Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Sa Pa nằm ở phía tây của tỉnh Lào Cai, phía bắc giáp huyện Bát Xát, phía nam giáp huyện Văn Bàn, phía đông giáp thành phố Lào Cai và huyện Bảo Thắng, phía tây giáp huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Lai Châu. Người địa phương gọi vùng đất này là Sa Pả (có nghĩa là bãi cát).
Mùa đông năm 1903, đoàn khảo sát trắc địa của quân đội Pháp phát hiện ra vẻ đẹp của cao nguyên Lồ Súi Tổng. Đến năm 1905, bản vẽ về cao nguyên Lồ Súi Tổng và đỉnh cao Phan Xi Păng đã được xác định. Kể từ đây, Cha Pa (tên gọi dưới thời Pháp) đã được biết đến với các tên gọi “trạm nghỉ dưỡng trên cao”, “kinh đô mùa hè ở Đông Dương”, “khu nghỉ mát điều dưỡng”. Sau 120 năm, vẻ đẹp của “nơi gặp gỡ đất trời” vẫn luôn hấp dẫn du khách muôn phương, vẫn là vùng đất gợi nhớ, gợi thương trong lòng người đến với Sa Pa.
Sa Pa bốn mùa, mùa nào cũng đẹp. Một ngày ở Sa Pa hội tụ đủ bốn mùa. Vào buổi sáng, Sa Pa ẩn mình trong khói sương. Khi nắng lên, Sa Pa ấm áp đón gió xuân. Khi mặt trời đứng bóng, trời quang mây tạnh, khắp đó đây tràn ngập hương sắc mùa hè. Khi hoàng hôn buông xuống, Sa Pa gói mình trong se lạnh. Ban đêm, cả Sa Pa chìm trong giấc ngủ đông. Từ tháng Năm đến tháng Tám, Sa Pa có mưa nhiều, lượng mưa trung bình khoảng 1.800 - 2.200mm. Mùa hè ở Sa Pa nhiệt độ khoảng 20 - 250C vào ban ngày, 13 - 150C vào ban đêm. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ trung bình 3 - 70C, có những lúc xuống tới 00C. Sa Pa cũng là một trong những nơi hiếm có của Việt Nam có tuyết rơi. Khi hoa đào nở khắp các bản làng là lúc mùa xuân đang về.
Nhắc đến Sa Pa, nhiều người sẽ liên tưởng đến hình ảnh của đỉnh Phan Xi Păng - "nóc nhà Đông Dương", của nhà thờ đá, phố núi ẩn hiện trong sương vào mỗi buổi sáng hay chiều muộn. Sương và đá đã làm nên sự kỳ vĩ và huyền thoại của Sa Pa, làm nên những điều chỉ riêng có ở Sa Pa.
Ở Sa Pa, các tộc người: Kinh, Mông, Dao, Tày, Giáy, Xá Phó (Phù Lá)... hội tụ, sinh sống từ lâu đời. Trong đó, người Mông chiếm trên 50% dân số. Các tộc người ở đây bao đời nay đều sống hòa ái với sương, với đá. Sự kiên cường, mạnh mẽ như đá, mềm mỏng, nhẹ nhàng như sương của họ đã làm nên một bức tranh sống động về Sa Pa, tạo nên một không gian văn hóa sâu, rộng. Không gian đó tiếp tục được mở ra đầy khoáng đạt với chiều dài của lịch sử, của di sản để kết nối quá khứ với tương lai.
Ở Sa Pa, sương và đá đã trở thành biểu tượng trong tâm thức của cộng đồng các dân tộc - là triết lý sống cương - nhu, triết lý về sự hài hòa, triết lý về sự tồn tại và hồi sinh. Có thể nói, sương và đá đã tạo nên một nốt “lặng”, làm nên cái “lặng lẽ” đặc trưng của Sa Pa. Tạo nên một Sa Pa với vẻ đẹp đầy bí ẩn. Nơi đây, con người lặng lẽ trong sương, trên đá để sinh tồn và phát triển.
Từ biểu tượng của sương và đá, cuốn sách mong muốn được kể một câu chuyện bằng hình ảnh về cảnh sắc và con người Sa Pa. Câu chuyện về vẻ đẹp huyền ảo của Sa Pa ẩn hiện trong sương; về vẻ đẹp “lặng lẽ” của Sa Pa trong sương, trên đá; về những con người sống với đá, với sương; về những bản tình ca được viết nên từ sương và đá; và những khát vọng được viết nên từ vùng đất của đá và sương.
Hy vọng cuốn sách sẽ chạm được đến cảm xúc của đông đảo độc giả. Có thể chỉ là sự rung động với hạt nắng nhỏ đang nằm trong một giọt sương long lanh, là những cánh đào đỏ thắm trên hàng rào đá xinh xắn bao quanh căn nhà trình tường của người Mông. Đi vào trong câu chuyện của “Sa Pa - sương và đá”, độc giả được trở về với thiên nhiên để cảm nhận sự bao dung, hiền hòa của thiên nhiên mà thêm yêu quê hương, xứ sở, được đắm mình trong dòng chảy văn hóa để thêm yêu những con người và những cuộc đời trên đá, trong sương.
Những vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn về vấn đề ảnh hưởng của thông tin tội phạm trên truyền hình đối với công chúng ở Việt Nam
Cuốn sách cung cấp thông tin về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Cuốn sách "Biến đổi sinh kế của người Mường ở vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình (mô hình tái định cư) (bản rút gọn)" được bố cục làm 5 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề tái định cư
Chương 2: Quá trình tái định cư Thủy điện Hòa Bình
Chương 3: Biến đổi sinh kế trong mô hình di vén: Xóm Ké
Chương 4: Biến đổi sinh kế trong mô hình lập làng mới: Xóm Lương Phong
Chương 5: Một số hoạt động hỗ trợ phát triển sau tái định cư
Tái định cư công trình thủy điện Hòa Bình đã diễn ra cách đây gần nửa thế kỷ, tạo ra một khoảng thời gian đủ dài để nghiên cứu này, với dữ liệu được thu thập và phân tích trong bối cảnh thực địa những khoảng thời gian trước năm 2017, mang tính tổng kết sâu sắc. Nhờ những thành công, hạn chế trong việc thi hành chính sách tái định cư bắt buộc đối với người Mường ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ), mà bài toán sinh kế cho người dân vùng tái định cư bắt buộc phải được coi trọng và tính toán hơn nữa.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sẽ góp phần cải thiện việc xây dựng và thực hành chính sách tái định cư, chính sách phát triển vùng miền núi ở Việt Nam.
Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu các mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng để từ đó nhận diện những giá trị và đặc trưng văn hóa ứng xử của gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời góp phần bổ sung cơ sở cho các nghiên cứu so sánh giữa gia đình người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Qua đó, công trình hướng tới việc tiếp thu nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hóa, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa gia đình mang đậm bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
Cuốn sách tập trung làm rõ các đặc điểm ứng xử trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng dưới góc nhìn Nhân học trong cả chiều lịch đại và đồng đại; phân tích những biến đổi trong ứng xử gia đình dưới tác động của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với các tộc người cộng cư; đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long với gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Hồng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, công trình cũng đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng gia đình văn hóa, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa ứng xử trong gia đình ở Sóc Trăng trong điều kiện phát triển hiện nay.
Kỷ yếu hội thảo là sự kết tinh của nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, thể hiện tinh thần lao động khoa học nghiêm túc, trách nhiệm và tâm huyết của các tác giả. Nội dung các bài viết trong kỷ yếu tập trung vào nhiều chủ đề thiết thực và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc như: giáo dục vì sự phát triển bền vững; đổi mới phương pháp dạy học; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học liệu số và công nghệ mới trong giáo dục; giáo dục người lớn và học tập suốt đời; giáo dục kỹ năng sống; môi trường giao tiếp học đường; đồng thời đi sâu phân tích các vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong môi trường số, văn hóa ngôn ngữ, truyền thông số, quảng cáo, âm nhạc trẻ, du lịch văn hóa, không gian thiêng, cũng như hợp tác văn hóa – giáo dục trong khu vực và trên thế giới.
Chuyên khảo tập trung tiếp cận các bà bóng như những chủ thể văn hóa trong thực hành múa bóng rỗi, nhằm làm rõ vai trò xã hội, chiến lược thích ứng nghề nghiệp và sự biến đổi của loại hình diễn xướng này trong bối cảnh Nam Bộ đương đại. Thông qua cách tiếp cận nhân học văn hóa kết hợp điền dã dân tộc học, nghiên cứu hướng tới bổ sung tư liệu thực địa và góp phần mở rộng hướng nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian, giới và di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam.
