Văn hóa - Xã hội
50 năm Viện Hóa học môi trường quân sự - Hành trình và khát vọng
Binh chủng Hóa học, Viện Hóa học môi trường quân sự

Cuốn sách “Viện Hóa học môi trường quân sự - Hành trình khắc phục hậu quả chất độc hóa học sau chiến tranh” khái quát quá trình nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong xử lý, khắc phục hậu quả chất độc hóa học, góp phần bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng và phục vụ nhiệm vụ quốc phòng.

351 lượt xem
Truy tìm thủ phạm giấu mặt
Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tần số Vô tuyến điện

Truyện tranh Truy tìm thủ phạm giấu mặt đặt kiến thức vào bối cảnh cuộc sống, mong muốn gửi đến người đọc một thông điệp gần gũi nhưng rất thiết thực: trong cuộc sống hiện đại, nhiều thiết bị quen thuộc sử dụng sóng vô tuyến như smartkey, điều khiển từ xa, chuông báo, adapter... có thể vô tình gây ảnh hưởng lẫn nhau nếu xảy ra lỗi hoặc nhiễu tín hiệu.

1533 lượt xem
Thực hành tính ngưỡng thờ mẫu tam phủ của người Việt - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Từ Thị Loan

Với những giá trị văn hóa, nghệ thuật và tâm linh đặc sắc như vậy, ngày 01/12/2016, “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Cuốn sách này là một cố gắng nhỏ bé nhằm chuyển tải những kiến thức, hiểu biết cơ bản nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, bản chất, giá trị, vai trò của thực hành tín ngưỡng này trong đời sống tâm linh người Việt. Đây thực sự là một di sản văn hóa độc đáo được trao truyền từ quá khứ qua nhiều thế hệ, cần được hiểu đúng và nhận thức đầy đủ nhằm giữ gìn và phát huy những mặt tích cực trong xã hội đương đại.

3478 lượt xem
Học, đọc sách và sáng tạo (Hay tư tưởng về phát triển con người)
TS. Vũ Thùy Dương, GS. TS. Nguyễn Như Ý, TS. Trần Chí Đạt, Võ Thế Quân

“Học, đọc sách và sáng tạo (Hay tư tưởng về phát triển con người)” là cuốn sách đề cao vai trò của học tập, đọc sách và sáng tạo trong quá trình hoàn thiện và phát triển con người. Tác phẩm khẳng định đọc sách là con đường hiệu quả để tiếp thu tri thức, mở rộng hiểu biết và rèn luyện tư duy. Không chỉ dừng lại ở việc học hỏi, cuốn sách còn nhấn mạnh tầm quan trọng của sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Với những luận điểm sâu sắc và giàu tính nhân văn, tác phẩm truyền cảm hứng cho mỗi người xây dựng thói quen học tập suốt đời. Đây là cuốn sách hữu ích dành cho những ai mong muốn phát triển bản thân và đóng góp tích cực cho xã hội.

820 lượt xem
Văn hóa ứng xử trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng
TS. Vũ Thị Phương, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu các mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng để từ đó nhận diện những giá trị và đặc trưng văn hóa ứng xử của gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời góp phần bổ sung cơ sở cho các nghiên cứu so sánh giữa gia đình người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Qua đó, công trình hướng tới việc tiếp thu nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hóa, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa gia đình mang đậm bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay.

Cuốn sách tập trung làm rõ các đặc điểm ứng xử trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng dưới góc nhìn Nhân học trong cả chiều lịch đại và đồng đại; phân tích những biến đổi trong ứng xử gia đình dưới tác động của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với các tộc người cộng cư; đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long với gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Hồng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, công trình cũng đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng gia đình văn hóa, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa ứng xử trong gia đình ở Sóc Trăng trong điều kiện phát triển hiện nay.

697 lượt xem
Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên (Bản rút gọn)
TS. Nguyễn Thu Dung

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Thị Thu Dung (chủ biên) biên soạn và xuất bản cuốn sách Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Nội dung được kết cấu thành 2 phần gồm một số bài viết và bài nghiên cứu chuyên sâu, phản ánh những giá trị đặc sắc trong đời sống văn hóa cũng như đặc điểm ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số sinh sống tại tỉnh Điện Biên. Mỗi bài viết đều là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của các tác giả - những người tâm huyết với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Cuốn sách không chỉ cung cấp những tư liệu quý báu về ngôn ngữ, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Điện Biên, mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí của văn hóa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ hội nhập.

946 lượt xem
Sóng căng đét - Ví khét lẹt
Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tần số Vô tuyến điện

"Sóng căng đét – Ví khét lẹt" là ấn phẩm truyền thông của Cục Tần số Vô tuyến điện, được biên soạn nhằm phổ biến kiến thức về tần số vô tuyến điện, nâng cao nhận thức về việc sử dụng phổ tần và thiết bị vô tuyến đúng quy định, đồng thời truyền tải các thông tin chuyên ngành qua lối thể hiện gần gũi, sinh động và dễ tiếp cận với đông đảo bạn đọc.

1776 lượt xem
Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn những bài học kinh nghiệm chủ yếu
GS.TS. Lê Hữu Tầng

Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một công trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống và khái quát, có những kiến giải mới, góp phần làm sáng tỏ một phương diện của chủ nghĩa xã hội hiện còn ít được nghiên cứu - phương diện chủ nghĩa xã hội đi từ lý luận đến thực tiễn, từ đó rút ra một số bài học kinh nghệm bổ ích cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhân dân ta đang tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2950 lượt xem
Viện Hóa học môi trường quân sự - Hành trình khắc phục hậu quả chất độc hóa học sau chiến tranh
Binh chủng Hóa học, Viện Hóa học môi trường quân sự

Cuốn sách “50 năm Viện Hóa học môi trường quân sự - Hành trình và khát vọng” khái quát chặng đường xây dựng, phát triển và những thành tựu nổi bật của Viện trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, góp phần nâng cao năng lực bảo vệ môi trường và phục vụ nhiệm vụ quốc phòng

353 lượt xem
Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc (bản rút gọn)
TS. Nguyễn Mạnh Cường

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, cùng mục tiêu góp phần lan tỏa tri thức, chia sẻ kinh nghiệm và định hướng phát triển cho lĩnh vực này, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Mạnh Cường biên soạn và xuất bản cuốn sách Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Cuốn sách là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, kết hợp giữa cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động từ các địa phương, phản ánh nỗ lực chung trong việc tìm kiếm mô hình phát triển kinh tế cộng đồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa của vùng miền.

636 lượt xem
Báo cáo về sự phát triển của phong trào cộng sản quốc tế (2022 -2023) - Sách vàng về phong trào cộng sản quốc tế (Annual report on development of international communist movements (2022 -2023)
Viện Khoa học xã hội Trung Quốc - Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - GS, TS Tân Hướng Dương - GS, TS Phan Kim Nga (Đồng Chủ biên)

Báo cáo về sự phát triển của phong trào cộng sản quốc tế (2022 -2023) - Sách vàng về phong trào cộng sản quốc tế (Annual report on development of international communist movements (2022 -2023)

1285 lượt xem
Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc
Trung tâm nghiên cứu phát triển Vùng

Ngọc Lặc là huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy, Bá Thước; phía Nam giáp huyện Thọ Xuân, Thường Xuân; phía Tây giáp huyện Lang Chánh; phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Yên Định.

Ngọc Lặc từ xa xưa đã giữ một vị trí địa lý khá đặc biệt. Đối với nội tỉnh Thanh Hóa, Ngọc Lặc là vùng đất cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa vùng miền núi với các huyện đồng bằng của tỉnh. Đối với bên ngoài tỉnh, Ngọc Lặc có tính chất mở ra với các địa phương khác trong nước. Vị trí địa lý của Ngọc Lặc ngày càng phát huy giá trị của một vùng đất mang tính cởi mở tạo nên thế và lực cho huyện trong thời kỳ hợp tác và phát triển.

Ngọc Lặc có diện tích tự nhiên 49.092,4 ha; có 21 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm Thị trấn Ngọc Lặc (huyện lỵ) và 20 xã: Cao Ngọc, Cao Thịnh, Đồng Thịnh, Kiên Thọ, Lam Sơn, Lộc Thịnh, Minh Sơn, Minh Tiến, Mỹ Tân, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Trung, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Quang Trung, Thạch Lập, Thúy Sơn, Vân Am.

Ngọc Lặc là nơi có một lịch sử cư trú lâu đời của các dân tộc: Mường, Kinh (Việt), Dao, Thái. Tính đến ngày 31/12/2023, dân số của Ngọc Lặc là 35.137 hộ. Trong đó, người Mường có 25.295 hộ, chiếm hơn 70% dân số toàn huyện. Người Kinh có 9.209 hộ, chiếm 28% dân số toàn huyện. Người Dao, người Thái và các dân tộc khác chiếm khoảng gần 2% dân số toàn huyện.

Ở Ngọc Lặc, người Mường có mặt khắp nơi trong huyện, đông nhất là ở các xã: Thạch Lập, Nguyệt Ấn, Vân Am, Thúy Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Mỹ Tân, Cao Ngọc, Quang Trung, Đồng Thịnh, Lộc Thịnh, Ngọc Trung, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Minh Tiến, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Cao Thịnh và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Kinh có số dân đông ở các xã: Lam Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Ngọc Liên, Cao Thịnh, Minh Tiến và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Dao tập trung tại làng Tân Thành thuộc xã Thạch Lập, làng Hạ Sơn thuộc thị trấn Ngọc Lặc và làng Phùng Sơn thuộc xã Phùng Giáo. Người Thái cư trú tại xã Phùng Minh, Phúc Thịnh.

Các dân tộc ở Ngọc Lặc cư trú và sinh sống với nhau hòa hợp. Người Mường có mặt trên đất Ngọc Lặc từ rất lâu đời. Huyền thoại về vùng đất cho biết các Mường như Mường Rặc (nay thuộc xã Quang Trung, Ngọc Liên, và một phần xã Ngọc Sơn), Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Chẹ (nay thuộc xã Cao Ngọc, Mỹ Tân); Mường Lập, Mường Yến (nay thuộc xã Thạch Lập); Mường Tạ (nay thuộc xã Thúy Sơn và một phần của xã Thạch Lập); Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Ngòn (nay thuộc xã Ngọc Khê); Mường Ứn; Mường Bằng (nay thuộc xã Kiên Thọ, Nguyệt Ấn); Mường Um (nay thuộc xã Vân Am) là các Mường cổ trong vùng. Từ đó, đã hình thành nên những lớp di sản văn hóa dân gian Mường phong phú, có nét sắc thái riêng, biểu hiện rõ nét trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục, lễ hội và nguồn tri thức dân gian, kiến tạo nên bản sắc vùng đất Ngọc Lặc với nền tảng văn hóa Mường sâu đậm. Và nét đặc trưng dễ nhận thấy nhất là không gian sinh sống của người Mường với kiến trúc ngôi nhà sàn truyền thống. Trên địa bàn huyện hiện có gần một nghìn ngôi nhà sàn, trong đó, tập trung nhiều nhất là làng Lập Thắng, xã Thạch Lập. Lập Thắng là làng văn hóa du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Mường.

Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, vùng đất Ngọc Lặc có địa thế chiến lược trọng yếu, là căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược. Vì thế Ngọc Lặc là vùng đất có mật độ cao về các di tích lịch sử, văn hóa: Đền thờ Trung túc vương Lê Lai, Đền Lai, Đền Lê Lâm, Đền Mỹ Lâm, Đền Cao, Đền Chẹ, Đền Cọn, Đền Riếng, Đền Bà Chúa Chầm, Thiền tự Trúc Lâm - Bàn Bù. Các di tích lịch sử, văn hóa này đều gắn với các lễ hội truyền thống có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng các dân tộc ở Ngọc Lặc và các vùng phụ cận.

Trên cơ sở tính đặc sắc của tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa, Ngọc Lặc có đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch: Du lịch cộng đồng, Du lịch sinh thái, Du lịch văn hóa, Du lịch tâm linh, Du lịch nghỉ dưỡng, Du lịch nông thôn, đưa du lịch trở thành một ngành, một thành phần kinh tế quan trọng của địa phương. Du lịch là ngành định hướng tài nguyên rất rõ nét, vì vậy, việc biên soạn sách Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc có ý nghĩa quan trọng, nhận diện các giá trị văn hóa truyền thống và giá trị tự nhiên có thể khai thác phát triển thành sản phẩm du lịch, đồng thời quảng bá, giới thiệu về tài nguyên du lịch Ngọc Lặc, nhằm đưa các di tích lịch sử, văn hóa trở thành các điểm đến, cùng các giá trị văn hóa đặc sắc trở thành các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn đối với du khách khi đến Ngọc Lặc.

3065 lượt xem
ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)
Trần Xuân Hiệp, Trương Công Vĩnh Khanh

Sau những thể nghiệm đầu tiên về việc thành lập một tổ chức khu vực với sự tham gia của tất cả các quốc gia Đông Nam Á từ những năm 1960, cuối cùng một tổ chức chính thức đã ra đời vào ngày 08/8/1967, mang tên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trải qua những thăng trầm lịch sử, sự tồn tại và phát triển của ASEAN là minh chứng cho tình đoàn kết chặt chẽ của các nước Đông Nam Á. Từ khi thành lập với ASEAN-6, từng bước kết nạp thêm các thành viên mới để trở thành ASEAN-10, và đến năm 2015, Cộng đồng ASEAN (AC) đã được xây dựng, củng cố trên ba trụ cột: Cộng đồng An ninh - Chính trị (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC), Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC).
Sau 55 năm xây dựng và trưởng thành (1967 - 2022), ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trước hết, ASEAN đã tạo cho mình một vị thế mới, với vai trò là trung tâm trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, ủng hộ như EAS, ARF, ASEAN+1, ASEAN+3, RCEP, ADMM+ nhìn chung đều được các cường quốc và đối tác trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương đón nhận. Ở cấp độ quốc gia, một số thành viên của ASEAN đã và đang tận dụng tốt sự cạnh tranh chiến lược, vị thế địa chính trị và các lợi thế riêng khác của mình để đóng vai trò lớn hơn trong xây dựng cấu trúc hợp tác khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, ASEAN đã gặt hái được những thành công ấn tượng về kinh tế, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba ở châu Á, sau Trung Quốc và Nhật Bản. Hơn nữa, tiến trình hội nhập của ASEAN đánh dấu một cột mốc, giai đoạn quan trọng mới với việc tuyên bố thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, mở ra một trang mới trong tiến trình liên kết kinh tế gắn chặt hơn. Về văn hóa - xã hội, ASEAN cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, thu hút sự tham gia của người dân và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân: thu hút sự tham gia của các nhóm, giới và các tiến trình của ASEAN; tăng quyền cho người dân và tăng cường các thể chế đảm bảo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được rất đáng khâm phục, ASEAN hiện nay vẫn đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức. Khu vực Đông Nam Á được xác định là trung tâm của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và cũng là điểm mấu chốt của sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, Đông Nam Á trở thành “đấu trường” can dự, lôi kéo, tập hợp lực lượng nhằm kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau. Ngoài ra, xuất phát từ lợi ích chiến lược, nội bộ ASEAN cũng có những vấn đề gây cản trở cho sự thống nhất cần có của một cộng đồng, chưa thật sự đoàn kết và đôi khi là những bất đồng giữa các nước thành viên về các nội dung liên quan. Điều này khiến cho sức mạnh chung của khu vực bị ảnh hưởng, có phần giảm sút khi đối diện với các vấn đề quốc tế cần tiếng nói của tập thể.
Với tầm quan trọng về vị trí địa chiến lược, địa kinh tế, địa văn hóa, ASEAN đã, đang và sẽ là nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng của khu vực Đông Nam Á cũng như Ấn Độ - Thái Bình Dương, đồng thời là nhân tố trung tâm của nhiều định chế hợp tác trong khu vực. Cuốn sách “Cộng đồng ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)” ra đời trong thời điểm ASEAN hướng đến kỷ niệm 55 năm ngày thành lập sẽ tạo thêm nhiều động lực cho chúng ta cùng chung tay xây dựng hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN ngày một phát triển. Dù biết rằng các tác giả đã hết sức cố gắng, nhưng để nghiên cứu về ASEAN là việc không hề dễ dàng, vì thế, chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót, bất cập. Hy vọng rằng, cuốn sách này sẽ góp phần cung cấp thông tin và kiến thức cho bạn đọc về quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN trong giai đoạn hiện nay.

