Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Nội dung sách được tiếp cận theo hướng liên ngành, kết hợp giữa lịch sử, địa lý, dân tộc học và văn hóa học để phân tích các yếu tố cấu thành không gian văn hóa xứ Đông, từ điều kiện tự nhiên, môi trường cư trú, cơ cấu làng xã đến hệ thống tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán, nghề thủ công truyền thống và các giá trị văn hóa dân gian. Đặc biệt, sách nhấn mạnh vai trò của xứ Đông trong tiến trình phát triển văn hóa dân tộc cũng như những đóng góp của vùng đất này đối với nền văn minh sông Hồng.
Cuốn sách ghi lại những suy nghĩ của tác giả về thời thế, cuộc sống trong từng giai đoạn khác nhau của lịch sử.
Với những giá trị văn hóa, nghệ thuật và tâm linh đặc sắc như vậy, ngày 01/12/2016, “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Cuốn sách này là một cố gắng nhỏ bé nhằm chuyển tải những kiến thức, hiểu biết cơ bản nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, bản chất, giá trị, vai trò của thực hành tín ngưỡng này trong đời sống tâm linh người Việt. Đây thực sự là một di sản văn hóa độc đáo được trao truyền từ quá khứ qua nhiều thế hệ, cần được hiểu đúng và nhận thức đầy đủ nhằm giữ gìn và phát huy những mặt tích cực trong xã hội đương đại.
Nội dung sách phân tích một cách hệ thống các yếu tố cấu thành không gian văn hóa Duyên hải Nam Trung Bộ như môi trường sinh thái biển, quá trình khai phá và định cư, cơ cấu cộng đồng dân cư, hệ thống tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công và văn hóa biển đảo.
Cuốn sách giới thiệu một cách khái quát và hệ thống về tiểu vùng văn hóa xứ Quảng, bao gồm khu vực Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi. Tác phẩm được biên soạn theo hướng phổ biến kiến thức văn hóa, giúp người đọc tiếp cận những thành tựu nghiên cứu về văn hóa vùng từ góc nhìn địa – văn hóa một cách dễ hiểu và gần gũi.
Nội dung sách tập trung làm rõ quá trình hình thành và phát triển của xứ Quảng, những đặc trưng về con người, đời sống kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học nghệ thuật và các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu của vùng đất này. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh vai trò của nhiều thế hệ cư dân trên vùng đất Quảng trong việc tạo dựng nên bản sắc văn hóa riêng, giàu truyền thống nhưng cũng năng động, cởi mở và giàu sức sáng tạo.
Bên cạnh việc trình bày lịch sử văn hóa, sách còn giới thiệu hệ thống di sản văn hóa của xứ Quảng như các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình kiến trúc và những giá trị văn hóa đặc sắc đã góp phần tạo nên diện mạo riêng của vùng đất này trong tổng thể văn hóa Việt Nam.
Với văn phong giản dị, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách kể chuyện văn hóa hấp dẫn, cùng hệ thống hình ảnh minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa xứ Quảng và vị trí của tiểu vùng này trong không gian văn hóa Việt Nam.
"Sóng căng đét – Ví khét lẹt" là ấn phẩm truyền thông của Cục Tần số Vô tuyến điện, được biên soạn nhằm phổ biến kiến thức về tần số vô tuyến điện, nâng cao nhận thức về việc sử dụng phổ tần và thiết bị vô tuyến đúng quy định, đồng thời truyền tải các thông tin chuyên ngành qua lối thể hiện gần gũi, sinh động và dễ tiếp cận với đông đảo bạn đọc.
Cuốn sách giới thiệu một cách hệ thống những thành tựu khoa học và công nghệ tiêu biểu của Việt Nam qua nhiều giai đoạn. Nội dung sách phản ánh trí tuệ, tâm huyết và sự cống hiến bền bỉ của các nhà khoa học đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Các công trình được vinh danh không chỉ có giá trị khoa học cao mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Thông qua việc khái quát bối cảnh, nội dung và giá trị của từng công trình, cuốn sách góp phần tôn vinh những đóng góp xuất sắc cho nền khoa học và công nghệ nước nhà. Đây cũng là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạch định chính sách khoa học. Cuốn sách đồng thời khơi dậy niềm tự hào và cảm hứng sáng tạo cho các thế hệ cán bộ khoa học và công nghệ Việt Nam.
Cuốn sách “Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ” giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất Nghệ An – Hà Tĩnh, nơi giàu truyền thống lịch sử và cách mạng. Tác phẩm khắc họa sinh động đời sống văn hóa, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội và các loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu của người dân xứ Nghệ. Đặc biệt, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về những nét đẹp của dân ca ví, giặm cùng tinh thần hiếu học, cần cù và nghĩa tình của con người nơi đây. Với nội dung phong phú và giàu tính nghiên cứu, sách góp phần bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của xứ Nghệ. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến văn hóa và lịch sử Việt Nam.
