Văn hóa - Xã hội
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc (bản rút gọn)
TS. Trần Thị Thủy

Cuốn sách Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc gắn bảo tồn văn hóa tộc người với phát triển du lịch cộng đồng ở các địa bàn tiêu biểu như Mai Châu, Mộc Châu và Sa Pa. Dựa trên kết quả nghiên cứu và điền dã thực địa, sách đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa vùng cao.

171 lượt xem
Văn hóa chiến lược của Ấn Độ - Xây dựng chính sách an ninh quốc gia
Shrikant Paranjpe
Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ có nền tảng vững chắc từ lâu đời, khởi nguồn từ những mối liên hệ và giao lưu lịch sử sâu xa về văn hóa - tôn giáo - thương mại. Mối quan hệ đó không ngừng được phát huy và được nâng lên một tầm cao mới nhờ sự tạo dựng, vun đắp của hai vị lãnh tụ tiền bối, hai nhà văn hóa kiệt xuất là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Jawaharlal Nehru, cùng các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước. Thủ tướng J.Nehru cũng chính là một trong những vị khách đầu tiên đến thăm Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Tháng 02/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm và làm việc tại Ấn Độ. Kể từ đó, các chuyến thăm cấp cao giữa hai bên ngày càng được tăng cường. Hơn nửa thế kỷ qua, tuy tình hình của mỗi nước Việt Nam, Ấn Độ, tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động, cũng như sự đan xen phức tạp của các mối quan hệ quốc tế, nhưng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ vẫn “trong sáng như bầu trời không một gợn mây”. Câu nói này của Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ những năm 1980 vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay và vẫn được các thế hệ lãnh đạo hai nước nhắc lại như một câu châm ngôn khi nói đến mối tình keo sơn, ngày càng phát triển giữa hai dân tộc. Năm 2017 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Ấn Độ khi hai nước kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (07/01/1972 - 07/01/2017) và 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược (tháng 7/2007 - 7/2017). Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội Hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ tổ chức xuất bản Bộ sách về đất nước, con người Ấn Độ, gồm 8 cuốn: 1. Ấn Độ: Đất nước - Xã hội - Văn hóa. 2. Kinh tế Ấn Độ - Tiến trình tự lực, tự cường. 3. Người Ấn Độ - Sự thật về lý do tại sao thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ Ấn Độ. 4. Người Ấn Độ thích tranh luận. 5. Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, năng lượng. 6. Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực văn hóa. 7. Văn hóa chiến lược của Ấn Độ - Xây dựng chính sách an ninh quốc gia. 8. Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới, tầm nhìn mới. Nội dung Bộ sách giới thiệu về lịch sử, văn hóa, kinh tế và con người Ấn Độ; làm nổi bật văn hóa chiến lược của Ấn Độ trong xây dựng chính sách an ninh quốc gia qua các thời kỳ lịch sử; đặc biệt là các công trình khoa học của các chuyên gia Việt Nam và Ấn Độ về mối quan hệ giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực văn hóa, kinh tế.
2453 lượt xem
Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ
TS. Nguyễn Thị Thanh Vân

Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.

373 lượt xem
Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các tỉnh phía bắc
PSG. TS Hoàng Lương
Cuốn sách “Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam - các tỉnh phía Bắc” giúp người đọc nắm bắt một cách có hệ thống, toàn diện những nghi thức, nghi lễ và nội dung của các lễ hội, các hình thái tín ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam. Qua đó, có thể thấy rõ vai trò quan trọng của lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng để trân trọng, kế thừa phát huy những cái hay, nét đẹp của chúng góp phần xây dựng nền văn hóa các dân tộc Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nội dung cuốn sách gồm 3 phần: Phần I: Lý thuyết chung về lễ hội truyền thống các dân tộc ở Việt Nam. Phần II: Một số lễ hội tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam. Phần III: Những giá trị của lễ hội tiêu biểu các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam. Phần IV: Một số hình ảnh minh họa của lễ hội truyền thống.
2480 lượt xem
Cộng đồng tộc người ở Nam Bộ và Tây Nguyên
Chu Thái Sơn

Tây Nguyên là vùng đất của các cao nguyên miền tây Trung Bộ, nằm ở sau dãy núi Trường Sơn Nam, còn gọi là Tây Trường Sơn. Các cao nguyên ở đây có độ cao từ 1.200m, xuống đến 500m. Từ bắc qua nam có các cao nguyên nổi tiếng như:

Ở đầu bắc có cao nguyên Kon Plông nằm giữa hai dãy núi An Khê về phía đông và Ngọc Krinh về phía tây. Tiếp sau là cao nguyên Kon Hà Nừng rồi đến cao nguyên Pleiku rộng lớn. Tại miền Trung Tây Nguyên có cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên M’đrăk về phía đông; cao nguyên Đăk Nông về phía tây. Xuống nam Tây Nguyên có các cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên), cao nguyên Đran (Đơn Dương) và cao nguyên Blao (Bảo Lộc). Ranh giới phía nam các tỉnh Đăk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) và Lâm Đồng là vùng đất Nam bộ với đồng bằng sông Cửu Long và miền đất cao ở phía đông.

