Văn hóa - Xã hội
ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)
Trần Xuân Hiệp, Trương Công Vĩnh Khanh

Sau những thể nghiệm đầu tiên về việc thành lập một tổ chức khu vực với sự tham gia của tất cả các quốc gia Đông Nam Á từ những năm 1960, cuối cùng một tổ chức chính thức đã ra đời vào ngày 08/8/1967, mang tên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trải qua những thăng trầm lịch sử, sự tồn tại và phát triển của ASEAN là minh chứng cho tình đoàn kết chặt chẽ của các nước Đông Nam Á. Từ khi thành lập với ASEAN-6, từng bước kết nạp thêm các thành viên mới để trở thành ASEAN-10, và đến năm 2015, Cộng đồng ASEAN (AC) đã được xây dựng, củng cố trên ba trụ cột: Cộng đồng An ninh - Chính trị (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC), Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC).
Sau 55 năm xây dựng và trưởng thành (1967 - 2022), ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trước hết, ASEAN đã tạo cho mình một vị thế mới, với vai trò là trung tâm trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, ủng hộ như EAS, ARF, ASEAN+1, ASEAN+3, RCEP, ADMM+ nhìn chung đều được các cường quốc và đối tác trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương đón nhận. Ở cấp độ quốc gia, một số thành viên của ASEAN đã và đang tận dụng tốt sự cạnh tranh chiến lược, vị thế địa chính trị và các lợi thế riêng khác của mình để đóng vai trò lớn hơn trong xây dựng cấu trúc hợp tác khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, ASEAN đã gặt hái được những thành công ấn tượng về kinh tế, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba ở châu Á, sau Trung Quốc và Nhật Bản. Hơn nữa, tiến trình hội nhập của ASEAN đánh dấu một cột mốc, giai đoạn quan trọng mới với việc tuyên bố thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, mở ra một trang mới trong tiến trình liên kết kinh tế gắn chặt hơn. Về văn hóa - xã hội, ASEAN cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, thu hút sự tham gia của người dân và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân: thu hút sự tham gia của các nhóm, giới và các tiến trình của ASEAN; tăng quyền cho người dân và tăng cường các thể chế đảm bảo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được rất đáng khâm phục, ASEAN hiện nay vẫn đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức. Khu vực Đông Nam Á được xác định là trung tâm của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và cũng là điểm mấu chốt của sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, Đông Nam Á trở thành “đấu trường” can dự, lôi kéo, tập hợp lực lượng nhằm kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau. Ngoài ra, xuất phát từ lợi ích chiến lược, nội bộ ASEAN cũng có những vấn đề gây cản trở cho sự thống nhất cần có của một cộng đồng, chưa thật sự đoàn kết và đôi khi là những bất đồng giữa các nước thành viên về các nội dung liên quan. Điều này khiến cho sức mạnh chung của khu vực bị ảnh hưởng, có phần giảm sút khi đối diện với các vấn đề quốc tế cần tiếng nói của tập thể.
Với tầm quan trọng về vị trí địa chiến lược, địa kinh tế, địa văn hóa, ASEAN đã, đang và sẽ là nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng của khu vực Đông Nam Á cũng như Ấn Độ - Thái Bình Dương, đồng thời là nhân tố trung tâm của nhiều định chế hợp tác trong khu vực. Cuốn sách “Cộng đồng ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)” ra đời trong thời điểm ASEAN hướng đến kỷ niệm 55 năm ngày thành lập sẽ tạo thêm nhiều động lực cho chúng ta cùng chung tay xây dựng hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN ngày một phát triển. Dù biết rằng các tác giả đã hết sức cố gắng, nhưng để nghiên cứu về ASEAN là việc không hề dễ dàng, vì thế, chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót, bất cập. Hy vọng rằng, cuốn sách này sẽ góp phần cung cấp thông tin và kiến thức cho bạn đọc về quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN trong giai đoạn hiện nay.

8059 lượt xem
Sự chuyển biến cảu Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0
Bộ Thông tin và Truyền thông

Ngày 21/02/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 219/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo, trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan chủ trì, điều phối thực hiện Đề án. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với PGS.TS Nguyễn Phú Lợi biên soạn, xuất bản cuốn sách “Sự chuyển biến của tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0”.