Trong bối cảnh tín ngưỡng thờ Mẫu/Bà và thực hành múa bóng rỗi đang phục hưng mạnh mẽ ở Nam Bộ, việc tiếp cận hiện tượng này từ góc nhìn nhân học văn hóa không chỉ góp phần tái hiện một thực hành văn hóa truyền thống, mà còn tạo cơ sở để nhận diện rõ hơn những biến đổi xã hội đương đại trong mối quan hệ giữa tín ngưỡng, giới và kinh tế văn hóa. Từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, cuốn sách chuyên khảo được thực hiện với mục tiêu làm sáng tỏ vai trò, vị trí và chiến lược nghề nghiệp của các bà bóng trong thực hành múa bóng rỗi, qua đó lý giải cơ chế vận hành và biến đổi của loại hình diễn xướng dân gian này trong đời sống xã hội hiện nay.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
5 Tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh - 5 Bảo vật quốc gia
Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam
Cuốn sách Dẫn chương trình văn hóa nghệ thuật được biên soạn nhằm hệ thống hóa các tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động này. Nội dung sách được trình bày khoa học, kết cấu rõ ràng qua ba chương chính: Chương 1 cung cấp những khái niệm nền tảng và hệ thống lý luận về chương trình văn hóa nghệ thuật và vai trò của người dẫn chương trình như một chủ thể kết nối nội dung và cảm xúc cho khán giả. Chương 2 đi sâu vào kỹ năng viết lời dẫn, phân tích ngôn ngữ nghệ thuật và cấu trúc lời dẫn phù hợp với từng loại hình chương trình. Chương 3 tập trung vào kỹ thuật diễn đạt lời dẫn thông qua các phương tiện ngôn ngữ nói, phi ngôn ngữ và công cụ hỗ trợ trực quan, đồng thời hướng dẫn thực hành kỹ năng dẫn chương trình trên sân khấu.
Sách không chỉ cung cấp kiến thức lý luận mà còn kèm theo các ví dụ minh họa cụ thể và bài tập ứng dụng, nhằm hỗ trợ người học rèn luyện kỹ năng một cách thực tiễn và hiệu quả. Đây là tài liệu học tập hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, truyền thông, đồng thời là cẩm nang tham khảo dành cho các giảng viên, cán bộ tổ chức sự kiện, biên đạo và những người hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn văn hóa nghệ thuật. Với tinh thần gắn lý luận với thực tiễn, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng và phương pháp chuyên môn cho người dẫn chương trình, từ đó nâng cao chất lượng các chương trình văn hóa nghệ thuật - một thành tố quan trọng trong sự phát triển bền vững của đời sống văn hóa đương đại.
Cuốn sách giới thiệu thông tin, kiến thức về phát triển du lịch bền vững dựa trên giá trị văn hóa - thiên nhiên vùng Bắc Trung Bộ và Trung du miền núi phía Bắc, là tập hợp các công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn, được lựa chọn thông qua quy trình phản biện nghiêm túc với 60 bài viết, phản ánh đa chiều các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch bền vững.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, sinh viên Việt Nam là bộ phận thanh niên ưu tú, có tri thức, sáng tạo, sống có ước mơ, hoài bão, có lý tưởng; là lực lượng quan trọng, giữ vai trò kế thừa, phát huy những thành quả cách mạng của Đảng, của dân tộc. Do đó, việc xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên là một trong những yếu tố quyết định đối với nhiệm vụ đào tạo, phát triển thế hệ trẻ Việt Nam, góp phần phát triển bền ững đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.
Công tác xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước nhiều yêu cầu, thách thức và những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ về lý luận và thực tiễn trong công tác xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế, từ đó phân tích, đánh giá chỉ ra những thành tựu và hạn chế. Trên cơ sở đó xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế là hết sức cần thiết.
Tác giả đã tiến hành biên soạn cuốn sách “Xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế”. Bằng những kinh nghiệm giảng dạy, học tập và nghiên cứu của mình tác giả hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo, nghiên cứu bổ ích cho bạn đọc quan tâm.