Nếu bạn đang tìm kiếm một "cuốn từ điển sống" về mảnh đất cửa ngõ phía Bắc tỉnh Nghệ – nơi giao thoa giữa hào khí oanh liệt của lịch sử và khát vọng vươn mình mạnh mẽ của một thị xã trẻ – thì "Hoàng Mai địa đầu xứ Nghệ" chính là một tác phẩm không thể bỏ lỡ.
Không chỉ dừng lại ở những con số hay sự kiện khô khan, cuốn sách là bản anh hùng ca về đất và người Hoàng Mai, được chắp bút bởi tâm huyết cả cuộc đời của Trung tướng, PGS.TS. Phan Đức Dư. Với hơn 10 năm miệt mài sưu tầm và thực địa, tác giả đã khéo léo khắc họa một bức tranh toàn cảnh rực rỡ: từ thuở khai thiên lập địa, những truyền thống văn hóa đặc sắc đến sự chuyển mình đầy tự hào sau 10 năm thành lập thị xã.
Lật mở từng trang sách, bạn sẽ cảm nhận được hơi thở của quê hương qua những dòng tư liệu quý giá, thấy được chiều sâu tâm hồn của một người con ưu tú dành trọn tình yêu cho nơi mình sinh ra. Đây không chỉ là một cuốn địa chí, mà còn là nhịp cầu nối quá khứ huy hoàng với tương lai rạng rỡ, là món quà tinh thần vô giá dành cho bất cứ ai muốn thấu hiểu và yêu thêm mảnh đất "địa đầu xứ Nghệ" đầy nắng gió nhưng cũng đầy tình người này.
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới
Trong những thập kỷ gần đây, trên hành tinh của chúng ta, những thuật ngữ “văn hóa”, “văn minh”, “truyền thống”, “văn hóa truyền thống” đã trở thành những từ khóa phổ biến mang tính thời thượng, được nhiều người quan tâm và nhắc đến trong cuộc sống và các phương tiện truyền thông. Đó là một điều có ý nghĩa và có thể hiểu được. Có lẽ trong cuộc sống thường ngày, chúng ta bị cuốn hút vào vòng xoáy của những lo toan và ganh đua kinh tế, lợi danh, mà đã lãng quên đi hoặc không còn thời giờ để dành cho việc suy nghĩ và chăm sóc đời sống tinh thần. Cái hiện tại cũng đang đè nặng lên những hành xử, choán hết không gian suy tư của con người, không còn chỗ đứng cho những hồi tưởng quá khứ. Mặt khác, nhìn rộng ra trên phạm vi toàn cầu, chúng ta đang đối diện với một thách thức là những va chạm xung đột giữa các nền văn minh, văn hóa đang tồn tại, lúc âm ỉ, khi bột phát. Có lẽ, sở dĩ ý thức được như vậy, mà hiện nay nhân loại đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo và kêu gọi về vấn đề văn hóa. Liên Hợp quốc, tổ chức UNESCO đã phát động Thập kỷ văn hóa, tổ chức năm Đối thoại những nền văn minh, ra nhiều nghị quyết, tuyên ngôn về đa dạng, đa nguyên và khoan dung văn hóa. Văn hóa là một lực lượng tinh thần, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, là ngọn nguồn, xung lực của phát triển xã hội. Tuy nhiên, văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản kìm hãm và phá hoại lịch sử, đời sống con người với những hậu quả và tổn thất khó lường. Ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn và đấu tranh văn hóa. Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng. Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi văn hóa. Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về nền văn hóa Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết. Nền văn hóa truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ? Có lẽ đó là những câu hỏi trăn trở mà người viết cố gắng tiếp cận khi đề ra mục đích khiêm tốn cho cuốn sách “Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn”, mong đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc chung to lớn. Tuy nhiên, gói gọn trong một vài trăm trang sách cả một nền văn hóa có hàng nghìn năm tuổi và trải ra trên một không gian xã hội rộng lớn nhiều vùng miền với nhiều đặc trưng khác biệt, quả thực là một điều không dễ dàng, đúng hơn là quá khó thực hiện. Các bộ thông sử thường ghi chép rất ít những tư liệu đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sách hiến chương và hội điển cũng chỉ cho biết thêm về những điển chế quan phương của nhà nước. Do đó, việc khảo cứu không thể không tìm đến những nguồn tư liệu khác, như văn hóa dân gian, dân tộc học và nhất là nguồn tài liệu thực địa “mắt thấy tai nghe” của những người nước ngoài. Điều “may mắn” là tốc độ chuyển biến của văn hóa truyền thống Việt Nam rất chậm, những hiện tượng văn hóa xảy ra ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể cũng là những hình ảnh gần như trung thực của văn hóa, xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ trước, do đó có thể