villageois ont décidé de raccourcir leur fête qui dure désormais de 3 à 4 jours, adaptée au programme condensé de 1998. Heureusement, l’ethnologue Nguyen Van Huyen a assisté, en 1937 et en 1938, à la fête de Giong, au village de Phu Dong. En 1938, il a publié deux ouvrages à partir de ses riches observations des jours de fête, minutieuses monographies sur les représentations théâtrales et les symboles d’une bataille mystique Toutes les versions des chants d’Ailao ont été soigneusement retranscrites puis publiées en 1941. De plus, des photographies documentaires, en noir et blanc, imprimées dans les deux premiers ouvrages montrent de façon très vivante la fête de Giong de l’époque. Ce sont des documents rares sur cet héritage original. Ils permettent de mieux comprendre les fêtes de Giong au début du 20ème siècle. À l’occasion de la première organisation des fêtes de Giong après leur classement par l’UNESCO, nous avons l’honneur de présenter ces deux précieux ouvrages. Ils ont été rédigés en français. Leur première version vietnamienne a été publiée en 1995 dans un recueil du professeur Nguyen Van Huyen intitulé Contribution à la recherche des cultures du Vietnam qui a reçu le prix Ho Chi Minh. Dans l’esprit de respect des textes originaux ainsi que du contexte historique, tous les lieux-dits, les termes et les appellations y sont reproduits tels quels. La traduction vietnamienne présente, sans doute, des erreurs, vos critiques et suggestions sont toujours bienvenues.
1855 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 9
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

778 lượt xem
Hữu Ngọc: Đồng hành cùng thế kỷ Văn hóa - Lịch sử Việt Nam
Hữu Ngọc
Là “nhà xuất nhập khẩu văn hóa”, Hữu Ngọc đã sáng tác và thuyết trình nhiều để giới thiệu ra thế giới tinh hoa văn hóa Việt Nam và phổ biến trong nước tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc. Chúng tôi, độc giả nước ngoài, tìm hiểu văn hóa Việt Nam qua tác phẩm Lãng du trong văn hóa Việt Nam của ông: bản tiếng Anh (Wandering through Vietnamese culture) được Giải vàng sách Việt Nam 2006, tái bản và in 10 lần, bản tiếng Pháp (A la decourverte de la culture du Vietnam) được giải GADIF 2008 (Giải các đại sứ và tổ chức Pháp ngữ ở Việt Nam) và in 6 lần - tổng cộng khoảng hai vạn bản in. Hữu Ngọc là một mắt xích nối văn hóa Việt Nam với văn hóa thế giới. Tác phẩm Hữu Ngọc - Đồng hành cùng thế kỷ văn hóa - lịch sử Việt Nam giới thiệu lịch sử văn hóa Việt Nam qua chân dung những người cùng thời với ông. Hữu Ngọc sinh cuối năm 1918. Ông sống gần trọn thế kỷ XX và bắc cầu sang thế kỷ XX - XXI. Ở trong nước, ông vừa là nhân chứng và như các công dân Việt Nam khác, là tác nhân ít nhiều của các giai đoạn lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc, Nhật thuộc, Cách mạng tháng Tám, Tuyên ngôn độc lập, chiến tranh chống Pháp, Mỹ, Khơme đỏ, Trung Quốc, thời “bao cấp”, thời “đổi mới mở cửa” đến “toàn cầu hóa”. Trong khung cảnh quốc tế, ông cũng sống trong giai đoạn cực kỳ biến động, sau chiến tranh thế giới I, cuộc đấu tranh dân chủ chống Phát xít, chiến tranh thế giới II, chiến tranh lạnh, Mỹ bá chủ thế giới sau khi Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, công cuộc phi thực dân hóa, thế giới thứ ba trỗi dậy, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vô tiền khoáng hậu, sự diễn biến sắp xếp - cân bằng lực lượng của các siêu cường… Trong tác phẩm này, Hữu Ngọc thể nghiệm vốn sống của mình trong bối cảnh quốc gia và quốc tế, thể nghiệm qua giao lưu trực tiếp và gián tiếp (sách, báo, thông tin) với những người cùng thời. Hữu Ngọc hiểu “Hữu Ngọc đồng hành cùng thế kỷ văn hóa - lịch sử Việt Nam” theo quan niệm chủ quan của mình: đó là những người trong nước và ngoài nước sống và hành động khi ông bước vào tuổi có ý thức về cuộc sống xã hội ngoài cái nôi gia đình (tuổi lên 9 - 10). Đối với ông, cụm từ “những người cùng thời” bao gồm những nhân vật có tên và cả quần chúng, các nhóm xã hội vô danh. Vì tác giả chỉ đề cập đến những giao lưu tiếp xúc bản thân, nên có thể có những nhân vật và sự kiện quan trọng đương thời không xuất hiện trong sách của ông. Thị lực của Hữu Ngọc rất yếu nhưng cái nhìn nội tâm của ông lại rất sâu sắc, đôi lúc hóm hỉnh khi phác họa một chân dung, kể lại một sự việc, nêu lên hay thể hiện một vấn đề. Mong các bạn đọc thích thú tìm thấy ở những người cùng thời một bức trang lịch sử gần trăm năm với những âm hưởng lan tỏa cho đến ngày nay.
3232 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 4 - Người con hiếu thảo
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách khuyên nhủ chúng ta cần yêu thương, quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ từ những việc thiết thực hằng ngày và nỗ lực vượt lên hoàn cảnh khó khăn – để xứng đáng là những người con hiếu thảo

4176 lượt xem
Nghiên cứu phục dựng một số lễ hội truyền thống của dân tộc Jrai tại tỉnh Gia Lai
TS. Trung Thị Thu Thủy
Cùng với xu thế chung, các tỉnh Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Gia Lai thời gian qua đã tiến hành phục dựng một số lễ hội truyền thống của các dân tộc tại chỗ như: lễ đâm trâu mừng chiến thắng, lễ cầu mưa, lễ dựng nhà Rông mới, lễ mừng năm mới… Tuy nhiên việc phục dựng lễ hội ở tỉnh Gia Lai còn dừng lại ở quy mô nhỏ, đơn lẻ của từng lễ hội, từng huyện với nguồn kinh phí đầu tư tổ chức còn khiêm tốn; Chưa tiến hành nghiên cứu và phục dựng mang tính hệ thống các lễ hội truyền thống của tộc người tại chỗ trên địa bàn tỉnh, trong đó có tộc người Jrai; Chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu phục dựng lễ hội nhằm cung cấp, xây dựng những luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phục dựng lễ hội của người Jrai trong bối cảnh hiện nay. Xuất phát từ thực tế đó, cuốn sách “Nghiên cứu phục dựng một số lễ hội truyền thống của dân tộc Jrai tại tỉnh Gia Lai” được xuất bản lần này là việc làm hữu ích trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, với mong muốn tái hiện lại diện mạo lễ hội đồng thời qua đó giúp người dân hiểu, trân trọng văn hóa cộng đồng, đồng thời cũng tăng cường sinh lực cho chính cộng đồng trong việc nhìn nhận bảo tồn văn hóa trước những xu thế mới.
3545 lượt xem