Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Liên minh Bưu chính Thế giới (gọi tắt là UPU) khởi xướng và tổ chức Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần đầu tiên vào năm 1971 dành cho các em thanh thiếu niên từ 10 - 15 tuổi với mục đích nhằm phát triển khả năng viết văn của thanh thiếu niên, làm phong phú thêm sự tinh tế trong tư duy, góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa các dân tộc và giúp các em hiểu biết thêm về bưu chính và vai trò của ngành Bưu chính trong cuộc sống và phát triển kinh tế, xã hội.
Mỗi năm UPU chọn ra một chủ đề của Cuộc thi gắn với các hoạt động mang tính văn hóa, kinh tế xã hội nổi bật chung của Liên hợp quốc hoặc các vấn đề lớn mang tính toàn cầu và cấp thiết. Thông qua các chủ đề này, các em học sinh không chỉ có dịp để phát triển tư duy và khả năng sáng tạo mà còn là dịp bày tỏ quan điểm và ý kiến của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan tới chủ đề của cuộc thi. Nhiều em đã có những bức thư làm sửng sốt người đọc vì tư duy và tình cảm sâu sắc vượt trên lứa tuổi của mình, mang tính nhân văn sâu sắc.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU (1971 - 2021), Văn phòng Quốc tế UPU đã phát hành ấn phẩm tập hợp 53 bức thư đạt giải Nhất Quốc tế tại các Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU và bình chọn ra bức thư hay nhất trong số đó (Best of The Best). Bức thư đạt giải Nhất Quốc tế Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 7 (năm 1978) với chủ đề “Bác bưu tá, người bạn tốt của tôi - The postman, my best friend” đã được lựa chọn là bức thư hay nhất. Chủ nhân của bức thư đó là Mi-kyong Ryu, bé gái 11 tuổi đến từ Hàn Quốc vào năm 1978. Chủ đề và nội dung bức thư gắn tới hình ảnh thân quen về người bưu tá, gợi cho chúng ta nhớ tới hình ảnh các nhân viên Bưu điện Việt Nam - một trong những lực lượng tuyến đầu miệt mài chuyển phát thư, bưu kiện, hàng hoá tới tận tay người dân trong bối cảnh đại dịch Covid ảnh hưởng tới toàn xã hội. Để tạo cơ hội cho các Nhà trường và các em học sinh trên cả nước tiếp cận phiên bản bức thư hay nhất (Best of The Best) của UPU, Bộ Thông tin và Truyền thông đã liên hệ được bản quyền, và giao Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tổ chức biên dịch, biên tập, xuất bản và phát hành cuốn sách “Các bức thư hay nhất thế giới” sang tiếng Việt. Cuốn sách hữu ích này không chỉ giới thiệu nguyên tác 53 bức thư như những viên ngọc sáng lấp lánh sắc màu mà còn đem đến cho người đọc những ý tưởng, cảm xúc chân thật, các chi tiết ấn tượng nhất của mỗi bức thư. Đọc những bức thư sinh động và lay động lòng người trong ấn phẩm nêu trên cũng là lúc chúng ta lắng lại để suy ngẫm, cảm nhận và liên tưởng về cuộc sống xoay quanh mỗi chủ đề của cuộc thi. Hy vọng, các em học sinh sẽ tìm thấy trong cuốn sách của mình những gợi mở, những liên hệ thú vị để hình thành cách thể hiện riêng, ghi dấu ấn riêng và sẽ có những bức thư hay khi tham gia những cuộc thi tới.
“Chiến trận và hoa hồng”, cuốn tiểu thuyết nói về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và một câu chuyện tình sau cuộc chiến tranh.
Chiêm, phóng viên được cử ra mặt trận của một tờ báo văn chương, từng đã được tôi luyện và sống hết mình trong những năm chống Mỹ cứu nước, giờ lại được dự suốt một chiến dịch hào hùng, theo sát một quân đoàn anh hùng tiến vào Sài Gòn…
Những diễn biến mau lẹ và cũng khá quyết liệt ở những mặt trận Chiêm được dự, cho đến lúc đứng trước Dinh Độc Lập, đã được miêu tả sinh động với những ấn tượng của một đời làm báo xông xáo, có nghề…
Chiêm được lưu lại công tác, thâm nhập cuộc sống mới ở Sài Gòn, và anh đã gặp Nguyệt Lệ, cô sinh viên con một nhà trí thức ở Sài Gòn cũ với những tính cách mạnh mẽ, sôi nổi, đầy lãng mạn. Hai tính cách trái ngược gặp nhau, họ lại nhận ra những vẻ đẹp của nhau, từ những cá tính mà mình không có… Hơn nữa, họ nhận ra nhau, người từ những nét hồn nhiên, tự do phóng túng; người từ một tuổi trẻ thông minh, bản lĩnh và không kém phần hào hoa kiểu người Hà Nội, chỉ khác là kín đáo và tế nhị.
