Văn hóa - Xã hội
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định
Hà Nguyễn

Cuốn sách thuộc bộ sách Không gian văn hóa Việt Nam, được biên soạn theo hướng khoa học thường thức nhằm giới thiệu những nét đặc trưng về lịch sử và văn hóa của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định. Nội dung sách tập trung trình bày một cách hệ thống các yếu tố hình thành, quá trình phát triển và những giá trị văn hóa tiêu biểu của vùng đất Sài Gòn – Gia Định trong tổng thể văn hóa Việt Nam.

Tác giả sử dụng lối viết mang tính “văn hóa sử”, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách diễn đạt gần gũi, dễ hiểu. Các nội dung được sắp xếp theo từng thành tố văn hóa đặc trưng của vùng đất, từ điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành, con người, phong tục tập quán đến đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Sách cũng được minh họa bằng hình ảnh nhằm giúp người đọc tiếp cận kiến thức trực quan hơn.

Thông qua việc giới thiệu những đặc điểm nổi bật của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định, cuốn sách góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa của vùng đất Nam Bộ nói chung và Sài Gòn – Gia Định nói riêng, đồng thời quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam.

 
 
 
398 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Nghệ là tên chung để chỉ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, còn được biết đến về mặt văn hóa với tên gọi văn hóa Lam Hồng, bởi có chung núi Hồng, sông Lam. Tên gọi Nghệ An xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1030 khi vua Lý Thánh Tông đặt địa danh hành chính cho vùng đất này là Nghệ An châu trại. Theo chiều dài lịch sử, vùng đất Nghệ Tĩnh được đổi tên nhiều lần: trại Nghệ An, Nghệ An phủ, Nghệ An thừa tuyên. Đến năm 1490, hoàng đế Lê Thánh Tông đổi là xứ Nghệ An. Cái tên xứ Nghệ cũng có lẽ chính thức bắt đầu từ đó, đồng thời với xứ Kinh Bắc, xứ Sơn Nam, xứ Hải Đông... Năm 1831, sau cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng, phạm vi hành chính của xứ Nghệ An bị thu hẹp lại, tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Thời Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa có cắt một phần đất của Nghệ - Tĩnh sáp nhập vào nước bạn Lào, phần còn lại tương đương với hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Năm 1976, chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sáp nhập hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ - Tĩnh. Đến năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách thành hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và duy trì cho đến ngày nay. Do hoàn cảnh lịch sử, điều kiện thiên nhiên đặc biệt, vùng đất này có những sắc thái độc đáo riêng, góp phần tạo nên vẻ đẹp chung của giang sơn gấm vóc Việt Nam.
3467 lượt xem
Dạy con thời @
Đào Thúy Hoàn
Cuốn sách này chỉ dành cho những người tâm huyết việc nuôi dạy trẻ, các bậc cha mẹ và người có trách nhiệm nuôi dạy trẻ em thực sự muốn lớp mầm non sau này lớn lên sẽ trở thành những người tốt, có bản lĩnh, tư duy tốt, có trí tuệ, độc lập, nhân đức, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và tập thể, không chỉ tự lo được cho bản thân mà phải có hiếu với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, có tình yêu thương nhân loại, có ý thức đóng góp cho đất nước, cộng đồng, xã hội và hòa bình thế giới. Cuốn sách này chỉ dành cho những người muốn con trẻ độc lập và mạnh mẽ như những cánh chim đại bàng không khuất phục trước dông bão cuộc đời. Cuốn sách này không dành cho những cha mẹ giao phó phần lớn việc chăm sóc con cho ông bà hay người giúp việc, không dành cho những cha mẹ thương con bằng cách làm hết mọi việc để con tập trung vào học mấy môn văn hóa, cũng không dành cho những cha mẹ muốn sắp xếp cuộc đời con bằng tiền bạc để sau này dùng tiền xin cho con vào chỗ ngon cho ổn định và càng không dành cho những cha mẹ chỉ mải việc của mình để con tự phát triển như cây cỏ tự nhiên. Khi bạn cầm trên tay cuốn sách này, bạn đã gia nhập vào cộng đồng những người thực sự quan tâm đến con cái, đến hạnh phúc gia đình mình, tương lai của gia đình, đất nước và xã hội. Xin chúc mừng bạn!
5379 lượt xem
Giữ cũ, thêm mới làm tài sản cho con cháu
PGS.TS. Nguyễn Trường Giang

Tà Ôi là một trong số 54 dân tộc sinh sống ở Việt Nam. Với mong muốn độc giả có cái nhìn sâu hơn về nơi cư trú, hệ thống quản lý xã hội, quan hệ thân tộc, phương thức mưu sinh, chu kỳ vòng đời và tín ngưỡng dân gian, Nhà xuất bản Thông tấn xin trân trọng giới thiệu với độc giả cuốn sách điện tử “Giữ cũ, thêm mới làm tài sản cho con cháu” của PGS. TS. Nguyễn Trường Giang. Cuốn sách là công trình khảo cứu kỹ lưỡng của tác giả về cuộc sống của người Tà Ôi, được thực hiện một cách có hệ thống và toàn diện, qua đó khắc họa rõ nét bức tranh sinh động về văn hóa của người Tà Ôi, từ văn hóa mưu sinh, đến văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần bao gồm tâm linh tín ngưỡng. Cuốn sách được thực hiện năm 2014 nên số liệu trong sách được tính từ năm 2014 trở về trước. Thời điểm này, tên các địa phương nghiên cứu của tác giả vẫn giữ theo cách gọi cũ, vì vậy, để bạn đọc tiện theo dõi theo danh sách địa phương mới được cập nhật từ ngày 1/7/2025 đến nay, Nhà xuất bản Thông tấn xin gửi kèm bảng Phụ lục về các địa danh này. Cuốn sách của PGS. TS. Nguyễn Trường Giang là tài liệu chuyên khảo bổ ích, có giá trị cho những người làm công tác quản lý dân tộc và những người nghiên cứu giảng dạy cũng như học tập ngành Dân tộc học - Nhân học. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách tới quý bạn đọc.

2472 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững
TS. Trần Văn Miều

Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.

810 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững
TS. Trần Văn Miều

Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững” tập trung làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của rừng đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh sinh thái quốc gia. Nội dung sách cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn về quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và chuyển đổi xanh. Tác phẩm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng trong gìn giữ “lá phổi xanh” của đất nước vì sự phát triển bền vững hôm nay và mai sau.

782 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 6
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

616 lượt xem
100 điều nên biết về phong tục cưới hỏi các dân tộc Việt Nam
Ha Nguyen

Hôn nhân không chỉ là bước chuyển trọng đại trong chu kỳ vòng đời người mà còn là một sự kiện quan trọng đối với mỗi gia đình, dòng họ, làng xóm... Ngoài các quy định của pháp luật, hôn nhân cần được xác lập thông qua các phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi của các dân tộc Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời khác và luôn biến đổi theo thời gian. Bởi vậy, phong tục cưới hỏi không chỉ là một trong những nghi lễ quan trọng của chu kỳ vòng đời người, mà còn phản ánh rõ nét
đặc điểm văn hóa tộc người với những dấu ấn truyền thống và hiện đại. Từ xưa đến nay, các dân tộc Việt Nam đều rất chú trọng phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi vừa là một sinh hoạt văn hóa tâm linh, vừa là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phong tục cưới hỏi chứa đựng các giá trị văn hóa truyền thống đã được chắt lọc, kết tinh qua nhiều thế hệ, như lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa nghệ thuật... và có tác động sâu sắc đến việc hình thành cốt cách, tình cảm, diện mạo văn hóa của cá nhân và cộng đồng. Phong tục cưới hỏi là một phần không thể thiếu đối với mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng, một thành tố quan trọng góp phần cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

6817 lượt xem
Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa
Khoa ngôn ngữ học - Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội, Hội ngôn ngữ học Hà Nội
Giáo sư Tiến sĩ Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Tài Cẩn, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2000, là một học giả uyên bác, nhà ngôn ngữ học lớn của nền ngữ học Việt Nam có ảnh hưởng sâu rộng trong giới ngôn ngữ học nước nhà. Ngoài hơn 10 ấn phẩm chính và hơn 100 bài báo khoa học có giá trị về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam công bố ở trong nước và quốc tế, GS Nguyễn Tài Cẩn còn là tác giả của hàng trăm bài thơ chữ Hán rất được khen ngợi, song di sản quý giá nhất mà ông để lại cho đời là những gợi mở từ tư tưởng học thuật của ông để tìm ra con đường đi hợp lí nhất trong cách tiếp cận các lĩnh vực khoa học nhân văn đối với việc nghiên cứu tiếng Việt, nghiên cứu Hán Nôm, nghiên cứu lịch sử văn học, nghiên cứu văn hóa dân gian và nghiên cứu tư liệu Truyện Kiều. Có thể nói, ngày nay với tầm ảnh hưởng trong nước và quốc tế cố GS Nguyễn Tài Cẩn (1926 - 2011) vẫn luôn luôn hiện diện trên con đường đang đi của giới ngôn ngữ học, giới Việt ngữ học, giới nghiên cứu Hán Nôm, giới nghiên cứu lịch sử văn học và giới Kiều học nước nhà. Hội Ngôn ngữ học Hà Nội và Khoa Ngôn ngữ học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã phối hợp tổ chức thành công Hội thảo Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa. Đây là một tài liệu quý, tập hợp nhiều bài báo khoa học ghi nhận những cống hiến xuất sắc của GS Nguyễn Tài Cẩn đối với nền ngữ học nước nhà cũng như đề cập đến những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa nói chung, tiếng Việt và văn hóa Việt Nam nói riêng. Cuốn sách Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa là sự nỗ lực cố gắng của Hội Ngôn ngữ học Hà Nội và Khoa Ngôn ngữ học đã tổ chức biên soạn tài liệu hội thảo. Hy vọng cuốn sách sẽ mang lại nhiều thông tin quí giá cho bạn đọc trong và ngoài nước.
2332 lượt xem
Truy tìm thủ phạm giấu mặt
Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tần số Vô tuyến điện

Truyện tranh Truy tìm thủ phạm giấu mặt đặt kiến thức vào bối cảnh cuộc sống, mong muốn gửi đến người đọc một thông điệp gần gũi nhưng rất thiết thực: trong cuộc sống hiện đại, nhiều thiết bị quen thuộc sử dụng sóng vô tuyến như smartkey, điều khiển từ xa, chuông báo, adapter... có thể vô tình gây ảnh hưởng lẫn nhau nếu xảy ra lỗi hoặc nhiễu tín hiệu.

1003 lượt xem
Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn
Nguyễn Thừa Hỷ

Trong những thập kỷ gần đây, trên hành tinh của chúng ta, những thuật ngữ “văn hóa”, “văn minh”, “truyền thống”, “văn hóa truyền thống” đã trở thành những từ khóa phổ biến mang tính thời thượng, được nhiều người quan tâm và nhắc đến trong cuộc sống và các phương tiện truyền thông. Đó là một điều có ý nghĩa và có thể hiểu được. Có lẽ trong cuộc sống thường ngày, chúng ta bị cuốn hút vào vòng xoáy của những lo toan và ganh đua kinh tế, lợi danh, mà đã lãng quên đi hoặc không còn thời giờ để dành cho việc suy nghĩ và chăm sóc đời sống tinh thần. Cái hiện tại cũng đang đè nặng lên những hành xử, choán hết không gian suy tư của con người, không còn chỗ đứng cho những hồi tưởng quá khứ. Mặt khác, nhìn rộng ra trên phạm vi toàn cầu, chúng ta đang đối diện với một thách thức là những va chạm xung đột giữa các nền văn minh, văn hóa đang tồn tại, lúc âm ỉ, khi bột phát. Có lẽ, sở dĩ ý thức được như vậy, mà hiện nay nhân loại đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo và kêu gọi về vấn đề văn hóa. Liên Hợp quốc, tổ chức UNESCO đã phát động Thập kỷ văn hóa, tổ chức năm Đối thoại những nền văn minh, ra nhiều nghị quyết, tuyên ngôn về đa dạng, đa nguyên và khoan dung văn hóa. Văn hóa là một lực lượng tinh thần, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, là ngọn nguồn, xung lực của phát triển xã hội. Tuy nhiên, văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản kìm hãm và phá hoại lịch sử, đời sống con người với những hậu quả và tổn thất khó lường. Ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn và đấu tranh văn hóa. Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng. Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi văn hóa. Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về nền văn hóa Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết. Nền văn hóa truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ? Có lẽ đó là những câu hỏi trăn trở mà người viết cố gắng tiếp cận khi đề ra mục đích khiêm tốn cho cuốn sách “Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn”, mong đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc chung to lớn. Tuy nhiên, gói gọn trong một vài trăm trang sách cả một nền văn hóa có hàng nghìn năm tuổi và trải ra trên một không gian xã hội rộng lớn nhiều vùng miền với nhiều đặc trưng khác biệt, quả thực là một điều không dễ dàng, đúng hơn là quá khó thực hiện. Các bộ thông sử thường ghi chép rất ít những tư liệu đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sách hiến chương và hội điển cũng chỉ cho biết thêm về những điển chế quan phương của nhà nước. Do đó, việc khảo cứu không thể không tìm đến những nguồn tư liệu khác, như văn hóa dân gian, dân tộc học và nhất là nguồn tài liệu thực địa “mắt thấy tai nghe” của những người nước ngoài. Điều “may mắn” là tốc độ chuyển biến của văn hóa truyền thống Việt Nam rất chậm, những hiện tượng văn hóa xảy ra ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể cũng là những hình ảnh gần như trung thực của văn hóa, xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ trước, do đó có thể coi là tư liệu gốc, những thông tin đương đại. Những thông tin này đã được ghi chép trong một số lớn sách báo của những tác giả người Pháp có mặt hoặc đã sống ở Việt Nam lúc bấy giờ. Vì vậy, người đọc sẽ có thể hiểu được và thông cảm vì sao, hình như tác giả cuốn sách có vẻ thiên vị khi sử dụng những tư liệu cổ nhiều hơn kim, trích dẫn những tác giả nước ngoài nhiều hơn các tác giả trong nước. Thực ra, những dữ kiện về văn hóa truyền thống của các tác giả lớn như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên là những tư liệu cơ bản rất quý báu mà người viết cố gắng khai thác, tận dụng. Tuy nhiên, để tôn trọng tính đương thời nguyên dạng, những tư liệu đương đại - được hiểu là từ sau năm 1945 - của các tác giả trong nước và nước ngoài đã được sử dụng và trích dẫn ở mức độ hạn chế, trừ khi cần nêu lên những luận điểm kiến giải. Sau khi cung cấp những thông tin - đôi khi rất quen thuộc, bình thường đối với lớp người lớn tuổi, nhưng chưa chắc các bạn trẻ đã hiểu biết cặn kẽ, việc khó khăn hơn là tổng hợp, phân tích, đánh giá. Chúng tôi cố gắng thoát khỏi những định kiến giáo điều trong việc khen chê. Một hiện tượng có thể là tích cực về mặt này, ở thời điểm này, nhưng rất có thể lại trở thành tiêu cực ở khía cạnh khác, trong thời điểm khác và ngược lại. Bản thân một sự kiện văn hóa nhiều khi cũng mang tính hai mặt. Văn hóa Việt Nam truyền thống càng không phải là một khối đơn nguyên, thuần nhất, mà là một cấu trúc lai tạo, lưỡng nguyên đối trọng. Chúng tôi cho rằng việc có khen có chê không phải là một thái độ chiết trung thiếu ý kiến rõ ràng, mà là một phong cách tư duy phức hợp, khai mở, khoa học và biện chứng của những người làm công tác nghiên cứu hiện đại.

5372 lượt xem
Học, đọc sách và sáng tạo (Hay tư tưởng về phát triển con người)
TS. Vũ Thùy Dương, GS. TS. Nguyễn Như Ý, TS. Trần Chí Đạt, Võ Thế Quân

“Học, đọc sách và sáng tạo (Hay tư tưởng về phát triển con người)” là cuốn sách đề cao vai trò của học tập, đọc sách và sáng tạo trong quá trình hoàn thiện và phát triển con người. Tác phẩm khẳng định đọc sách là con đường hiệu quả để tiếp thu tri thức, mở rộng hiểu biết và rèn luyện tư duy. Không chỉ dừng lại ở việc học hỏi, cuốn sách còn nhấn mạnh tầm quan trọng của sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Với những luận điểm sâu sắc và giàu tính nhân văn, tác phẩm truyền cảm hứng cho mỗi người xây dựng thói quen học tập suốt đời. Đây là cuốn sách hữu ích dành cho những ai mong muốn phát triển bản thân và đóng góp tích cực cho xã hội.

348 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Quảng là vùng đất vốn thuộc vương quốc Chămpa xưa. Sau nhiều biến cố lịch sử, vùng đất này đã trở thành một bộ phận của lãnh thổ Đại Việt. Buổi đầu thời Lê Sơ (thế kỷ XV), trên bản đồ quốc gia, vùng đất Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi được ghi là Nam Giới, được xem như một phên dậu của Đại Việt. Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), giữa Đại Việt và Chămpa xảy ra xung đột. Vua Lê Thánh Tông thân chinh và đánh thắng Chămpa, cắt đặt vùng đất từ phía nam đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông làm Thừa tuyên Quảng Nam, gồm có 3 phủ, 9 huyện. Cũng từ thời vua Lê Thánh Tông, tên gọi xứ Quảng bắt đầu xuất hiện trong dân gian bên cạnh xứ Thanh, xứ Nghệ... Sau thời kỳ chiến tranh Lê - Mạc và Trịnh - Nguyễn, vùng đất này nằm dưới quyền cai quản của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát phân chia lãnh thổ Đàng Trong thành 12 dinh. Về mặt hành chính, xứ Quảng khi đó trực thuộc dinh Quảng Nam. Tại xứ Quảng có cửa biển Hội An là cửa biển duy nhất lúc bấy giờ được phép buôn bán với nước ngoài. Năm 1806, vua Gia Long chia cả nước làm 23 đơn vị hành chính. Trong đó, đạo Quảng Nam hay dinh Quảng Nam được chia thành 3 trấn. Xứ Quảng hiện nay thuộc vào địa giới hành chính của doanh Quảng Nam và trấn Quảng Ngãi. Năm 1832, vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính quy mô lớn, đổi tất cả trấn và doanh thành tỉnh, đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát trông coi việc cai trị. Địa giới hành chính của tỉnh Quảng Nam (nay là Quảng Nam và Đà Nẵng) và tỉnh Quảng Ngãi lúc bấy giờ tương đương với xứ Quảng hiện nay. Dưới thời Pháp thuộc (1858-1945), sau khi Liên bang Đông Dương được thành lập (1887), chính quyền thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam, đổi tên là Tourane, trở thành một đơn vị hành chính độc lập, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Quốc gia Việt Nam (tức chính quyền Bảo Đại). Đến tháng 3 năm 1965, các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn. Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa quy định là thành phố trực thuộc Trung ương. Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa. Từ đó đến nay, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng là 3 đơn vị hành chính độc lập. Cũng như các tiểu vùng văn hóa khác, quá trình hình thành và phát triển của tiểu vùng văn hóa xứ Quảng là sự tích hợp của nhiều yếu tố tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa... Các yếu tố này mang đặc trưng riêng biệt, tạo cho mỗi vùng miền những bản sắc không pha lẫn trong tổng thể lịch sử - văn hóa Việt Nam. Những giá trị đặc trưng của văn hóa xứ Quảng đã góp phần làm giàu thêm nét đặc sắc, đa dạng trong văn hóa Việt Nam. Chính vì vậy, sứ mệnh lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa quý báu đó phải được xem là trọng trách không chỉ của những con người sinh sống trên mảnh đất này, mà còn là trách nhiệm chung của cả cộng đồng và xã hội Việt Nam nói chung.
2417 lượt xem
Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

1083 lượt xem
Không gian văn hoá Việt Nam - Tiểu vùng văn hoá Duyên hải Nam Trung Bộ
Hà Nguyễn

Nội dung sách phân tích một cách hệ thống các yếu tố cấu thành không gian văn hóa Duyên hải Nam Trung Bộ như môi trường sinh thái biển, quá trình khai phá và định cư, cơ cấu cộng đồng dân cư, hệ thống tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công và văn hóa biển đảo.

291 lượt xem
Xã hội Nhật Bản dân số, gia đình và cộng đồng
Ngô Hương Lan

Cuốn sách “Xã hội Nhật Bản: dân số, gia đình và cộng đồng” là tập hợp kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2020 và 2021 của tác giả, có chỉnh lý, bổ sung, đưa thêm một số thông tin về những vấn đề của Nhật Bản trong đại dịch Covid-19 nhằm gửi đến độc giả những thông tin chính xác và cập nhật về xã hội Nhật Bản hiện nay.

3167 lượt xem