Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách ghi lại những suy nghĩ của tác giả về thời thế, cuộc sống trong từng giai đoạn khác nhau của lịch sử.
Nếu bạn đang tìm kiếm một "cuốn từ điển sống" về mảnh đất cửa ngõ phía Bắc tỉnh Nghệ – nơi giao thoa giữa hào khí oanh liệt của lịch sử và khát vọng vươn mình mạnh mẽ của một thị xã trẻ – thì "Hoàng Mai địa đầu xứ Nghệ" chính là một tác phẩm không thể bỏ lỡ.
Không chỉ dừng lại ở những con số hay sự kiện khô khan, cuốn sách là bản anh hùng ca về đất và người Hoàng Mai, được chắp bút bởi tâm huyết cả cuộc đời của Trung tướng, PGS.TS. Phan Đức Dư. Với hơn 10 năm miệt mài sưu tầm và thực địa, tác giả đã khéo léo khắc họa một bức tranh toàn cảnh rực rỡ: từ thuở khai thiên lập địa, những truyền thống văn hóa đặc sắc đến sự chuyển mình đầy tự hào sau 10 năm thành lập thị xã.
Lật mở từng trang sách, bạn sẽ cảm nhận được hơi thở của quê hương qua những dòng tư liệu quý giá, thấy được chiều sâu tâm hồn của một người con ưu tú dành trọn tình yêu cho nơi mình sinh ra. Đây không chỉ là một cuốn địa chí, mà còn là nhịp cầu nối quá khứ huy hoàng với tương lai rạng rỡ, là món quà tinh thần vô giá dành cho bất cứ ai muốn thấu hiểu và yêu thêm mảnh đất "địa đầu xứ Nghệ" đầy nắng gió nhưng cũng đầy tình người này.
Với cuốn sách nhỏ 100 điều nên biết về phân mốc trên Biển Đông của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối bạn đọc với những tri thức chung, những dấu ấn phân mốc và quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam. Tác giả đã nỗ lực kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học về biển đảo có liên quan, đối chiếu thẩm định và chuẩn hóa các thông tin để cung cấp cho bạn đọc những tri thức đáng tin cậy, có giá trị về chủ đề phân mốc trên Biển Đông.
Được coi là vùng đất cổ, là cửa ngõ thông thương với vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào Cai độc đáo với cảnh quan tươi đẹp, núi non hùng vĩ, là nơi cư trú của nhiều dân tộc với 25 nhóm, ngành khác nhau, như: Mông, Dao, Tày, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Kinh… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, bằng tài năng sáng tạo của con người cùng với sự đa dạng về các thành phần dân tộc, Lào Cai đã có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú về loại hình, độc đáo về bản sắc tộc người, với một hệ thống: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; phong tục tập quán; tri thức dân gian…
Từ khi được tái lập năm 1991, với bộn bề những khó khăn trong công cuộc tái thiết nền kinh tế, xã hội còn lạc hậu của một tỉnh miền núi nhưng các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã sớm chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các dân tộc.
Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 13 của Tỉnh ủy về phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015;
Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 8 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển văn hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành chương trình kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 25 nhóm, ngành dân tộc cư trú ở 500 thôn bản trên toàn tỉnh; lựa chọn và lập hồ sơ khoa học được 26 di sản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trong đó 02 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là: Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, Giáy và Nghi lễ Then của người Tày trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái”.
Bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở hình thành và tạo nên giá trị cốt lõi để phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn độc đáo, góp phần đưa Lào Cai trở thành một địa phương được đông đảo bạn bè trong nước và ngoài nước biết đến, thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai.
Trong những năm qua, Lào Cai luôn dẫn đầu các tỉnh phía Tây Bắc về số lượng khách du lịch. Năm 2019, lượng khách đến Lào Cai đạt gần 5 triệu lượt, doanh thu từ du lịch đạt 19.800 tỷ đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Có thể nói, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc của tỉnh Lào Cai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ðể có được những kết quả này, ngoài sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp thực hiện chặt chẽ của các sở, ngành, còn có sự chung tay của cộng đồng các dân tộc, của các nghệ nhân dân gian, những người am hiểu sâu sắc về vốn văn hóa truyền thống của dân tộc. Di sản văn hóa sẽ mãi tồn tại và phát triển, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ hội nhập.
Những vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn về vấn đề ảnh hưởng của thông tin tội phạm trên truyền hình đối với công chúng ở Việt Nam
Lễ hội truyền thống là kết tinh của bản sắc văn hóa các dân tộc xứ Lạng, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với sự đa dạng của cộng đồng Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông…, Lạng Sơn hình thành một không gian văn hóa phong phú, trong đó lễ hội giữ vai trò trung tâm, phản ánh toàn diện đời sống xã hội và tinh thần của cư dân bản địa. Trước tác động của hiện đại hóa và công nghệ số, nhu cầu gìn giữ, nghiên cứu và phát huy lễ hội truyền thống càng trở nên cấp thiết, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và cội nguồn cộng đồng. Từ khảo sát thực tiễn và tư liệu nghiên cứu, cuốn sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn” được biên soạn nhằm giới thiệu những giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội người Tày trong bức tranh văn hóa Đông Bắc Việt Nam.
Kỷ yếu hội thảo là sự kết tinh của nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, thể hiện tinh thần lao động khoa học nghiêm túc, trách nhiệm và tâm huyết của các tác giả. Nội dung các bài viết trong kỷ yếu tập trung vào nhiều chủ đề thiết thực và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc như: giáo dục vì sự phát triển bền vững; đổi mới phương pháp dạy học; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học liệu số và công nghệ mới trong giáo dục; giáo dục người lớn và học tập suốt đời; giáo dục kỹ năng sống; môi trường giao tiếp học đường; đồng thời đi sâu phân tích các vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong môi trường số, văn hóa ngôn ngữ, truyền thông số, quảng cáo, âm nhạc trẻ, du lịch văn hóa, không gian thiêng, cũng như hợp tác văn hóa – giáo dục trong khu vực và trên thế giới.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, sinh viên Việt Nam là bộ phận thanh niên ưu tú, có tri thức, sáng tạo, sống có ước mơ, hoài bão, có lý tưởng; là lực lượng quan trọng, giữ vai trò kế thừa, phát huy những thành quả cách mạng của Đảng, của dân tộc. Do đó, việc xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên là một trong những yếu tố quyết định đối với nhiệm vụ đào tạo, phát triển thế hệ trẻ Việt Nam, góp phần phát triển bền ững đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.
Công tác xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước nhiều yêu cầu, thách thức và những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ về lý luận và thực tiễn trong công tác xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế, từ đó phân tích, đánh giá chỉ ra những thành tựu và hạn chế. Trên cơ sở đó xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế là hết sức cần thiết.
Tác giả đã tiến hành biên soạn cuốn sách “Xây dựng đời sống tinh thần của sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập quốc tế”. Bằng những kinh nghiệm giảng dạy, học tập và nghiên cứu của mình tác giả hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo, nghiên cứu bổ ích cho bạn đọc quan tâm.
Cuốn sách Dẫn chương trình văn hóa nghệ thuật được biên soạn nhằm hệ thống hóa các tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động này. Nội dung sách được trình bày khoa học, kết cấu rõ ràng qua ba chương chính: Chương 1 cung cấp những khái niệm nền tảng và hệ thống lý luận về chương trình văn hóa nghệ thuật và vai trò của người dẫn chương trình như một chủ thể kết nối nội dung và cảm xúc cho khán giả. Chương 2 đi sâu vào kỹ năng viết lời dẫn, phân tích ngôn ngữ nghệ thuật và cấu trúc lời dẫn phù hợp với từng loại hình chương trình. Chương 3 tập trung vào kỹ thuật diễn đạt lời dẫn thông qua các phương tiện ngôn ngữ nói, phi ngôn ngữ và công cụ hỗ trợ trực quan, đồng thời hướng dẫn thực hành kỹ năng dẫn chương trình trên sân khấu.
Sách không chỉ cung cấp kiến thức lý luận mà còn kèm theo các ví dụ minh họa cụ thể và bài tập ứng dụng, nhằm hỗ trợ người học rèn luyện kỹ năng một cách thực tiễn và hiệu quả. Đây là tài liệu học tập hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, truyền thông, đồng thời là cẩm nang tham khảo dành cho các giảng viên, cán bộ tổ chức sự kiện, biên đạo và những người hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn văn hóa nghệ thuật. Với tinh thần gắn lý luận với thực tiễn, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng và phương pháp chuyên môn cho người dẫn chương trình, từ đó nâng cao chất lượng các chương trình văn hóa nghệ thuật - một thành tố quan trọng trong sự phát triển bền vững của đời sống văn hóa đương đại.