coi là tư liệu gốc, những thông tin đương đại. Những thông tin này đã được ghi chép trong một số lớn sách báo của những tác giả người Pháp có mặt hoặc đã sống ở Việt Nam lúc bấy giờ. Vì vậy, người đọc sẽ có thể hiểu được và thông cảm vì sao, hình như tác giả cuốn sách có vẻ thiên vị khi sử dụng những tư liệu cổ nhiều hơn kim, trích dẫn những tác giả nước ngoài nhiều hơn các tác giả trong nước. Thực ra, những dữ kiện về văn hóa truyền thống của các tác giả lớn như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên là những tư liệu cơ bản rất quý báu mà người viết cố gắng khai thác, tận dụng. Tuy nhiên, để tôn trọng tính đương thời nguyên dạng, những tư liệu đương đại - được hiểu là từ sau năm 1945 - của các tác giả trong nước và nước ngoài đã được sử dụng và trích dẫn ở mức độ hạn chế, trừ khi cần nêu lên những luận điểm kiến giải. Sau khi cung cấp những thông tin - đôi khi rất quen thuộc, bình thường đối với lớp người lớn tuổi, nhưng chưa chắc các bạn trẻ đã hiểu biết cặn kẽ, việc khó khăn hơn là tổng hợp, phân tích, đánh giá. Chúng tôi cố gắng thoát khỏi những định kiến giáo điều trong việc khen chê. Một hiện tượng có thể là tích cực về mặt này, ở thời điểm này, nhưng rất có thể lại trở thành tiêu cực ở khía cạnh khác, trong thời điểm khác và ngược lại. Bản thân một sự kiện văn hóa nhiều khi cũng mang tính hai mặt. Văn hóa Việt Nam truyền thống càng không phải là một khối đơn nguyên, thuần nhất, mà là một cấu trúc lai tạo, lưỡng nguyên đối trọng. Chúng tôi cho rằng việc có khen có chê không phải là một thái độ chiết trung thiếu ý kiến rõ ràng, mà là một phong cách tư duy phức hợp, khai mở, khoa học và biện chứng của những người làm công tác nghiên cứu hiện đại.
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Huế của tác giả Hà Nguyễn là công trình giới thiệu toàn diện về một trong những tiểu vùng văn hóa đặc sắc và tiêu biểu của Việt Nam. Cuốn sách khái quát quá trình hình thành và phát triển của văn hóa xứ Huế, làm rõ những yếu tố tạo nên bản sắc riêng của vùng đất cố đô, nơi hội tụ và kết tinh nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nội dung sách đề cập đến con người xứ Huế, đời sống vật chất, kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và hệ thống di sản văn hóa phong phú của vùng đất này. Đặc biệt, tác phẩm nhấn mạnh nét văn hóa cung đình và tính cách thanh lịch, tinh tế của Huế, những giá trị vẫn được bảo tồn và phát huy trong đời sống đương đại. Với cách trình bày khoa học, dễ hiểu cùng nhiều tư liệu minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về vị trí, vai trò và những đóng góp của xứ Huế trong không gian văn hóa Việt Nam.
Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Người có thành công bắt đầu bằng việc kiên trì vượt qua những khó khăn, thử thách.
Ngày 21/02/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 219/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo, trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan chủ trì, điều phối thực hiện Đề án. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với PGS.TS Nguyễn Phú Lợi biên soạn, xuất bản cuốn sách “Sự chuyển biến của tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0”.
Nội dung cuốn sách gồm 2 phần:
Phần I: Sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0
Phần II: Sự chuyển biến của tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0
Nội dung cuốn sách được biên soạn khá công phu, khái quát nên một bức tranh tương đối toàn diện về sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0, góp phần vào việc hoạch định chính sách, phát huy các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước.
Cuốn sách giới thiệu khái quát những nét chính về 12 cộng đồng tộc người sinh sống ở các tỉnh ven biển và miền Trung, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Trong đó có 6 tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khmer, 2 tộc người nói ngôn ngữ Nam Đảo, 2 tộc người nói ngôn ngữ Việt - Mường và 2 tộc người nói ngôn ngữ Hán Quảng Đông. Diện mạo này cho thấy khu vực ven biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam là một vùng hỗn cư, gồm những nhóm tộc người thuộc 4 thành phần ngôn ngữ khác nhau vì ven biển là nơi cửa mở.
Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.