Ngoài cư dân Việt (Kinh), trên toàn khu vực nói trên là địa bàn sinh sống chủ yếu của 15 tộc người, trong đó 11 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, chiếm quá nửa số lượng tộc người nhóm Môn - Khmer trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó là 3 trong số 5 tộc người nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesian thuộc ngữ hệ Nam Đảo; và chỉ có duy nhất một tộc người Hoa được giới thiệu ở tập hợp này.

Về tộc người Hoa thì tổ tiên họ lần hồi có mặt trên vùng núi Bắc Bộ từ thời Bắc thuộc. Còn tại Nam Bộ, họ mới di cư tới từ năm 1679 vào đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (tức Chúa Hiền). Với những cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer thì bán đảo Đông Dương đã là nơi sinh tụ của tổ tiên họ từ nhiều thiên niên kỷ trước Công nguyên, khi mà những tộc người có nguồn gốc Nam Đảo còn chưa có mặt trên đồng bằng ven biển miền Trung và các cao nguyên miền Tây Trung Bộ như ngày nay.

Cuốn sách này giới thiệu khái quát những nét chính về 15 cộng đồng tộc người sinh sống ở khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Đặc biệt nhấn mạnh về văn hóa truyền thống ở 11 tộc người Môn - Khmer với nhiều thang bậc phát triển từ thấp đến cao, và lưu giữ được nhiều thành tố văn hóa từ rất xa xưa, soi tỏ không ít những dấu ấn của văn hóa truyền thống hiện tồn. Trên đất nước Việt Nam, cộng đồng ngôn ngữ Môn - Khmer có 21 tộc người. Họ phân bố dân cư ở 3 khu vực với những ảnh hưởng khác nhau từ các địa bàn cư trú. Khu vực Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ có quá nửa số lượng tộc người. Văn hóa cội nguồn còn lưu giữ được dưới nhiều dạng tồn tại khác nhau, ít chịu ảnh hưởng văn hóa ngoại tộc.

Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.

Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, sơ suất, chúng tôi rất mong bạn đọc lượng thứ và xin nhận được những góp ý chân thành.

4517 lượt xem
85 Chân dung Văn hóa, Văn chương Việt - Tập 1
GS. Phong Lê

Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”, và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội. 

Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp. 

Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập. 

Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh. 

Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được. 

m 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.

Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.

5700 lượt xem
Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

644 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững
TS. Trần Văn Miều

Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.

360 lượt xem
Hanoi cultural and historical relics
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Hanoi is the capital and center of the entire country, where all cultural values and quintessences of the nation have been converged. It is hard to find any place that is as rich in historical relics as Hanoi. It is here where every single location or street is associated with legends and triumphs of the ancestors and previous generations. Such sites as Co Loa, Hoan Kiem, Dong Da, Ba Dinh contain in themselves historical events, important periods, and reflect invincible strength and talents of Vietnamese people throughout the history of thousand years of national buiding. Just a feature in the architecture of One Pillar Pagoda, or the ambiance of Temple of Literature could brighten the thousand-year historical and cultural tradition of Vietnam. Historical and cultural relics of Hanoi are invaluable evidences of our thousand-year civilization. They constitute themselve as precious pearls and sacred artifacts of the Thang Long - Dong Do - Ha Noi. They represent internal vitality that has been built up from sweat and blood of numerous generations of Vietnamese people in general and Hanoians in particular. They are solid foudation to build a stable high rise which eyewitness our heroic and glorious past. Being not only valuable heritages, they also speak for the fine features of Hanoians and Vietnamese people and reflect the souls that imbued sacred values of thousand-year civilised lavel. Thang Long - Hanoi is about to celebrate its 1000th anniversary. There are also thousands of historical and cultural relics, which serve as a bridge between old Thang Long in the past and Hanoi at the present, linking the past, the present and the future. To love Thang Long - Hanoi and respect our ancient heritage, first and foremost one should show his/her love, respect for and promote the values of historical and cultural relics of Thang Long - Hanoi.
1981 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 4 - Người con hiếu thảo
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách khuyên nhủ chúng ta cần yêu thương, quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ từ những việc thiết thực hằng ngày và nỗ lực vượt lên hoàn cảnh khó khăn – để xứng đáng là những người con hiếu thảo

2712 lượt xem
Hồ sơ văn hóa Mỹ (A File on American Culture)
Hữu Ngọc
Trong không khí trao đổi văn hóa quốc tế từ sau cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, vấn đề tìm hiểu văn hóa Mỹ được đặt ra, nhất là sau khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận (1994). Ở nước ta, có một kho tàng trước tác phong phú bằng tiếng Việt về những nền văn hóa châu Á - đặc biệt về Trung Quốc, Ấn Độ - và các nước Đông Âu. Đối với các nền văn hóa phương Tây, chúng ta biết rõ nhất là văn hóa Pháp. Đối với văn hóa Mỹ, nhất là ở phía Bắc vĩ tuyến 17, chúng ta chưa có một cuốn sách nào trình bày một cách sâu sắc và có hệ thống. Trong khi chờ đợi một tác phẩm bác học và toàn vẹn như thế, chúng tôi muốn đóng góp một phần khiêm tốn vào vấn đề ấy. Sách này bắt đầu bằng hai câu hỏi: “Có một nền văn hóa Mỹ hay không? Nếu có thì cái hay cái dở của nó như thế nào?” Chúng tôi đặt hai câu hỏi này cho hơn một chục bạn ở Mỹ (da trắng, da đen, da đỏ), Anh, Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Luxembourg; những bài trả lời được in nguyên, không bình luận, coi như bản dạo đầu với vấn đề. Cuốn sách là những cảm tưởng, ghi chép, bài nghiên cứu, phóng sự, phỏng vấn, đối thoại, bản dịch thơ và văn xuôi, bản tóm tắt tác phẩm, có cả thống kê và bảng khái quát, - đa số của tác giả, nhưng cũng có những đóng góp của bạn bè Mỹ và người nước ngoài khác, một số bài của báo chí quốc tế. Cuốn sách này là một tập Hồ sơ văn hóa Mỹ. Vì là hồ sơ nên không khỏi không có ý lặp lại hoặc đối lập. Chúng tôi tôn trọng sự tự do lựa chọn của độc giả.
2773 lượt xem
100 điều nên biết về phong tục cưới hỏi các dân tộc Việt Nam
Ha Nguyen

Hôn nhân không chỉ là bước chuyển trọng đại trong chu kỳ vòng đời người mà còn là một sự kiện quan trọng đối với mỗi gia đình, dòng họ, làng xóm... Ngoài các quy định của pháp luật, hôn nhân cần được xác lập thông qua các phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi của các dân tộc Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời khác và luôn biến đổi theo thời gian. Bởi vậy, phong tục cưới hỏi không chỉ là một trong những nghi lễ quan trọng của chu kỳ vòng đời người, mà còn phản ánh rõ nét
đặc điểm văn hóa tộc người với những dấu ấn truyền thống và hiện đại. Từ xưa đến nay, các dân tộc Việt Nam đều rất chú trọng phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi vừa là một sinh hoạt văn hóa tâm linh, vừa là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phong tục cưới hỏi chứa đựng các giá trị văn hóa truyền thống đã được chắt lọc, kết tinh qua nhiều thế hệ, như lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa nghệ thuật... và có tác động sâu sắc đến việc hình thành cốt cách, tình cảm, diện mạo văn hóa của cá nhân và cộng đồng. Phong tục cưới hỏi là một phần không thể thiếu đối với mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng, một thành tố quan trọng góp phần cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

5509 lượt xem
Danh nhân Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Thăng Long - Hà Nội là miền đất thiêng của dân tộc Việt Nam, nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”. Chính nơi đây đã sản sinh và hun đúc nên nhiều bậc danh nhân hào kiệt, những tấm gương sáng chói trong suốt dặm dài lịch sử. Hàng ngàn năm qua, suốt từ buổi đầu lập nước cho đến hôm nay, dường như không lúc nào trên mảnh đất này lại vắng bóng những con người góp phần làm nên lịch sử. Họ là những vì sao lấp lánh trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Danh nhân Hà Nội, những người con sinh ra và trưởng thành trên vùng đất ngàn năm thương nhớ, đã đem tài trí, sức lực của mình xây dựng, gìn giữ quê hương, đồng thời có vai trò quan trọng trong xã hội, góp phần quyết định tới dòng chảy của lịch sử dân tộc. Họ đã khắc ghi tên mình và tên quê hương (Thăng Long - Hà Nội) vào lịch sử bằng danh tiếng, chiến tích và công lao trong trọn một đời tận tuỵ cống hiến cho Tổ quốc, cho quê hương. Thăng Long - Hà Nội sắp tròn 1000 năm tuổi. Thăng Long - Hà Nội đang mở ra thời kỳ phát triển mới với sức sống mãnh liệt của mảnh đất ngàn năm. Điểm lại một số gương mặt tiêu biểu của Thủ đô, các danh nhân Thăng Long - Hà Nội, để thấy lại những con người đã bằng trí tuệ và tâm hồn, sức lực và tâm huyết, đã góp phần đáng kể tạo tác nên một cốt cách Thăng Long thanh cao và bất hủ, sống mãi ngàn năm...
5424 lượt xem
Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Thủ đô Hà Nội là trung tâm của cả nước, nơi hội tụ tinh hoa văn hoá dân tộc. Ít có nơi nào lưu giữ được nhiều chứng tích lịch sử như thành phố Hà Nội. Nơi đây, mỗi địa danh, mỗi đường phố đều gắn với các sự tích, chiến công của ông cha. Những địa danh như Cổ Loa, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình... chứa đựng những dấu ấn, ghi nhớ những chặng đường lịch sử quan trọng, thể hiện ý chí bất khuất và tài năng của nhân dân Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Một nét kiến trúc Chùa Một Cột, tổng hòa không gian Văn Miếu - Quốc Tử Giám... đều góp phần làm rạng rỡ truyền thống lịch sử - văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là chứng tích vô giá của truyền thống ngàn năm văn vật, là viên ngọc quý, là cổ vật thiêng liêng của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là biểu tượng của sức sống nội tại, được dựng xây từ mồ hôi công sức và cả xương máu của lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng. Đó là những tảng đá nền kê chân cột để tạo dựng tòa nhà cao vững, vừa là bằng sắc để minh chứng cho quá khứ huy hoàng, vừa là di sản quý giá, là nét vàng son của phẩm chất đặc trưng cho con người Hà Nội, con người Việt Nam, vừa là linh hồn truyền tải những giá trị thiêng liêng của mảnh đất ngàn năm văn vật. Thăng Long - Hà Nội sắp bước qua tuổi ngàn năm. Thăng Long - Hà Nội có hàng ngàn di tích lịch sử - văn hóa. Các di tích lịch sử - văn hóa chính là một cây cầu kết nối Thăng Long xưa với Hà Nội nay, nối liền quá khứ - hiện tại - tương lai. Yêu Thăng Long - Hà Nội, trân trọng di sản của ông cha, trước hết và hơn hết là yêu, trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
3743 lượt xem
Cơ cấu tổ chức và lãnh đạo ngành Khoa học và Công nghệ qua các thời kỳ (từ năm 1945 đến nay)
Bộ Khoa học và Công nghệ

Cuốn sách “Cơ cấu tổ chức và lãnh đạo ngành Khoa học và Công nghệ qua các thời kỳ (từ năm 1945 đến nay)” khái quát quá trình hình thành và phát triển của ngành Khoa học và Công nghệ Việt Nam gắn liền với lịch sử cách mạng và xây dựng đất nước. Nội dung sách hệ thống hóa sự thay đổi về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ qua từng giai đoạn lịch sử. Qua đó, cuốn sách làm rõ vai trò của đội ngũ lãnh đạo ngành trong việc hoạch định đường lối, chính sách và thúc đẩy sự phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các mốc chuyển đổi quan trọng phản ánh sự thích ứng của ngành trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Đây là tài liệu có giá trị tham khảo đối với công tác nghiên cứu lịch sử ngành, quản lý nhà nước và đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Cuốn sách đồng thời góp phần khơi dậy niềm tự hào về truyền thống và những đóng góp của ngành Khoa học và Công nghệ trong suốt gần tám thập niên qua.

231 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản Rút gọn)
TS. Trần Văn Miều

“Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” giới thiệu những nội dung cốt lõi về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên biển, hải đảo trong bối cảnh phát triển hiện nay. Ấn phẩm cung cấp các thông tin khái quát về thực trạng, thách thức và định hướng quản lý, khai thác hợp lý gắn với bảo tồn hệ sinh thái. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ tiếp cận, tài liệu góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hành động vì mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam.

166 lượt xem