Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.
Nội dung sách được tiếp cận theo hướng liên ngành, kết hợp giữa lịch sử, địa lý, dân tộc học và văn hóa học để phân tích các yếu tố cấu thành không gian văn hóa xứ Đông, từ điều kiện tự nhiên, môi trường cư trú, cơ cấu làng xã đến hệ thống tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán, nghề thủ công truyền thống và các giá trị văn hóa dân gian. Đặc biệt, sách nhấn mạnh vai trò của xứ Đông trong tiến trình phát triển văn hóa dân tộc cũng như những đóng góp của vùng đất này đối với nền văn minh sông Hồng.
Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.
Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”,và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.
Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.
Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập.
Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh.
Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được.
Năm 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.
Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.
Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”,và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.
Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.
Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập.
Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh.
Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được.
Năm 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.
Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.
Cuốn sách giới thiệu một cách khái quát và hệ thống về tiểu vùng văn hóa xứ Quảng, bao gồm khu vực Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi. Tác phẩm được biên soạn theo hướng phổ biến kiến thức văn hóa, giúp người đọc tiếp cận những thành tựu nghiên cứu về văn hóa vùng từ góc nhìn địa – văn hóa một cách dễ hiểu và gần gũi.
Nội dung sách tập trung làm rõ quá trình hình thành và phát triển của xứ Quảng, những đặc trưng về con người, đời sống kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học nghệ thuật và các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu của vùng đất này. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh vai trò của nhiều thế hệ cư dân trên vùng đất Quảng trong việc tạo dựng nên bản sắc văn hóa riêng, giàu truyền thống nhưng cũng năng động, cởi mở và giàu sức sáng tạo.
Bên cạnh việc trình bày lịch sử văn hóa, sách còn giới thiệu hệ thống di sản văn hóa của xứ Quảng như các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình kiến trúc và những giá trị văn hóa đặc sắc đã góp phần tạo nên diện mạo riêng của vùng đất này trong tổng thể văn hóa Việt Nam.
Với văn phong giản dị, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách kể chuyện văn hóa hấp dẫn, cùng hệ thống hình ảnh minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa xứ Quảng và vị trí của tiểu vùng này trong không gian văn hóa Việt Nam.
Cuốn sách giới thiệu kết quả khảo cứu 32 ngôi đình đã được các cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích theo quy định của Luật Di sản Văn hóa ở tỉnh Bến Tre trước đây, bao gồm 06 đình được xếp hạng di tích Quốc gia, 01 đình thuộc quần thể di tích quốc gia đặc biệt và 25 đình là di tích cấp tỉnh. Mỗi ngôi đình được trình bày theo một cấu trúc khoa học, hướng đến việc làm nổi bật những giá trị cốt lõi nhất. Từ lịch sử khởi dựng, quá trình tồn tại và phát triển, quy mô kiến trúc, đến những tinh hoa trong nghệ thuật chạm khắc, giá trị của các hiện vật cổ, tín ngưỡng thờ phụng và diễn trình lễ hội truyền thống. Điểm đặc biệt là với cuốn sách này, tiếng nói Ban Khánh tiết, Ban Quản lý các đình làng trên địa bàn tỉnh đã được ghi nhận thông qua quá trình trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu và cho phép các tác giả tiếp cận để nghiên cứu, ghi nhận. Ý kiến chuyên môn quý báu của các nhà nghiên cứu, chuyên gia văn hóa, các nhà sử học trong và ngoài nước đã giúp các tác giả có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về giá trị của 32 ngôi đình được tập hợp trong cuốn sách này. Không dừng lại mô tả những giá trị về vật chất, cuốn sách còn đi sâu vào phân tích những giá trị phi vật thể - phần “hồn” vốn có của 32 ngôi đình có những đóng góp to lớn trong quá trình tạo dựng và vun đắp bản sắc văn hóa cho cộng đồng làng xã Bến Tre xưa. Qua đó, chúng ta càng thêm hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển của một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, nơi quá khứ và hiện tại giao thoa, tạo nên một Bến Tre đầy sức sống và bản sắc trong không gian phát triển mới của tỉnh Vĩnh Long bước vào kỷ nguyên vươn mình.
Cuốn sách là tài liệu nhằm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở bậc đại học, sau đại học trong lĩnh vực quản lý văn hóa. Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận văn hóa học, khoa học quản lý và thực tiễn quản lý văn hóa ở Việt Nam, cuốn sách hệ thống hóa những vấn đề nền tảng về quản lý văn hóa, làm rõ bản chất, mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp và các kỹ năng cần thiết của người làm công tác quản lý, đồng thời phân tích những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và chuyển đổi xã hội. Với cách tiếp cận gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn, đặc biệt qua các nghiên cứu trường hợp, tác phẩm cung cấp cơ sở khoa học, kinh nghiệm quản lý và định hướng vận dụng vào các lĩnh vực hoạt động văn hóa cụ thể. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị đối với giảng viên, sinh viên, học viên sau đại học, nhà nghiên cứu cũng như đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa trong quá trình hoạch định chính sách, tổ chức và phát triển đời sống văn hóa ở Việt Nam.
Cuốn sách Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc gắn bảo tồn văn hóa tộc người với phát triển du lịch cộng đồng ở các địa bàn tiêu biểu như Mai Châu, Mộc Châu và Sa Pa. Dựa trên kết quả nghiên cứu và điền dã thực địa, sách đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa vùng cao.
Cuốn sách giới thiệu thông tin, kiến thức về phát triển du lịch bền vững dựa trên giá trị văn hóa - thiên nhiên vùng Bắc Trung Bộ và Trung du miền núi phía Bắc, là tập hợp các công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn, được lựa chọn thông qua quy trình phản biện nghiêm túc với 60 bài viết, phản ánh đa chiều các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch bền vững.
“Tài Sản Số – Cơ Hội, Thách Thức Và Tương Lai Rộng Mở” là cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ về tài sản số, từ tiền mã hóa, blockchain đến các xu hướng công nghệ đang định hình nền kinh tế số. Sách phân tích những cơ hội đầu tư, kinh doanh và đổi mới mà tài sản số mang lại, đồng thời chỉ ra các rủi ro, thách thức về pháp lý, bảo mật và biến động thị trường. Với góc nhìn cân bằng và thực tiễn, tác phẩm giúp người đọc chuẩn bị kiến thức để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của kỷ nguyên số. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến tương lai của tài chính và công nghệ.
Cuốn sách cung cấp thông tin về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ.