Văn hóa - Xã hội
100 điều nên biết về phong tục cưới hỏi các dân tộc Việt Nam
Ha Nguyen

Hôn nhân không chỉ là bước chuyển trọng đại trong chu kỳ vòng đời người mà còn là một sự kiện quan trọng đối với mỗi gia đình, dòng họ, làng xóm... Ngoài các quy định của pháp luật, hôn nhân cần được xác lập thông qua các phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi của các dân tộc Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời khác và luôn biến đổi theo thời gian. Bởi vậy, phong tục cưới hỏi không chỉ là một trong những nghi lễ quan trọng của chu kỳ vòng đời người, mà còn phản ánh rõ nét
đặc điểm văn hóa tộc người với những dấu ấn truyền thống và hiện đại. Từ xưa đến nay, các dân tộc Việt Nam đều rất chú trọng phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi vừa là một sinh hoạt văn hóa tâm linh, vừa là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phong tục cưới hỏi chứa đựng các giá trị văn hóa truyền thống đã được chắt lọc, kết tinh qua nhiều thế hệ, như lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa nghệ thuật... và có tác động sâu sắc đến việc hình thành cốt cách, tình cảm, diện mạo văn hóa của cá nhân và cộng đồng. Phong tục cưới hỏi là một phần không thể thiếu đối với mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng, một thành tố quan trọng góp phần cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

6983 lượt xem
Di sản Văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh Lào Cai - Intangible cultural heritages of the ethnic minorities in Lào Cai province
Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Lào Cai, Hà Văn Thắng (Chủ biên)

Được coi là vùng đất cổ, là cửa ngõ thông thương với vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào Cai độc đáo với cảnh quan tươi đẹp, núi non hùng vĩ, là nơi cư trú của nhiều dân tộc với 25 nhóm, ngành khác nhau, như: Mông, Dao, Tày, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Kinh… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, bằng tài năng sáng tạo của con người cùng với sự đa dạng về các thành phần dân tộc, Lào Cai đã có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú về loại hình, độc đáo về bản sắc tộc người, với một hệ thống: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; phong tục tập quán; tri thức dân gian… 

Từ khi được tái lập năm 1991, với bộn bề những khó khăn trong công cuộc tái thiết nền kinh tế, xã hội còn  lạc hậu của một tỉnh miền núi nhưng các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã sớm chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các dân tộc. 

Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 13 của Tỉnh ủy về phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; 

Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 8 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển văn hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành chương trình kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 25 nhóm, ngành dân tộc cư trú ở 500 thôn bản trên toàn tỉnh; lựa chọn và lập hồ sơ khoa học được 26 di sản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trong đó 02 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là: Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, GiáyNghi lễ Then của người Tày trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái”. 

Bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở hình thành và tạo nên giá trị cốt lõi để phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn độc đáo, góp phần đưa Lào Cai trở thành một địa phương được đông đảo bạn bè trong nước và ngoài nước biết đến, thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai. 

Trong những năm qua, Lào Cai luôn dẫn đầu các tỉnh phía Tây Bắc về số lượng khách du lịch. Năm 2019, lượng khách đến Lào Cai đạt gần 5 triệu lượt, doanh thu từ du lịch đạt 19.800 tỷ đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. 

Có thể nói, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc của tỉnh Lào Cai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ðể có được những kết quả này, ngoài sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp thực hiện chặt chẽ của các sở, ngành, còn có sự chung tay của cộng đồng các dân tộc, của các nghệ nhân dân gian, những người am hiểu sâu sắc về vốn văn hóa truyền thống của dân tộc. Di sản văn hóa sẽ mãi tồn tại và phát triển, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ hội nhập.

4274 lượt xem
Công trình kiến trúc Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Hà Nội là nơi hội tụ tinh hoa ngàn năm văn vật, là điểm giao hòa của muôn nẻo văn hóa. Dáng nét u tịch, trầm mặc của bóng chùa Trấn Quốc soi mình bên hồ Tây; Những mái nhà nhỏ xinh lớp lớp chồng diêm trong khu phố cổ; Bức tường rêu phong cổ kính của Nhà thờ Lớn; Vẻ uy nghi, đường bệ của mái vòm Nhà hát Lớn; Bông sen tinh khiết, thanh tao nằm cạnh bậc vĩ nhân của dân tộc giữa lòng Thủ đô; Những con sóng uốn lượn dập dềnh trên mái Trung tâm Hội nghị Quốc gia... đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp Thủ đô. Này đây dáng dấp kiến trúc cổ truyền Á Đông trong những nếp nhà, mái đình Hà Nội. Này đây mạch nguồn châu Âu trong những công trình kiến trúc Pháp được thiết kế và xây dựng bởi chính các kiến trúc sư người Pháp. Này đây những thành tựu mới nhất của khoa học kiến trúc hiện đại được tạo tác bởi chính bàn tay và khối óc những con người mới trong một thời đại mới. Mỗi dáng nét đại diện cho một thời kỳ lịch sử trong tiến trình hàng ngàn năm xây dựng và phát triển của Thăng Long - Hà Nội. Song, kỳ diệu thay, tất cả lại đồng thời hiện hữu trong mỗi sớm mai khi thành phố bừng tỉnh giấc, để cùng con người nơi đây dựng xây cuộc sống tươi mới, và tôn vinh những bàn tay lao động sáng tạo đã xây đắp lên những công trình kiến trúc tuyệt đẹp của Thủ đô.
3721 lượt xem
Cộng đồng tộc người khu vực Bắc Bộ
Chu Thái Sơn

Vùng núi Bắc Bộ nhìn dưới lăng kính địa lý nhân văn, được chia làm hai miền Đông và Tây, dòng sông Cái - sông Hồng là ranh giới tự nhiên. Theo đó, miền Đông Bắc bao gồm 6 tỉnh, gọi tắt là Cao - Bắc (nay là tỉnh Thái Nguyên) - Lạng - Thái - Tuyên - Hà (nay là tỉnh Tuyên Quang). Miền Tây Bắc hiện nay cũng gồm có 6 tỉnh là: Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai), Sơn La và Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ).

Nói đến vùng núi Bắc Bộ cũng không thể không lưu ý đến miền trung du liền kề ngay phía nam địa bàn này. Đó là vùng đệm, nối liền giữa miền núi và khu vực đồng bằng sông Hồng. Trên bình diện cả vùng núi Bắc Bộ có đến 26 tộc người sống cận cư và xen cư với nhau. Vì thế, lãnh thổ tộc người khá mờ nhạt, mang tính lịch sử và mang tính tương đối như hiện nay. Mỗi miền Đông hoặc Tây đều có những đặc trưng về tự nhiên và văn hóa - xã hội riêng. Dòng sông Lô phát nguyên từ Bàn Long Giang ở Trung Hoa chảy qua Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang), có chi nhánh lớn là sông Gâm chảy qua Tuyên Quang. Tại Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng. Sông Hồng chảy qua Lào Cai và Phú Thọ rồi đổ dòng vào Hà Nội. Sông Đà từ Lai Châu, Sơn La đổ dòng vào hồ Sông Đà ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ).

Cả vùng núi và trung du Bắc Bộ từ lâu đã trở thành cái nôi ngưng tụ các luồng di dân từ miền Nam Trung Quốc xuống và từ miền tây sang. Tộc người với số đông vượt trội và là cư dân chủ thể tại miền Đông Bắc có các tộc Tày, Nùng. Họ tiếp thu sâu đậm văn hóa miền Nam Trung Quốc; đời sống tâm linh theo Nho - Phật - Đạo; đẩy mạnh nông nghiệp trồng lúa nước, phát triển thủ công nghiệp, mở chợ phiên ở từng vùng để mua bán định kỳ.

Tộc người có số đông vượt trội và là cư dân chủ thể tại miền Tây Bắc là tộc người Thái có ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Nhưng ở phía nam sông Đà là tộc người Mường. Họ đều theo tín ngưỡng cổ truyền với tâm thức vạn vật hữu linh, thờ cúng đa thần nguyên thủy.

Về thành phần tộc người ở mỗi miền Đông và Tây nói trên, trong số 26 tộc người cư trú sớm hoặc muộn tại vùng núi Bắc Bộ, có tới 9 tộc người phân cư ở cả hai miền Đông và Tây. Cùng với người Tày, có số lượng dân cư đáng kể ở cả hai miền là người Mông, Dao, Sán Chay, Nùng, Giáy. Số ít có người Phù Lá, Lô Lô và Bố Y. Trên miền Đông Bắc chỉ có 4 tộc người dân số ít đều không có bộ phận nào sinh sống ở miền Tây. Đó là các nhóm La Chí, Pà Thẻn, Cờ Lao và Pu Péo. Trái lại, trên miền Tây Bắc Bắc Bộ có đến 13 tộc người, có dân số đông như: Thái, Mường, Khơ Mú, Xinh Mun. Dân số ít hơn có các tộc: Hà Nhì, Kháng, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, v.v… đều vắng bóng trên miền Đông Bắc.

Những tộc người ở vùng núi Bắc Bộ đều được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới ở đây theo thứ tự dân số dựa vào kết quả của cuộc tổng điều tra năm 2019. Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, mong nhận được những góp ý chân thành của bạn đọc.

5246 lượt xem
Dẫn chương trình văn hóa nghệ thuật
TS. Trịnh Đăng Khoa, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách Dẫn chương trình văn hóa nghệ thuật được biên soạn nhằm hệ thống hóa các tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động này. Nội dung sách được trình bày khoa học, kết cấu rõ ràng qua ba chương chính: Chương 1 cung cấp những khái niệm nền tảng và hệ thống lý luận về chương trình văn hóa nghệ thuật và vai trò của người dẫn chương trình như một chủ thể kết nối nội dung và cảm xúc cho khán giả. Chương 2 đi sâu vào kỹ năng viết lời dẫn, phân tích ngôn ngữ nghệ thuật và cấu trúc lời dẫn phù hợp với từng loại hình chương trình. Chương 3 tập trung vào kỹ thuật diễn đạt lời dẫn thông qua các phương tiện ngôn ngữ nói, phi ngôn ngữ và công cụ hỗ trợ trực quan, đồng thời hướng dẫn thực hành kỹ năng dẫn chương trình trên sân khấu.
Sách không chỉ cung cấp kiến thức lý luận mà còn kèm theo các ví dụ minh họa cụ thể và bài tập ứng dụng, nhằm hỗ trợ người học rèn luyện kỹ năng một cách thực tiễn và hiệu quả. Đây là tài liệu học tập hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, truyền thông, đồng thời là cẩm nang tham khảo dành cho các giảng viên, cán bộ tổ chức sự kiện, biên đạo và những người hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn văn hóa nghệ thuật. Với tinh thần gắn lý luận với thực tiễn, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng và phương pháp chuyên môn cho người dẫn chương trình, từ đó nâng cao chất lượng các chương trình văn hóa nghệ thuật - một thành tố quan trọng trong sự phát triển bền vững của đời sống văn hóa đương đại.

596 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 2 - Giữ lời hứa
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách nhắc chúng ta khi đã hứa thì phải giữ đúng lời và gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Hứa mà không làm hoặc làm không đến nơi đến chốn sẽ làm mất đi niềm tin của mọi người đối với mình

5582 lượt xem
HOÀNG MAI ĐỊA ĐẦU XỨ NGHỆ
PGS. TS. Phan Đức Dư

Nếu bạn đang tìm kiếm một "cuốn từ điển sống" về mảnh đất cửa ngõ phía Bắc tỉnh Nghệ – nơi giao thoa giữa hào khí oanh liệt của lịch sử và khát vọng vươn mình mạnh mẽ của một thị xã trẻ – thì "Hoàng Mai địa đầu xứ Nghệ" chính là một tác phẩm không thể bỏ lỡ.

Không chỉ dừng lại ở những con số hay sự kiện khô khan, cuốn sách là bản anh hùng ca về đất và người Hoàng Mai, được chắp bút bởi tâm huyết cả cuộc đời của Trung tướng, PGS.TS. Phan Đức Dư. Với hơn 10 năm miệt mài sưu tầm và thực địa, tác giả đã khéo léo khắc họa một bức tranh toàn cảnh rực rỡ: từ thuở khai thiên lập địa, những truyền thống văn hóa đặc sắc đến sự chuyển mình đầy tự hào sau 10 năm thành lập thị xã.

Lật mở từng trang sách, bạn sẽ cảm nhận được hơi thở của quê hương qua những dòng tư liệu quý giá, thấy được chiều sâu tâm hồn của một người con ưu tú dành trọn tình yêu cho nơi mình sinh ra. Đây không chỉ là một cuốn địa chí, mà còn là nhịp cầu nối quá khứ huy hoàng với tương lai rạng rỡ, là món quà tinh thần vô giá dành cho bất cứ ai muốn thấu hiểu và yêu thêm mảnh đất "địa đầu xứ Nghệ" đầy nắng gió nhưng cũng đầy tình người này.

1797 lượt xem
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
PGS.TS Trần Thị Minh Tuyết

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

2749 lượt xem
Sống minh triết trong nền giáo dục chia sẻ qua sự chiêm nghiệm các biểu đạt: ①-②-③-④-⑤
Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Giản, Phạm Minh Xuân, Nguyễn Hoàng Nam, Hoàng Đức Hoàn

Nhà văn hóa lớn của nhân loại Mahatma Gandhi từng nói: “Nền giáo dục chân chính phải lấy giáo dục minh triết và lòng từ thiện làm nền tảng”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới có lời huấn đức: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu mất dần đi...”.
Cuộc sống ngày nay đang tiến đến kỷ nguyên kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vượt bậc, song cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người sống minh triết, sống hướng thiện, sống hướng thượng tới các giá trị cao quý.
Một số nhà giáo dục hiện đại thường mong mỏi nhà trường phải dạy 4 chữ “C” trong động thái của thế kỷ XXI(2):
- C1: Tư duy phản biện (Critical thinking);
- C2: Năng lực giao tiếp (Communication);
- C3: Năng lực hợp tác (Collaboration);
- C4: Năng lực sáng tạo (Creativity).
Giáo dục minh triết và lòng từ thiện, giáo dục cho mầm thiện ở con người được phát triển lên và mầm ác mất đi như Gandhi, Hồ Chí Minh và những nhà văn hóa khác từng huấn đức là cơ sở để có “4C” một cách đích thực.

2104 lượt xem
Kỷ yếu phi công tiêm kích Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1974 - 2024)
Ban Liên lạc cựu chiến binh Không quân

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) và 70 năm truyền thống Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng (3/3/1955 - 3/3/2025), Ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân tổ chức biên soạn cuốn sách “Kỷ yếu phi công tiêm kích Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1974-2024” nhằm vinh danh 586 phi công tiêm kích đã và đang ngày đêm canh giữ bầu trời Tổ quốc, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, trường tồn trong thái bình.

Ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân trân trọng cảm ơn Thủ trưởng Bộ Tư lệnh và các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng Phòng không - Không quân; các cựu chiến binh; các thân nhân phi công tiêm kích đã hy sinh, từ trần; các tổ chức, cá nhân tài trợ; Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi về mọi mặt trong quá trình biên soạn, xuất bản cuốn sách!

Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, biên soạn, nhưng khó tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự góp ý của các đồng chí để cuốn sách được hoàn thiện hơn! Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với các đồng chí và bạn đọc!

BAN LIÊN LẠC
CỰU CHIẾN BINH KHÔNG QUÂN

1136 lượt xem
Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn những bài học kinh nghiệm chủ yếu
GS.TS. Lê Hữu Tầng

Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một công trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống và khái quát, có những kiến giải mới, góp phần làm sáng tỏ một phương diện của chủ nghĩa xã hội hiện còn ít được nghiên cứu - phương diện chủ nghĩa xã hội đi từ lý luận đến thực tiễn, từ đó rút ra một số bài học kinh nghệm bổ ích cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhân dân ta đang tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2927 lượt xem
Lễ hội Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Lễ hội cổ truyền là một đặc trưng của văn hoá người Việt, là nhu cầu không thể thiếu được trong tư duy và sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân. Trong đời sống người Việt, lễ hội là biểu hiện cách ứng xử văn hoá với thiên nhiên, với thần thánh và cộng đồng. Mỗi người có thể tìm thấy cho chính mình sự hồn nhiên tươi trẻ, niềm hưng phấn nghệ thuật, những xúc cảm chất phác, thơ ngây khi tự nguyện tham gia vào lễ hội. Lễ hội cũng được coi là một trong những nguồn sữa mẹ của các loại hình nghệ thuật. Lễ hội hỗn dung các tầng văn hoá trong tiến trình lịch sử, đồng thời bảo lưu, nuôi dưỡng và phát triển nhiều truyền thống văn hoá của cộng đồng, của dân tộc. Hà Nội là một đô thị cổ, nhưng cội nguồn sâu xa hơn cũng chính là một làng quê ven sông Nhị. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Thăng Long - Hà Nội trở thành vùng đất văn vật văn hiến - một miền hội hè phong phú. Lễ hội Hà Nội vừa có nét đặc trưng đô thị, vừa thấm đượm những phong vị của làng quê, mang dáng dấp của truyền thống và nguồn cội. Lễ hội Hà Nội vừa phong phú, đa dạng, vừa hấp dẫn, lôi cuốn vô cùng. Hà Nội có hàng ngàn lễ hội, trải suốt bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông, từ tháng Giêng đến tháng Chạp, từ đỉnh Ba Vì chon von đến dải đất thơ mộng ven hồ Tây quanh năm lộng gió. Qua năm tháng, lễ hội đã ăn sâu, bén rễ, hội tụ và lan tỏa các giá trị văn hóa trên mảnh đất cổ kính và linh thiêng, trở thành một phần không thể thiếu của Thăng Long - Hà Nội ngàn năm tuổi.
3913 lượt xem
ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)
Trần Xuân Hiệp, Trương Công Vĩnh Khanh

Sau những thể nghiệm đầu tiên về việc thành lập một tổ chức khu vực với sự tham gia của tất cả các quốc gia Đông Nam Á từ những năm 1960, cuối cùng một tổ chức chính thức đã ra đời vào ngày 08/8/1967, mang tên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trải qua những thăng trầm lịch sử, sự tồn tại và phát triển của ASEAN là minh chứng cho tình đoàn kết chặt chẽ của các nước Đông Nam Á. Từ khi thành lập với ASEAN-6, từng bước kết nạp thêm các thành viên mới để trở thành ASEAN-10, và đến năm 2015, Cộng đồng ASEAN (AC) đã được xây dựng, củng cố trên ba trụ cột: Cộng đồng An ninh - Chính trị (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC), Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC).
Sau 55 năm xây dựng và trưởng thành (1967 - 2022), ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trước hết, ASEAN đã tạo cho mình một vị thế mới, với vai trò là trung tâm trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, ủng hộ như EAS, ARF, ASEAN+1, ASEAN+3, RCEP, ADMM+ nhìn chung đều được các cường quốc và đối tác trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương đón nhận. Ở cấp độ quốc gia, một số thành viên của ASEAN đã và đang tận dụng tốt sự cạnh tranh chiến lược, vị thế địa chính trị và các lợi thế riêng khác của mình để đóng vai trò lớn hơn trong xây dựng cấu trúc hợp tác khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, ASEAN đã gặt hái được những thành công ấn tượng về kinh tế, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba ở châu Á, sau Trung Quốc và Nhật Bản. Hơn nữa, tiến trình hội nhập của ASEAN đánh dấu một cột mốc, giai đoạn quan trọng mới với việc tuyên bố thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, mở ra một trang mới trong tiến trình liên kết kinh tế gắn chặt hơn. Về văn hóa - xã hội, ASEAN cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, thu hút sự tham gia của người dân và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân: thu hút sự tham gia của các nhóm, giới và các tiến trình của ASEAN; tăng quyền cho người dân và tăng cường các thể chế đảm bảo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được rất đáng khâm phục, ASEAN hiện nay vẫn đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức. Khu vực Đông Nam Á được xác định là trung tâm của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và cũng là điểm mấu chốt của sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, Đông Nam Á trở thành “đấu trường” can dự, lôi kéo, tập hợp lực lượng nhằm kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau. Ngoài ra, xuất phát từ lợi ích chiến lược, nội bộ ASEAN cũng có những vấn đề gây cản trở cho sự thống nhất cần có của một cộng đồng, chưa thật sự đoàn kết và đôi khi là những bất đồng giữa các nước thành viên về các nội dung liên quan. Điều này khiến cho sức mạnh chung của khu vực bị ảnh hưởng, có phần giảm sút khi đối diện với các vấn đề quốc tế cần tiếng nói của tập thể.
Với tầm quan trọng về vị trí địa chiến lược, địa kinh tế, địa văn hóa, ASEAN đã, đang và sẽ là nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với hòa bình, ổn định và phát triển thịnh vượng của khu vực Đông Nam Á cũng như Ấn Độ - Thái Bình Dương, đồng thời là nhân tố trung tâm của nhiều định chế hợp tác trong khu vực. Cuốn sách “Cộng đồng ASEAN: 55 năm hình thành và phát triển (1967 - 2022)” ra đời trong thời điểm ASEAN hướng đến kỷ niệm 55 năm ngày thành lập sẽ tạo thêm nhiều động lực cho chúng ta cùng chung tay xây dựng hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN ngày một phát triển. Dù biết rằng các tác giả đã hết sức cố gắng, nhưng để nghiên cứu về ASEAN là việc không hề dễ dàng, vì thế, chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót, bất cập. Hy vọng rằng, cuốn sách này sẽ góp phần cung cấp thông tin và kiến thức cho bạn đọc về quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN trong giai đoạn hiện nay.

9777 lượt xem
Làng nghề thủ công Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen

Hà Nội dường như là thủ đô thiên nhiên của châu thổ sông Nhị, của miền Bắc Việt Nam. Các mạch núi Tây Bắc đều dồn về đây, các dòng sông cũng dồn về đây rồi toả ra thế “chúng thuỷ triều Đông”. Và có lẽ bởi vậy mà vùng“đất lành chim đậu” này cũng trở thành nơi hội tụ của các anh tài, các nghệ nhân từ khắp mọi miền đất nước. Từ mùa thu năm Canh Tuất (1010) đất kinh thành được phục hưng và bừng nở với Long phượng thành, với 61 rồi 36 phố phường, với thập tam trại và nhiều chợ búa ở cửa ô. Trí thức, thương nhân, thợ thủ công tụ hội về đây chen đua, cọ sát trí năng thủ xảo, tâm linh để dần dần kết tinh thành văn hiến, văn vật, thành tài hoa đất kinh kỳ. Nếu nhà văn Tô Hoài cho rằng Hồ Gươm - Kẻ Chợ tạo ra tiếng Hà Nội, do trăm nhà trăm vùng đua tiếng rồi dung hợp lại mà thành, không giống bất cứ một phương ngữ tiếng Việt nào thì “tài khéo đất rồng” là kết quả hội tụ và kết tinh cái sành sỏi, cái tế vi của người Hà Nội. Xung quanh Thăng Long - Đông Kinh - Kẻ Chợ mọc dần lên các làng chuyên doanh đặc sản: các làng nghề như gốm sứ Bát Tràng, vàng quỳ Kiêu Kỵ, làng nghề giấy vùng Bưởi, làng hoa Ngọc Hà, quất Nghi Tàm... Làng nghề trồng trọt, làng nghề thủ công cứ thế mà nổi danh cùng năm tháng. Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, nhiều nghề, làng nghề Hà Nội vẫn tồn tại, phát triển và để lại dấu ấn khó quên trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam. Thăng Long - Hà Nội ngày càng bộc lộ một diện mạo phong phú, một tiềm năng không nhỏ, một truyền thống nghề không thể để mai một với thời gian. Hà Nội có tiềm năng lớn về du lịch các làng nghề. Khách đến với Hà Nội không chỉ được chiêm ngưỡng các danh thắng, di tích lịch sử và các lễ hội mà còn được thưởng thức, ngắm nhìn cả một bảo tàng sống động về các sản phẩm đặc sắc, phong phú và đa dạng của các làng nghề đã được hình thành và tồn tại hàng ngàn năm lịch sử.

3582 lượt xem
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
TS. Trần Thị Thủy (Chủ biên)

Cuốn sách Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc gắn bảo tồn văn hóa tộc người với phát triển du lịch cộng đồng ở các địa bàn tiêu biểu như Mai Châu, Mộc Châu và Sa Pa. Dựa trên kết quả nghiên cứu và điền dã thực địa, sách đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa vùng cao.

821 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững
TS. Trần Văn Miều

Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững” tập trung làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của rừng đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh sinh thái quốc gia. Nội dung sách cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn về quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và chuyển đổi xanh. Tác phẩm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng trong gìn giữ “lá phổi xanh” của đất nước vì sự phát triển bền vững hôm nay và mai sau.

946 lượt xem