Nội dung cuốn sách gồm 2 phần: 

Phần I: Sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0

Phần II: Sự chuyển biến của tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0 

Nội dung cuốn sách được biên soạn khá công phu, khái quát nên một bức tranh tương đối toàn diện về sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0, góp phần vào việc hoạch định chính sách, phát huy các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. 

2449 lượt xem
Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam
GS. Nguyễn Văn Khang

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam” là cuốn sách chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm sáng tỏ vai trò, sứ mệnh và những chuẩn mực cốt lõi của nền báo chí cách mạng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác phẩm hệ thống một cách khoa học các quan điểm của Người về bản chất của báo chí cách mạng; yêu cầu về đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ nghiệp vụ của người làm báo; cũng như phương pháp, phong cách tuyên truyền gần dân, trọng dân, vì dân.

Cuốn sách cũng phân tích tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng đội ngũ nhà báo trung thực, giản dị, dũng cảm, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên hết. Thông qua việc luận giải những giá trị thời sự và định hướng vận dụng trong bối cảnh mới, tác phẩm giúp độc giả hiểu sâu hơn nền tảng tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam hiện nay, đồng thời gợi mở các giải pháp nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp và tính nhân văn của báo chí trong thời kỳ chuyển đổi số.

4992 lượt xem
Kỷ yếu đoàn công tác số 15 năm 2024
Ban Tuyên giáo Trung ương

Năm 2024, Đoàn công tác số 15 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong quá trình công tác, học tập và rèn luyện. Với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và sáng tạo, các thành viên trong đoàn không chỉ phát huy cao độ năng lực cá nhân mà còn góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, gắn bó. Những chuyến đi, những buổi làm việc, những kỷ niệm đáng nhớ trong suốt hành trình là minh chứng sống động cho tinh thần cống hiến, khát vọng vươn lên và tình đồng đội bền chặt. Kỷ yếu này là nơi lưu giữ lại những dấu mốc ý nghĩa, để mỗi thành viên khi nhìn lại đều cảm nhận được niềm tự hào và động lực tiếp tục phấn đấu trong chặng đường sắp tới.

911 lượt xem
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
TS. Trần Thị Thủy

Cuốn sách Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc gắn bảo tồn văn hóa tộc người với phát triển du lịch cộng đồng ở các địa bàn tiêu biểu như Mai Châu, Mộc Châu và Sa Pa. Dựa trên kết quả nghiên cứu và điền dã thực địa, sách đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa vùng cao.

244 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 7
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sỹ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

128 lượt xem
Hanoi Handicraft trade villages
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Hanoi appears to be a natural capital of the Red River Delta and Northern Vietnam. All mountain ranges from the Northern West converge here, as do all rivers which then diverge in the shape of “the center of all tidal waves”. Therefore, this promising land - “good land for birds to nest” - has become the meeting point of many talents and craftsmen from all parts of the country. In Fall of 1010 (Year of Dog), the imperial city was rehabilitated and blossomed with the Dragon and Phoenix citadel, 61 streets which later were merged into 36, 13 farms and many markets at city gates. Intellectuals, merchants and craftsmen gathered here to compete and exchange their intelligence, skills and spirits, which gradually crystallized into the culture, historical objects and talents of the capital. As proclaimed by writer To Hoai, Hoan Kiem Lake - Ke Cho built up the voice of Hanoi, which was created by the combination of hundreds of families and areas to be so different from all other Vietnamese dialects, and the craftsmanship of the land was also attributed by the convergence and crystallization of Hanoi peoples’ delicacy and intelligence. More and more new specialized trade villages came into existence and development surrounding Thang Long - Dong Kinh - Ke Cho such as Bat Trang pottery village, Kieu Ky gold laminating village, paper producing village in Buoi area, Ngoc Ha flower village and Nghi Tam kumquat planting village... All planting and craft villages have been renowned for many years. Throughout its thousand-year history, many occupations and trade villages in Hanoi have been in existence, developed and left unforgettable remarks in Vietnamese people’s mind. Thang Long - Hanoi has showed its diversified appearance, big potentiality and occupational traditions which can not be lost in oblivion as time goes by. Hanoi has big potentiality in terms of tourism in trade villages. Visitors to Hanoi can not only contemplate beautiful sightseeing, historical places and cultural festivals but also enjoy and scrutinize a lively museum of special, various and diversified products made by the handicraft-trade villages which have survived for thousands of years.
2301 lượt xem
100 điều nên biết về phong tục cưới hỏi các dân tộc Việt Nam
Ha Nguyen

Hôn nhân không chỉ là bước chuyển trọng đại trong chu kỳ vòng đời người mà còn là một sự kiện quan trọng đối với mỗi gia đình, dòng họ, làng xóm... Ngoài các quy định của pháp luật, hôn nhân cần được xác lập thông qua các phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi của các dân tộc Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời khác và luôn biến đổi theo thời gian. Bởi vậy, phong tục cưới hỏi không chỉ là một trong những nghi lễ quan trọng của chu kỳ vòng đời người, mà còn phản ánh rõ nét
đặc điểm văn hóa tộc người với những dấu ấn truyền thống và hiện đại. Từ xưa đến nay, các dân tộc Việt Nam đều rất chú trọng phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi vừa là một sinh hoạt văn hóa tâm linh, vừa là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phong tục cưới hỏi chứa đựng các giá trị văn hóa truyền thống đã được chắt lọc, kết tinh qua nhiều thế hệ, như lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa nghệ thuật... và có tác động sâu sắc đến việc hình thành cốt cách, tình cảm, diện mạo văn hóa của cá nhân và cộng đồng. Phong tục cưới hỏi là một phần không thể thiếu đối với mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng, một thành tố quan trọng góp phần cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

5262 lượt xem
Chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia giai đoạn 1954-1970
TS Nguyễn Thành Văn
Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng nằm trên bán đảo Đông Dương, có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít và diễn ra liên tục từ lâu đời. Tuy vậy, quan hệ giữa hai nước cũng có những thăng trầm nhất định tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, chính sách xây dựng phát triển đất nước nói chung, chính sách đối ngoại nói riêng và đặc biệt là chính sách của mỗi nước dành cho nhau. Thực tế lịch sử cận hiện đại Việt Nam và Campuchia cho thấy mọi sự biến động chính trị - xã hội của nước này đều có ảnh hưởng nhất định đến nước kia và ngược lại. Sau khi giành được độc lập (1953), Campuchia thực hiện chính sách đối ngoại trung lập cho đến năm 1970 (Lon Nol lật đổ chế độ của Norodom Sihanouk). Chính sách đối ngoại trung lập không chỉ góp phần quan trọng tạo nên một trong những thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử Campuchia mà còn có tác động đến công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.. Cuốn sách Chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia giai đoạn 1953 - 1970 gồm 03 chương: Chương 1: Bối cảnh lựa chọn và thực hiện chính sách đối ngoại của Campuchia; Chương 2: Quá trình hình thành và triển khai chính sách đối ngoại của Campuchia; Chương 3: Đặc điểm và hệ quả của chính sách đối ngoại của Campuchia. Mục đích của cuốn sách trước hết là phân tích, lý giải tại sao Campuchia lựa chọn chính sách đối ngoại trung lập, những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách này. Hai là,làm rõ quá hình thành, nội dung, mục tiêu của chính sách đối ngoại cũng như việc hiện thực hóa chính sách này. Ba là, đánh giá về những đặc điểm, hệ quả của chính sách này đối với Campuchia và công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các nhà nghiên cứu, đồng nghiệp ở cả Việt Nam và Campuchia. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó. Mặc dù đã cố gắng nhưng trong quá trình biên soạn, tác giả khó có thể tránh được những sai sót vì vậy rất mong độc giả lượng thứ.
2785 lượt xem
Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam
PGS. TS Phạm Duy Đức - PGS. TS Vũ Thị Phương Hậu (Đồng chủ biên)

Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam

4709 lượt xem
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng công viên địa chất Lạng Sơn
PGS. TS. Vương Toàn, Nguyễn Phúc Hà

Lạng Sơn, vùng phên giậu phía đông bắc của Tổ quốc, sở hữu cảnh quan hùng vĩ và nền văn hóa đa dạng, là nơi hình thành Công viên địa chất Lạng Sơn nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản đặc sắc của tỉnh. Từ hội thảo khoa học về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể năm 2022, nhóm tác giả đã tập hợp các nghiên cứu để biên soạn cuốn “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng Công viên địa chất Lạng Sơn”. Cuốn sách góp phần khẳng định giá trị của vùng di sản này trong chiến lược phát triển bền vững theo các định hướng của Chính phủ và tinh thần Tuyên ngôn UNESCO về đa dạng văn hóa.

1231 lượt xem
Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972
Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc như một trang vàng chói lọi. Với ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần dũng cảm, kiên cường, bộ đội ta đã giữ vững Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm, góp phần tạo nên thắng lợi trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, đồng thời giữ vững vùng giải phóng, nơi bố trí trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Là người lính thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, rồi sau này là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48 (Thạch Hãn), đã từng trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị những năm tháng đó, tôi vô cùng xúc động mỗi khi nghĩ đến đồng đội của mình - những người vào sinh, ra tử trên chiến trường, họ luôn phải đối diện với bom đạn, chết chóc, nhưng vẫn hiên ngang, bình thản và tự tin vào chiến thắng. Trong những đồng đội ấy - những người lính kiên cường chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong lòng tôi.
Trong Chiến dịch Quảng Trị 1972 nói chung, cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị nói riêng, quân và dân Quân khu Thủ đô (trước đây) đã có những đóng góp vô giá. Những năm tháng đó, lớp lớp thanh niên Hà Nội - Hà Tây không ngại hy sinh, gian khổ sẵn sàng xung phong ra tiền tuyến với tinh thần “Ba sẵn sàng” và chí khí “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” chỉ mong Bắc – Nam sớm được sum họp một nhà. Thật khó có thể liệt kê, đong đếm hết được những tình cảm và đóng góp của quân và dân Thủ đô Hà Nội vì miền Nam ruột thịt trong những ngày tháng khó khăn ấy. Trong số hơn bốn nghìn chiến sỹ đã ngã xuống ở Mặt trận Thành cổ Quảng Trị năm 1972, riêng cán bộ, chiến sỹ người Hà Nội (bao gồm cả Hà Nội và Hà Tây trước đây) đã hy sinh 518 người, đứng đầu danh sách liệt sỹ của 30 tỉnh - thành phố trong cả nước có con, em chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Ngày 23/6/2015, Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội đã ra
Quyết định số 2872/QĐ-UBND về việc thành lập Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội. Với mục đích nghĩa tình đồng đội, tri ân liệt sỹ, phát huy truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”... ngay sau khi thành lập, Hội đã nhận được sự cổ vũ, giúp đỡ của các cấp ủy, chính quyền và đáp ứng nguyện vọng của hàng nghìn cựu chiến binh (CCB) đang sinh sống trên địa bàn Hà Nội. Cho đến nay, Hội đã tổ chức được 15 chi hội ở các quận, huyện, thị xã với số lượng trên 1.400 hội viên. Trong năm 2024, hướng tới kỷ niệm 10 năm thành lập Hội, đồng thời thiết thực kỷ niệm các Ngày lễ lớn của Quân đội và Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội đã chủ trương xuất bản cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa nhằm tri ân các anh hùng liệt sỹ, nâng cao niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mỗi hội viên Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị trong việc giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và lực lượng vũ trang (LLVT) Thủ đô trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong tình hình mới.
Cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 được kết cấu làm 2 phần. Phần 1 gồm các bài viết của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, các tướng lĩnh (những người đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu) và những ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội về cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.
Phần 2 là ký ức về 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Phần này chủ yếu tập hợp những bài viết của hội viên 15 chi hội. Với dung lượng gần 500 trang và hơn 70 bài viết dưới các thể loại, cuốn sách thực sự là một tư liệu quý giá. Thông qua những câu chuyện của những người trong cuộc, để lại cho người đọc những cảm xúc chân thật về những con người một thời không tiếc tuổi xuân và tính mạng của mình cho nền độc lập tự do của dân tộc. Qua những trang viết mộc mạc đơn sơ của những người lính trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972, người đọc nhận thấy khát vọng cống hiến của một thế hệ sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sự dũng cảm, hy sinh của các chiến sỹ năm xưa vẫn là nguồn cảm hứng mãnh liệt, thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống có lý tưởng, hoài bão, mang hết sức lực, tài năng cống hiến cho hòa bình, phát triển của Thủ đô Hà Nội và đất nước.

1865 lượt xem
Dạy con thời @
Đào Thúy Hoàn
Cuốn sách này chỉ dành cho những người tâm huyết việc nuôi dạy trẻ, các bậc cha mẹ và người có trách nhiệm nuôi dạy trẻ em thực sự muốn lớp mầm non sau này lớn lên sẽ trở thành những người tốt, có bản lĩnh, tư duy tốt, có trí tuệ, độc lập, nhân đức, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và tập thể, không chỉ tự lo được cho bản thân mà phải có hiếu với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, có tình yêu thương nhân loại, có ý thức đóng góp cho đất nước, cộng đồng, xã hội và hòa bình thế giới. Cuốn sách này chỉ dành cho những người muốn con trẻ độc lập và mạnh mẽ như những cánh chim đại bàng không khuất phục trước dông bão cuộc đời. Cuốn sách này không dành cho những cha mẹ giao phó phần lớn việc chăm sóc con cho ông bà hay người giúp việc, không dành cho những cha mẹ thương con bằng cách làm hết mọi việc để con tập trung vào học mấy môn văn hóa, cũng không dành cho những cha mẹ muốn sắp xếp cuộc đời con bằng tiền bạc để sau này dùng tiền xin cho con vào chỗ ngon cho ổn định và càng không dành cho những cha mẹ chỉ mải việc của mình để con tự phát triển như cây cỏ tự nhiên. Khi bạn cầm trên tay cuốn sách này, bạn đã gia nhập vào cộng đồng những người thực sự quan tâm đến con cái, đến hạnh phúc gia đình mình, tương lai của gia đình, đất nước và xã hội. Xin chúc mừng bạn!
3665 lượt xem
Phát huy giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc
Bộ Thông tin và Truyền thông

Việt Nam được ví như “bảo tàng tín ngưỡng, tôn giáo thế giới”, đời sống tín ngưỡng của người dân đa dạng, phong phú. Sự đa dạng của tín ngưỡng dân tộc qua các loại hình tín ngưỡng như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Tín ngưỡng thờ vua Hùng, Tín ngưỡng thờ Mẫu, Tín ngưỡng phồn thực… Mặc dù các tín ngưỡng có nguồn gốc hình thành, phát triển khác nhau; nội dung, nghi lễ khác nhau nhưng không vì thế mà có sự xung đột, phá hoại lẫn nhau để phát triển riêng mình, ngược lại trong quan hệ, các tín ngưỡng luôn có sự gắn kết, giao thoa với nhau để cùng tồn tại, phát triển trong một quốc gia, dân tộc. Các tín ngưỡng dân tộc mang những đặc điểm cơ bản như đa thần, bình đẳng, dân chủ, giàu chất nhân văn, hỗn dung tôn giáo.
Những giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc đã góp phần tạo nên nét đẹp trong tinh hoa văn hóa dân tộc, truyền tải những giá trị nhân văn của dân tộc như đạo hiếu, uống nước nhớ nguồn, trách nhiệm với quê hương đất nước, tinh thần cố kết cộng đồng… Bên cạnh đó, tín ngưỡng dân tộc cũng đang bị lợi dụng ảnh hưởng tiêu cực đối với cộng đồng, làm suy giảm, mai một các giá trị nhân văn của các tín ngưỡng, lễ hội truyền thống. Nhiều vấn đề đặt ra từ sự tác động của một số xu hướng biến đổi tín ngưỡng đến đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền - Nguyễn Thị Hiệp biên soạn, xuất bản cuốn sách “Phát huy giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc”.
Từ việc nghiên cứu thực trạng xu hướng biến đổi của các tín ngưỡng dân tộc trước sự tác động của quá trình hội nhập, cách mạng công nghệ, công nghiệp hóa, đô thị hóa… Và những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát huy những giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc trong điều kiện mới. Qua đó đề xuất nhóm giải pháp nhằm phát huy tốt hơn vai trò của các tín ngưỡng dân tộc trong tiến trình bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc trong điều kiện mới hiện nay.

2680 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 6
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

116 lượt xem
Thực hành tính ngưỡng thờ mẫu tam phủ của người Việt - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Từ Thị Loan

Với những giá trị văn hóa, nghệ thuật và tâm linh đặc sắc như vậy, ngày 01/12/2016, “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Cuốn sách này là một cố gắng nhỏ bé nhằm chuyển tải những kiến thức, hiểu biết cơ bản nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, bản chất, giá trị, vai trò của thực hành tín ngưỡng này trong đời sống tâm linh người Việt. Đây thực sự là một di sản văn hóa độc đáo được trao truyền từ quá khứ qua nhiều thế hệ, cần được hiểu đúng và nhận thức đầy đủ nhằm giữ gìn và phát huy những mặt tích cực trong xã hội đương đại.

2461 lượt xem