9857 lượt xem
Kỷ yếu đoàn công tác số 15 năm 2024
Ban Tuyên giáo Trung ương

Năm 2024, Đoàn công tác số 15 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong quá trình công tác, học tập và rèn luyện. Với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và sáng tạo, các thành viên trong đoàn không chỉ phát huy cao độ năng lực cá nhân mà còn góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, gắn bó. Những chuyến đi, những buổi làm việc, những kỷ niệm đáng nhớ trong suốt hành trình là minh chứng sống động cho tinh thần cống hiến, khát vọng vươn lên và tình đồng đội bền chặt. Kỷ yếu này là nơi lưu giữ lại những dấu mốc ý nghĩa, để mỗi thành viên khi nhìn lại đều cảm nhận được niềm tự hào và động lực tiếp tục phấn đấu trong chặng đường sắp tới.

781 lượt xem
Bệnh viện trung ương quân đội 108 ngày nay
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

a

943 lượt xem
Cộng đồng tộc người ở Nam Bộ và Tây Nguyên
Chu Thái Sơn

Tây Nguyên là vùng đất của các cao nguyên miền tây Trung Bộ, nằm ở sau dãy núi Trường Sơn Nam, còn gọi là Tây Trường Sơn. Các cao nguyên ở đây có độ cao từ 1.200m, xuống đến 500m. Từ bắc qua nam có các cao nguyên nổi tiếng như:

Ở đầu bắc có cao nguyên Kon Plông nằm giữa hai dãy núi An Khê về phía đông và Ngọc Krinh về phía tây. Tiếp sau là cao nguyên Kon Hà Nừng rồi đến cao nguyên Pleiku rộng lớn. Tại miền Trung Tây Nguyên có cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên M’đrăk về phía đông; cao nguyên Đăk Nông về phía tây. Xuống nam Tây Nguyên có các cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên), cao nguyên Đran (Đơn Dương) và cao nguyên Blao (Bảo Lộc). Ranh giới phía nam các tỉnh Đăk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) và Lâm Đồng là vùng đất Nam bộ với đồng bằng sông Cửu Long và miền đất cao ở phía đông.

Ngoài cư dân Việt (Kinh), trên toàn khu vực nói trên là địa bàn sinh sống chủ yếu của 15 tộc người, trong đó 11 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, chiếm quá nửa số lượng tộc người nhóm Môn - Khmer trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó là 3 trong số 5 tộc người nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesian thuộc ngữ hệ Nam Đảo; và chỉ có duy nhất một tộc người Hoa được giới thiệu ở tập hợp này.

Về tộc người Hoa thì tổ tiên họ lần hồi có mặt trên vùng núi Bắc Bộ từ thời Bắc thuộc. Còn tại Nam Bộ, họ mới di cư tới từ năm 1679 vào đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (tức Chúa Hiền). Với những cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer thì bán đảo Đông Dương đã là nơi sinh tụ của tổ tiên họ từ nhiều thiên niên kỷ trước Công nguyên, khi mà những tộc người có nguồn gốc Nam Đảo còn chưa có mặt trên đồng bằng ven biển miền Trung và các cao nguyên miền Tây Trung Bộ như ngày nay.

Cuốn sách này giới thiệu khái quát những nét chính về 15 cộng đồng tộc người sinh sống ở khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Đặc biệt nhấn mạnh về văn hóa truyền thống ở 11 tộc người Môn - Khmer với nhiều thang bậc phát triển từ thấp đến cao, và lưu giữ được nhiều thành tố văn hóa từ rất xa xưa, soi tỏ không ít những dấu ấn của văn hóa truyền thống hiện tồn. Trên đất nước Việt Nam, cộng đồng ngôn ngữ Môn - Khmer có 21 tộc người. Họ phân bố dân cư ở 3 khu vực với những ảnh hưởng khác nhau từ các địa bàn cư trú. Khu vực Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ có quá nửa số lượng tộc người. Văn hóa cội nguồn còn lưu giữ được dưới nhiều dạng tồn tại khác nhau, ít chịu ảnh hưởng văn hóa ngoại tộc.

Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.

Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, sơ suất, chúng tôi rất mong bạn đọc lượng thứ và xin nhận được những góp ý chân thành.

5122 lượt xem