Và, một tình yêu, không thể ngăn nổi đã đến…
Song cuộc tình nào cũng dang dở vì nhiều lý do… Tại anh, tại ả, tại cả những ràng buộc thời thế nữa… Họ muốn ở bên nhau mãi mãi, song không cưỡng nổi những tồn tại khách quan, chủ quan từ hai phía gây ra…
Dù sao vẫn là một cuộc tình đẹp. Họ vẫn sống những gì họ đã có.
“Chiến trận và hoa hồng” còn nói đến những hy sinh thầm lặng của những chiến sĩ tình báo và gia đình trong những năm chiến tranh. Đó là nhà văn Khang… Những gánh nặng vật chất và tinh thần khá gay go quyết liệt mà họ phải gồng mình vượt qua, nhưng cũng từ đó mà họ càng được thử thách, để có được những đức tính, mà những năm tháng yên bình họ không thể có! Và tình yêu và cuộc sống, đối với họ, lại tha thiết đến chừng nào…
“Chiến trận và hoa hồng” chỉ có thể là kết quả tích lũy và nghiền ngẫm nhiều năm của nhà văn Ngô Văn Phú. Vẫn lối viết điềm đạm, nhẩn nha, kín đáo, cuốn tiểu thuyết như một cuốn phim lôi cuốn và hết lúc nào không biết, khi ta vẫn còn đang tiếc cho một cuộc tình lạ và đẹp của Chiêm và Nguyệt Lệ…
Nội dung cuốn sách Nghệ thuật Champa - Tượng Phật giáo sẽ giúp bạn đọc là các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên chuyên ngành văn hóa và những người yêu nghệ thuật cổ hiểu sâu hơn về ngôn ngữ tạo hình, biểu tượng tâm linh và tư tưởng thẩm mỹ của điêu khắc Phật giáo Champa. Hy vọng rằng, qua từng trang sách, độc giả không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của những pho tượng cổ mà còn thấy được tâm thức tôn nghiêm, niềm tin và khát vọng hướng thiện đã thấm sâu trong từng đường nét đá sa thạch Champa - một phần không thể tách rời của di sản văn hóa Việt Nam và nhân loại.
Lễ hội truyền thống là kết tinh của bản sắc văn hóa các dân tộc xứ Lạng, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với sự đa dạng của cộng đồng Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông…, Lạng Sơn hình thành một không gian văn hóa phong phú, trong đó lễ hội giữ vai trò trung tâm, phản ánh toàn diện đời sống xã hội và tinh thần của cư dân bản địa. Trước tác động của hiện đại hóa và công nghệ số, nhu cầu gìn giữ, nghiên cứu và phát huy lễ hội truyền thống càng trở nên cấp thiết, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và cội nguồn cộng đồng. Từ khảo sát thực tiễn và tư liệu nghiên cứu, cuốn sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn” được biên soạn nhằm giới thiệu những giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội người Tày trong bức tranh văn hóa Đông Bắc Việt Nam.
Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu các mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng để từ đó nhận diện những giá trị và đặc trưng văn hóa ứng xử của gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời góp phần bổ sung cơ sở cho các nghiên cứu so sánh giữa gia đình người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Qua đó, công trình hướng tới việc tiếp thu nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hóa, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa gia đình mang đậm bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
Cuốn sách tập trung làm rõ các đặc điểm ứng xử trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng dưới góc nhìn Nhân học trong cả chiều lịch đại và đồng đại; phân tích những biến đổi trong ứng xử gia đình dưới tác động của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với các tộc người cộng cư; đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long với gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Hồng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, công trình cũng đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng gia đình văn hóa, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa ứng xử trong gia đình ở Sóc Trăng trong điều kiện phát triển hiện nay.
Nội dung Bộ sách giới thiệu những thông tin cơ bản về đất nước và con người Lào, về những đặc trưng của đất nước Triệu Voi thông qua các lĩnh vực lịch sử - quân sự, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội,... cùng song hành trong thế tương quan so sánh với những đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, bộ sách còn đi sâu phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và những triển vọng kết nối trên tất cả lĩnh vực. Qua đó giúp cho việc triển khai hiệu quả kế hoạch hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới và cũng là nhằm hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, đặc biệt là với đất nước Lào; nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào, đúng như mong muốn và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt - Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”
Người Sán Dìu có nhiều tên gọi khác nhau như: Sán Dìu, Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc...Tháng 3-1960, Tổng cục Thống kê Trung ương đã đưa vào danh mục thống kê tên gọi Sán Dìu và từ đó đến nay, Sán Dìu đã trở thành tên gọi chính thức và phổ biến của tộc người này.
Theo số liệu thống kê năm 2019, người Sán Dìu đang sinh sống tại Bắc Giang với dân số 33.846 người, tập trung tại các huyện Lục Ngạn 26.236 người, huyện Lục Nam 4.237 người, Lạng Giang 1.584 người, Yên Thế 721 người.
Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, cấp sắc Đại Phan ….hàng năm bà con tảo mộ ngày 3/3 Tết thanh minh, ngày 5/5 cúng tổ tiên, dằm tháng bảy lễ cơm mới…các món ăn truyền thống như: xôi đỏ, bánh rợm, bánh chưng, bánh đỗ xanh, bánh đường…
Phụ nữ Sán Dìu thường mặc váy và chiếc váy của người Sán Dìu là một trong những nét độc đáo mang tính riêng biệt của dân tộc. Váy màu nâu đỏ, không khâu, gồm 2 hoặc 4 mảnh đính trên 1 cạp, có dải yếm, xà tích. Phụ nữ Sán Dìu thường quấn xà cạp bằng vải màu trắng hoặc màu nâu. Đồng bào hay đi dép quai ngang và guốc gộc. Phụ nữ có sung màu trắng đeo trên vai được làm từ dây dù, cước được bện bằng đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Sán Dìu, thời gian hoàn thành xong khoảng 1-2 tháng. Ngày nay phụ nữ Sán Dìu cũng mặc quần, áo sơ mi và đi dép nhựa, giày da, giày vải như người Kinh. Trang sức của người Sán Dìu có vòng tay, vòng cổ, khuyên tai bạc, dao.
Trước đây trong các dịp lễ Tết, hội hè hoặc đi chơi xa, đàn ông thường mặc hai áo, áo trong màu trắng, áo ngoài màu đen. Đó là loại áo 5 thân, cổ áo cài khuy bên phải, áo dài quá gối, ống tay hẹp. Ngày nay trong dân tộc Sán Dìu, nam giới mặc quần áo giống hệt người Kinh với các kiểu quần Âu, áo sơ mi nâu sòng, hồng đỏ, đi giày da, dép nhựa...
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc như một trang vàng chói lọi. Với ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần dũng cảm, kiên cường, bộ đội ta đã giữ vững Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm, góp phần tạo nên thắng lợi trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, đồng thời giữ vững vùng giải phóng, nơi bố trí trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Là người lính thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, rồi sau này là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48 (Thạch Hãn), đã từng trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị những năm tháng đó, tôi vô cùng xúc động mỗi khi nghĩ đến đồng đội của mình - những người vào sinh, ra tử trên chiến trường, họ luôn phải đối diện với bom đạn, chết chóc, nhưng vẫn hiên ngang, bình thản và tự tin vào chiến thắng. Trong những đồng đội ấy - những người lính kiên cường chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong lòng tôi.
Trong Chiến dịch Quảng Trị 1972 nói chung, cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị nói riêng, quân và dân Quân khu Thủ đô (trước đây) đã có những đóng góp vô giá. Những năm tháng đó, lớp lớp thanh niên Hà Nội - Hà Tây không ngại hy sinh, gian khổ sẵn sàng xung phong ra tiền tuyến với tinh thần “Ba sẵn sàng” và chí khí “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” chỉ mong Bắc – Nam sớm được sum họp một nhà. Thật khó có thể liệt kê, đong đếm hết được những tình cảm và đóng góp của quân và dân Thủ đô Hà Nội vì miền Nam ruột thịt trong những ngày tháng khó khăn ấy. Trong số hơn bốn nghìn chiến sỹ đã ngã xuống ở Mặt trận Thành cổ Quảng Trị năm 1972, riêng cán bộ, chiến sỹ người Hà Nội (bao gồm cả Hà Nội và Hà Tây trước đây) đã hy sinh 518 người, đứng đầu danh sách liệt sỹ của 30 tỉnh - thành phố trong cả nước có con, em chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Ngày 23/6/2015, Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội đã ra
Quyết định số 2872/QĐ-UBND về việc thành lập Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội. Với mục đích nghĩa tình đồng đội, tri ân liệt sỹ, phát huy truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”... ngay sau khi thành lập, Hội đã nhận được sự cổ vũ, giúp đỡ của các cấp ủy, chính quyền và đáp ứng nguyện vọng của hàng nghìn cựu chiến binh (CCB) đang sinh sống trên địa bàn Hà Nội. Cho đến nay, Hội đã tổ chức được 15 chi hội ở các quận, huyện, thị xã với số lượng trên 1.400 hội viên. Trong năm 2024, hướng tới kỷ niệm 10 năm thành lập Hội, đồng thời thiết thực kỷ niệm các Ngày lễ lớn của Quân đội và Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội đã chủ trương xuất bản cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa nhằm tri ân các anh hùng liệt sỹ, nâng cao niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mỗi hội viên Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị trong việc giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và lực lượng vũ trang (LLVT) Thủ đô trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong tình hình mới.
Cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 được kết cấu làm 2 phần. Phần 1 gồm các bài viết của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, các tướng lĩnh (những người đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu) và những ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội về cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.
Phần 2 là ký ức về 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Phần này chủ yếu tập hợp những bài viết của hội viên 15 chi hội. Với dung lượng gần 500 trang và hơn 70 bài viết dưới các thể loại, cuốn sách thực sự là một tư liệu quý giá. Thông qua những câu chuyện của những người trong cuộc, để lại cho người đọc những cảm xúc chân thật về những con người một thời không tiếc tuổi xuân và tính mạng của mình cho nền độc lập tự do của dân tộc. Qua những trang viết mộc mạc đơn sơ của những người lính trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972, người đọc nhận thấy khát vọng cống hiến của một thế hệ sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sự dũng cảm, hy sinh của các chiến sỹ năm xưa vẫn là nguồn cảm hứng mãnh liệt, thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống có lý tưởng, hoài bão, mang hết sức lực, tài năng cống hiến cho hòa bình, phát triển của Thủ đô Hà Nội và đất nước.
Cuốn sách giới thiệu một cách khái quát và hệ thống về tiểu vùng văn hóa xứ Quảng, bao gồm khu vực Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi. Tác phẩm được biên soạn theo hướng phổ biến kiến thức văn hóa, giúp người đọc tiếp cận những thành tựu nghiên cứu về văn hóa vùng từ góc nhìn địa – văn hóa một cách dễ hiểu và gần gũi.
Nội dung sách tập trung làm rõ quá trình hình thành và phát triển của xứ Quảng, những đặc trưng về con người, đời sống kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học nghệ thuật và các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu của vùng đất này. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh vai trò của nhiều thế hệ cư dân trên vùng đất Quảng trong việc tạo dựng nên bản sắc văn hóa riêng, giàu truyền thống nhưng cũng năng động, cởi mở và giàu sức sáng tạo.
Bên cạnh việc trình bày lịch sử văn hóa, sách còn giới thiệu hệ thống di sản văn hóa của xứ Quảng như các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình kiến trúc và những giá trị văn hóa đặc sắc đã góp phần tạo nên diện mạo riêng của vùng đất này trong tổng thể văn hóa Việt Nam.
Với văn phong giản dị, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách kể chuyện văn hóa hấp dẫn, cùng hệ thống hình ảnh minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa xứ Quảng và vị trí của tiểu vùng này trong không gian văn hóa Việt Nam.
“Tài Sản Số – Cơ Hội, Thách Thức Và Tương Lai Rộng Mở” là cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ về tài sản số, từ tiền mã hóa, blockchain đến các xu hướng công nghệ đang định hình nền kinh tế số. Sách phân tích những cơ hội đầu tư, kinh doanh và đổi mới mà tài sản số mang lại, đồng thời chỉ ra các rủi ro, thách thức về pháp lý, bảo mật và biến động thị trường. Với góc nhìn cân bằng và thực tiễn, tác phẩm giúp người đọc chuẩn bị kiến thức để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của kỷ nguyên số. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến tương lai của tài chính và công nghệ.
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới
Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045
Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045
Thông qua cuốn sách 100 điều nên biết về tiến trình văn hóa Việt Nam của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối liền bạn đọc với những tri thức chung phổ quát và các sắc màu văn hóa đặc sắc trong tiến trình văn hóa Việt Nam. Trải qua các thời kỳ lịch sử, những yếu tố văn hóa trong mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc và của cả quốc gia - dân tộc Việt Nam đã không ngừng tiếp xúc và hòa hợp, biến đổi và phát triển, để lại những dấu ấn sâu đậm trong tiến trình văn hóa Việt Nam. Văn hóa Việt Nam được nuôi dưỡng trên nền tảng truyền thống lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc, được bảo tồn và phát huy đã trở thành động lực sáng tạo, góp phần kiến tạo nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc