Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Nội dung cuốn sách "Xây dựng hợptác xã phát triển theo chuỗi giá trị dược liệu (Khu vực miền núi phía Bắc) (bản rút gọn)" góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dược liệu ở Việt Nam; phản ánh thực trạng hoạt động của các hợp tác xã dược liệu; phân tích vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững lĩnh vực này.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sách sẽ góp phần lan tỏa nhận thức về vai trò của hợp tác xã trong phát triển kinh tế dược liệu, góp phần thực hiện thành công các chương trình mục tiêu quốc gia, chiến lược phát triển dược liệu Việt Nam và nâng cao đời sống của người dân miền núi phía Bắc.
Trân trọng giới thiệu.
Trong những thập kỷ gần đây, trên hành tinh của chúng ta, những thuật ngữ “văn hóa”, “văn minh”, “truyền thống”, “văn hóa truyền thống” đã trở thành những từ khóa phổ biến mang tính thời thượng, được nhiều người quan tâm và nhắc đến trong cuộc sống và các phương tiện truyền thông. Đó là một điều có ý nghĩa và có thể hiểu được. Có lẽ trong cuộc sống thường ngày, chúng ta bị cuốn hút vào vòng xoáy của những lo toan và ganh đua kinh tế, lợi danh, mà đã lãng quên đi hoặc không còn thời giờ để dành cho việc suy nghĩ và chăm sóc đời sống tinh thần. Cái hiện tại cũng đang đè nặng lên những hành xử, choán hết không gian suy tư của con người, không còn chỗ đứng cho những hồi tưởng quá khứ. Mặt khác, nhìn rộng ra trên phạm vi toàn cầu, chúng ta đang đối diện với một thách thức là những va chạm xung đột giữa các nền văn minh, văn hóa đang tồn tại, lúc âm ỉ, khi bột phát. Có lẽ, sở dĩ ý thức được như vậy, mà hiện nay nhân loại đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo và kêu gọi về vấn đề văn hóa. Liên Hợp quốc, tổ chức UNESCO đã phát động Thập kỷ văn hóa, tổ chức năm Đối thoại những nền văn minh, ra nhiều nghị quyết, tuyên ngôn về đa dạng, đa nguyên và khoan dung văn hóa. Văn hóa là một lực lượng tinh thần, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, là ngọn nguồn, xung lực của phát triển xã hội. Tuy nhiên, văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản kìm hãm và phá hoại lịch sử, đời sống con người với những hậu quả và tổn thất khó lường. Ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn và đấu tranh văn hóa. Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng. Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi văn hóa. Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về nền văn hóa Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết. Nền văn hóa truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ? Có lẽ đó là những câu hỏi trăn trở mà người viết cố gắng tiếp cận khi đề ra mục đích khiêm tốn cho cuốn sách “Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn”, mong đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc chung to lớn. Tuy nhiên, gói gọn trong một vài trăm trang sách cả một nền văn hóa có hàng nghìn năm tuổi và trải ra trên một không gian xã hội rộng lớn nhiều vùng miền với nhiều đặc trưng khác biệt, quả thực là một điều không dễ dàng, đúng hơn là quá khó thực hiện. Các bộ thông sử thường ghi chép rất ít những tư liệu đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sách hiến chương và hội điển cũng chỉ cho biết thêm về những điển chế quan phương của nhà nước. Do đó, việc khảo cứu không thể không tìm đến những nguồn tư liệu khác, như văn hóa dân gian, dân tộc học và nhất là nguồn tài liệu thực địa “mắt thấy tai nghe” của những người nước ngoài. Điều “may mắn” là tốc độ chuyển biến của văn hóa truyền thống Việt Nam rất chậm, những hiện tượng văn hóa xảy ra ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể cũng là những hình ảnh gần như trung thực của văn hóa, xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ trước, do đó có thể coi là tư liệu gốc, những thông tin đương đại. Những thông tin này đã được ghi chép trong một số lớn sách báo của những tác giả người Pháp có mặt hoặc đã sống ở Việt Nam lúc bấy giờ. Vì vậy, người đọc sẽ có thể hiểu được và thông cảm vì sao, hình như tác giả cuốn sách có vẻ thiên vị khi sử dụng những tư liệu cổ nhiều hơn kim, trích dẫn những tác giả nước ngoài nhiều hơn các tác giả trong nước. Thực ra, những dữ kiện về văn hóa truyền thống của các tác giả lớn như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên là những tư liệu cơ bản rất quý báu mà người viết cố gắng khai thác, tận dụng. Tuy nhiên, để tôn trọng tính đương thời nguyên dạng, những tư liệu đương đại - được hiểu là từ sau năm 1945 - của các tác giả trong nước và nước ngoài đã được sử dụng và trích dẫn ở mức độ hạn chế, trừ khi cần nêu lên những luận điểm kiến giải. Sau khi cung cấp những thông tin - đôi khi rất quen thuộc, bình thường đối với lớp người lớn tuổi, nhưng chưa chắc các bạn trẻ đã hiểu biết cặn kẽ, việc khó khăn hơn là tổng hợp, phân tích, đánh giá. Chúng tôi cố gắng thoát khỏi những định kiến giáo điều trong việc khen chê. Một hiện tượng có thể là tích cực về mặt này, ở thời điểm này, nhưng rất có thể lại trở thành tiêu cực ở khía cạnh khác, trong thời điểm khác và ngược lại. Bản thân một sự kiện văn hóa nhiều khi cũng mang tính hai mặt. Văn hóa Việt Nam truyền thống càng không phải là một khối đơn nguyên, thuần nhất, mà là một cấu trúc lai tạo, lưỡng nguyên đối trọng. Chúng tôi cho rằng việc có khen có chê không phải là một thái độ chiết trung thiếu ý kiến rõ ràng, mà là một phong cách tư duy phức hợp, khai mở, khoa học và biện chứng của những người làm công tác nghiên cứu hiện đại.
Cuốn sách “Tư duy mới, cách làm đột phá (Tài liệu thông tin đối ngoại về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng – Quyển 2)” giới thiệu những nội dung cốt lõi và điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, thể hiện tư duy đổi mới và khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nội dung sách làm rõ các định hướng chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu quả. Qua đó, cuốn sách góp phần tuyên truyền, lan tỏa hình ảnh một Việt Nam đổi mới, chủ động và hội nhập sâu rộng với thế giới. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ tiếp cận, đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho cán bộ, đảng viên, đội ngũ làm công tác thông tin đối ngoại và đông đảo bạn đọc quan tâm đến định hướng phát triển của đất nước. Tin tưởng rằng, cuốn sách sẽ góp phần củng cố niềm tin, khơi dậy khát vọng phát triển và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội.
Cuốn sách “Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long” giúp người đọc khám phá những nét đặc sắc của vùng đất cực Nam Tổ quốc. Tác phẩm giới thiệu đời sống văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng của cư dân nơi đây. Qua đó, người đọc hiểu rõ hơn sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và Chăm trong vùng. Với nội dung phong phú và cách trình bày dễ hiểu, cuốn sách góp phần làm nổi bật bản sắc văn hóa độc đáo của Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai yêu thích và muốn tìm hiểu về văn hóa Việt Nam.
Báo cáo về sự phát triển của phong trào cộng sản quốc tế (2022 -2023) - Sách vàng về phong trào cộng sản quốc tế (Annual report on development of international communist movements (2022 -2023)
Cuốn cẩm nang là tài liệu thuyết minh chuyên sâu về các điểm du lịch gắn với các chủ đề về dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng, giúp cho hướng dẫn viên nhận thức đầy đủ ý nghĩa và giá trị văn hóa dân tộc, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng của đất nước, góp phần truyền bá và lan toả tới cộng đồng, du khách trong và ngoài nước để từ đó phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Bộ tài liệu bao gồm những kiến thức chung về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam và những giá trị đặc sắc gắn vói các di tích, điểm du lịch tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, giúp cho hướng dẫn viên có thể xây dựng được những bài thuyết minh đúng cấu trúc, nội dung phong phú, hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu của khách du lịch.
Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách gửi tới bạn đọc thông điệp: Cha mẹ là tấm gương phản chiếu rõ nét nhất của con cái. Vì vậy cha mẹ cần có lời nói hay và hành động tốt để làm gương và giáo dục con trẻ.
Cuốn sách Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số dày dặn (hơn 400 trang), bao gồm 2 phần: - Phần I: Nghiên cứu về văn học các DTTS dưới góc độ thể loại; - Phần II: Phê bình tác giả, tác phẩm văn học DTTS. Đây thực sự là một cuốn sách vừa công phu, có tính lý luận, tính thực tiễn, tính khoa học lại vừa có chất tài hoa, nghệ sĩ của một nhà thơ làm lý luận phê bình văn học. Điểm nhấn của cuốn sách chính là phần tác giả viết về tình hình và đặc điểm của mảng nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS Việt Nam (Chương 3 - Phần I). Đây có lẽ là phần viết có tính mới, tính khoa học rõ rệt nhất và cũng là phần đóng góp mới, có giá trị của nhà nghiên cứu, phê bình Trần Thị Việt Trung - trong việc bổ sung, hoàn thiện bức tranh chung của đời sống lý luận phê bình văn học Việt Nam sau 1945. Bởi trong các công trình nghiên cứu về lý luận phê bình văn học Việt Nam nói chung hiện nay - hầu như mảng lý luận phê bình văn học DTTS còn rất ít được nhắc tới; hoặc có được nhắc tới (trong một số bài báo, bài nghiên cứu lẻ) thì cũng mới chỉ ở dạng điểm qua, thiếu tính hệ thống và chưa có cái nhìn toàn diện. Phần II của cuốn sách (phê bình tác giả, tác phẩm) với lối viết phê bình, lối dựng chân dung đầy sắc sảo, tài hoa đã thể hiện khá rõ chất “nữ tính” trong từng trang viết của tác giả. Dồn bao tình cảm, trí tuệ và sự đam mê của mình vào việc nghiên cứu văn học các DTTS - PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã mang đến cho bạn đọc cả nước nói chung, đồng bào các DTTS nói riêng những tác phẩm, những công trình nghiên cứu đầy công phu và tâm huyết của mình.
Truyện tranh Truy tìm thủ phạm giấu mặt đặt kiến thức vào bối cảnh cuộc sống, mong muốn gửi đến người đọc một thông điệp gần gũi nhưng rất thiết thực: trong cuộc sống hiện đại, nhiều thiết bị quen thuộc sử dụng sóng vô tuyến như smartkey, điều khiển từ xa, chuông báo, adapter... có thể vô tình gây ảnh hưởng lẫn nhau nếu xảy ra lỗi hoặc nhiễu tín hiệu.
Với mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối liền bạn đọc về với lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn trân trọng giới thiệu cuốn sách 100 điều nên biết về lịch sử Việt Nam của tác giả Hà Nguyễn đến tay bạn đọc. Việt Nam là đất nước có lịch sử lập quốc sớm trong khu vực, được xác định vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên. Quốc gia - dân tộc Việt Nam đã trải qua tiến trình hàng nghìn năm không ngừng đấu tranh dựng nước và giữ nước, trải bao lần thống nhất và chia cắt, với những bước thăng trầm và khuất khúc, từ các không gian văn hóa - văn minh Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo gắn với các quốc gia cổ đại Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc, Champa ở miền Trung và Phù Nam ở miền Nam, kéo dài liên tục đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay.
Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững” tập trung làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của rừng đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh sinh thái quốc gia. Nội dung sách cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn về quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và chuyển đổi xanh. Tác phẩm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng trong gìn giữ “lá phổi xanh” của đất nước vì sự phát triển bền vững hôm nay và mai sau.
Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.
Cuốn sách giới thiệu những di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bằng sông Hồng nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương