Văn hóa - Xã hội
Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ (bản rút gọn)
TS. Nguyễn Thị Thanh Vân

Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.

1277 lượt xem
Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn những bài học kinh nghiệm chủ yếu
GS.TS. Lê Hữu Tầng

Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một công trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống và khái quát, có những kiến giải mới, góp phần làm sáng tỏ một phương diện của chủ nghĩa xã hội hiện còn ít được nghiên cứu - phương diện chủ nghĩa xã hội đi từ lý luận đến thực tiễn, từ đó rút ra một số bài học kinh nghệm bổ ích cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhân dân ta đang tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2928 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 2 - Giữ lời hứa
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách nhắc chúng ta khi đã hứa thì phải giữ đúng lời và gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Hứa mà không làm hoặc làm không đến nơi đến chốn sẽ làm mất đi niềm tin của mọi người đối với mình

5586 lượt xem
85 Chân dung Văn hóa, Văn chương Việt - Tập 1
GS. Phong Lê

Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”, và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội. 

Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp. 

Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập. 

Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh. 

Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được. 

m 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.

Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.

6162 lượt xem
Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam
GS. Nguyễn Văn Khang

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam” là cuốn sách chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm sáng tỏ vai trò, sứ mệnh và những chuẩn mực cốt lõi của nền báo chí cách mạng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác phẩm hệ thống một cách khoa học các quan điểm của Người về bản chất của báo chí cách mạng; yêu cầu về đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ nghiệp vụ của người làm báo; cũng như phương pháp, phong cách tuyên truyền gần dân, trọng dân, vì dân.

Cuốn sách cũng phân tích tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng đội ngũ nhà báo trung thực, giản dị, dũng cảm, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên hết. Thông qua việc luận giải những giá trị thời sự và định hướng vận dụng trong bối cảnh mới, tác phẩm giúp độc giả hiểu sâu hơn nền tảng tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam hiện nay, đồng thời gợi mở các giải pháp nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp và tính nhân văn của báo chí trong thời kỳ chuyển đổi số.

5778 lượt xem
Hữu Ngọc: Đồng hành cùng thế kỷ Văn hóa - Lịch sử Việt Nam
Hữu Ngọc
Là “nhà xuất nhập khẩu văn hóa”, Hữu Ngọc đã sáng tác và thuyết trình nhiều để giới thiệu ra thế giới tinh hoa văn hóa Việt Nam và phổ biến trong nước tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc. Chúng tôi, độc giả nước ngoài, tìm hiểu văn hóa Việt Nam qua tác phẩm Lãng du trong văn hóa Việt Nam của ông: bản tiếng Anh (Wandering through Vietnamese culture) được Giải vàng sách Việt Nam 2006, tái bản và in 10 lần, bản tiếng Pháp (A la decourverte de la culture du Vietnam) được giải GADIF 2008 (Giải các đại sứ và tổ chức Pháp ngữ ở Việt Nam) và in 6 lần - tổng cộng khoảng hai vạn bản in. Hữu Ngọc là một mắt xích nối văn hóa Việt Nam với văn hóa thế giới. Tác phẩm Hữu Ngọc - Đồng hành cùng thế kỷ văn hóa - lịch sử Việt Nam giới thiệu lịch sử văn hóa Việt Nam qua chân dung những người cùng thời với ông. Hữu Ngọc sinh cuối năm 1918. Ông sống gần trọn thế kỷ XX và bắc cầu sang thế kỷ XX - XXI. Ở trong nước, ông vừa là nhân chứng và như các công dân Việt Nam khác, là tác nhân ít nhiều của các giai đoạn lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc, Nhật thuộc, Cách mạng tháng Tám, Tuyên ngôn độc lập, chiến tranh chống Pháp, Mỹ, Khơme đỏ, Trung Quốc, thời “bao cấp”, thời “đổi mới mở cửa” đến “toàn cầu hóa”. Trong khung cảnh quốc tế, ông cũng sống trong giai đoạn cực kỳ biến động, sau chiến tranh thế giới I, cuộc đấu tranh dân chủ chống Phát xít, chiến tranh thế giới II, chiến tranh lạnh, Mỹ bá chủ thế giới sau khi Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, công cuộc phi thực dân hóa, thế giới thứ ba trỗi dậy, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vô tiền khoáng hậu, sự diễn biến sắp xếp - cân bằng lực lượng của các siêu cường… Trong tác phẩm này, Hữu Ngọc thể nghiệm vốn sống của mình trong bối cảnh quốc gia và quốc tế, thể nghiệm qua giao lưu trực tiếp và gián tiếp (sách, báo, thông tin) với những người cùng thời. Hữu Ngọc hiểu “Hữu Ngọc đồng hành cùng thế kỷ văn hóa - lịch sử Việt Nam” theo quan niệm chủ quan của mình: đó là những người trong nước và ngoài nước sống và hành động khi ông bước vào tuổi có ý thức về cuộc sống xã hội ngoài cái nôi gia đình (tuổi lên 9 - 10). Đối với ông, cụm từ “những người cùng thời” bao gồm những nhân vật có tên và cả quần chúng, các nhóm xã hội vô danh. Vì tác giả chỉ đề cập đến những giao lưu tiếp xúc bản thân, nên có thể có những nhân vật và sự kiện quan trọng đương thời không xuất hiện trong sách của ông. Thị lực của Hữu Ngọc rất yếu nhưng cái nhìn nội tâm của ông lại rất sâu sắc, đôi lúc hóm hỉnh khi phác họa một chân dung, kể lại một sự việc, nêu lên hay thể hiện một vấn đề. Mong các bạn đọc thích thú tìm thấy ở những người cùng thời một bức trang lịch sử gần trăm năm với những âm hưởng lan tỏa cho đến ngày nay.
3256 lượt xem
Tiếp tục đổi mới lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới (Sách chuyên khảo)
Nguyễn Viết Thảo

Tiếp tục đổi mới lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới (Sách chuyên khảo)

1999 lượt xem
Sóng căng đét - Ví khét lẹt
Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tần số Vô tuyến điện

"Sóng căng đét – Ví khét lẹt" là ấn phẩm truyền thông của Cục Tần số Vô tuyến điện, được biên soạn nhằm phổ biến kiến thức về tần số vô tuyến điện, nâng cao nhận thức về việc sử dụng phổ tần và thiết bị vô tuyến đúng quy định, đồng thời truyền tải các thông tin chuyên ngành qua lối thể hiện gần gũi, sinh động và dễ tiếp cận với đông đảo bạn đọc.

1708 lượt xem
Chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia giai đoạn 1954-1970
TS Nguyễn Thành Văn
Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng nằm trên bán đảo Đông Dương, có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít và diễn ra liên tục từ lâu đời. Tuy vậy, quan hệ giữa hai nước cũng có những thăng trầm nhất định tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, chính sách xây dựng phát triển đất nước nói chung, chính sách đối ngoại nói riêng và đặc biệt là chính sách của mỗi nước dành cho nhau. Thực tế lịch sử cận hiện đại Việt Nam và Campuchia cho thấy mọi sự biến động chính trị - xã hội của nước này đều có ảnh hưởng nhất định đến nước kia và ngược lại. Sau khi giành được độc lập (1953), Campuchia thực hiện chính sách đối ngoại trung lập cho đến năm 1970 (Lon Nol lật đổ chế độ của Norodom Sihanouk). Chính sách đối ngoại trung lập không chỉ góp phần quan trọng tạo nên một trong những thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử Campuchia mà còn có tác động đến công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.. Cuốn sách Chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia giai đoạn 1953 - 1970 gồm 03 chương: Chương 1: Bối cảnh lựa chọn và thực hiện chính sách đối ngoại của Campuchia; Chương 2: Quá trình hình thành và triển khai chính sách đối ngoại của Campuchia; Chương 3: Đặc điểm và hệ quả của chính sách đối ngoại của Campuchia. Mục đích của cuốn sách trước hết là phân tích, lý giải tại sao Campuchia lựa chọn chính sách đối ngoại trung lập, những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách này. Hai là,làm rõ quá hình thành, nội dung, mục tiêu của chính sách đối ngoại cũng như việc hiện thực hóa chính sách này. Ba là, đánh giá về những đặc điểm, hệ quả của chính sách này đối với Campuchia và công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các nhà nghiên cứu, đồng nghiệp ở cả Việt Nam và Campuchia. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó. Mặc dù đã cố gắng nhưng trong quá trình biên soạn, tác giả khó có thể tránh được những sai sót vì vậy rất mong độc giả lượng thứ.
3304 lượt xem
Sa Pa - Sương và đá (Sa Pa - Fog and Rocks)
Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Lào Cai

Sa Pa nằm ở phía tây của tỉnh Lào Cai, phía bắc giáp huyện Bát Xát, phía nam giáp huyện Văn Bàn, phía đông giáp thành phố Lào Cai và huyện Bảo Thắng, phía tây giáp huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Lai Châu. Người địa phương gọi vùng đất này là Sa Pả (có nghĩa là bãi cát).

Mùa đông năm 1903, đoàn khảo sát trắc địa của quân đội Pháp phát hiện ra vẻ đẹp của cao nguyên Lồ Súi Tổng. Đến năm 1905, bản vẽ về cao nguyên Lồ Súi Tổng và đỉnh cao Phan Xi Păng đã được xác định. Kể từ đây, Cha Pa (tên gọi dưới thời Pháp) đã được biết đến với các tên gọi “trạm nghỉ dưỡng trên cao”, “kinh đô mùa hè ở Đông Dương”, “khu nghỉ mát điều dưỡng”. Sau 120 năm, vẻ đẹp của “nơi gặp gỡ đất trời” vẫn luôn hấp dẫn du khách muôn phương, vẫn là vùng đất gợi nhớ, gợi thương trong lòng người đến với Sa Pa.

Sa Pa bốn mùa, mùa nào cũng đẹp. Một ngày ở Sa Pa hội tụ đủ bốn mùa. Vào buổi sáng, Sa Pa ẩn mình trong khói sương. Khi nắng lên, Sa Pa ấm áp đón gió xuân. Khi mặt trời đứng bóng, trời quang mây tạnh, khắp đó đây tràn ngập hương sắc mùa hè. Khi hoàng hôn buông xuống, Sa Pa gói mình trong se lạnh. Ban đêm, cả Sa Pa chìm trong giấc ngủ đông. Từ tháng Năm đến tháng Tám, Sa Pa có mưa nhiều, lượng mưa trung bình khoảng 1.800 - 2.200mm. Mùa hè ở Sa Pa nhiệt độ khoảng 20 - 250C vào ban ngày, 13 - 150C vào ban đêm. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ trung bình 3 - 70C, có những lúc xuống tới 00C. Sa Pa cũng là một trong những nơi hiếm có của Việt Nam có tuyết rơi.  Khi hoa đào nở khắp các bản làng là lúc mùa xuân đang về.

Nhắc đến Sa Pa, nhiều người sẽ liên tưởng đến hình ảnh của đỉnh Phan Xi Păng - "nóc nhà Đông Dương", của nhà thờ đá, phố núi ẩn hiện trong sương vào mỗi buổi sáng hay chiều muộn. Sương và đá đã làm nên sự kỳ vĩ và huyền thoại của Sa Pa, làm nên những điều chỉ riêng có ở Sa Pa.

Ở Sa Pa, các tộc người: Kinh, Mông, Dao, Tày, Giáy, Xá Phó (Phù Lá)... hội tụ, sinh sống từ lâu đời. Trong đó, người Mông chiếm trên 50% dân số. Các tộc người ở đây bao đời nay đều sống hòa ái với sương, với đá. Sự kiên cường, mạnh mẽ như đá, mềm mỏng, nhẹ nhàng như sương của họ đã làm nên một bức tranh sống động về Sa Pa, tạo nên một không gian văn hóa sâu, rộng. Không gian đó tiếp tục được mở ra đầy khoáng đạt với chiều dài của lịch sử, của di sản để kết nối quá khứ với tương lai.

Ở Sa Pa, sương và đá đã trở thành biểu tượng trong tâm thức của cộng đồng các dân tộc - là triết lý sống cương - nhu, triết lý về sự hài hòa, triết lý về sự tồn tại và hồi sinh. Có thể nói, sương và đá đã tạo nên một nốt “lặng”, làm nên cái “lặng lẽ” đặc trưng của Sa Pa. Tạo nên một Sa Pa với vẻ đẹp đầy bí ẩn. Nơi đây, con người lặng lẽ trong sương, trên đá để sinh tồn và phát triển.

Từ biểu tượng của sương và đá, cuốn sách mong muốn được kể một câu chuyện bằng hình ảnh về cảnh sắc và con người Sa Pa. Câu chuyện về vẻ đẹp huyền ảo của Sa Pa ẩn hiện trong sương; về vẻ đẹp “lặng lẽ” của Sa Pa trong sương, trên đá; về những con người sống với đá, với sương; về những bản tình ca được viết nên từ sương và đá; và những khát vọng được viết nên từ vùng đất của đá và sương.

Hy vọng cuốn sách sẽ chạm được đến cảm xúc của đông đảo độc giả. Có thể chỉ là sự rung động với hạt nắng nhỏ đang nằm trong một giọt sương long lanh, là những cánh đào đỏ thắm trên hàng rào đá xinh xắn bao quanh căn nhà trình tường của người Mông. Đi vào trong câu chuyện của “Sa Pa - sương và đá”, độc giả được trở về với thiên nhiên để cảm nhận sự bao dung, hiền hòa của thiên nhiên mà thêm yêu quê hương, xứ sở, được đắm mình trong dòng chảy văn hóa để thêm yêu những con người và những cuộc đời trên đá, trong sương.

2849 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Thanh
Hà Nguyễn

Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Thanh của tác giả Hà Nguyễn là cuốn sách giới thiệu những nét đặc trưng về lịch sử, văn hóa và con người của vùng đất Thanh Hóa trong tổng thể không gian văn hóa Việt Nam. Tác phẩm khái quát quá trình hình thành và phát triển của xứ Thanh qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời làm rõ những yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa riêng của vùng đất này. Nội dung sách đề cập đến điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử, đời sống kinh tế, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội dân gian cùng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu. Bằng cách tiếp cận địa – văn hóa kết hợp với lối trình bày khoa học, dễ hiểu và sinh động, cuốn sách giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về một vùng đất giàu truyền thống, góp phần bồi đắp hiểu biết và tình yêu đối với di sản văn hóa Việt Nam.

609 lượt xem
Xã hội Nhật Bản dân số, gia đình và cộng đồng
Ngô Hương Lan

Cuốn sách “Xã hội Nhật Bản: dân số, gia đình và cộng đồng” là tập hợp kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2020 và 2021 của tác giả, có chỉnh lý, bổ sung, đưa thêm một số thông tin về những vấn đề của Nhật Bản trong đại dịch Covid-19 nhằm gửi đến độc giả những thông tin chính xác và cập nhật về xã hội Nhật Bản hiện nay.

3287 lượt xem
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới

6492 lượt xem
Sự chuyển biến cảu Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0
Bộ Thông tin và Truyền thông

Ngày 21/02/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 219/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo, trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan chủ trì, điều phối thực hiện Đề án. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với PGS.TS Nguyễn Phú Lợi biên soạn, xuất bản cuốn sách “Sự chuyển biến của tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0”.

Nội dung cuốn sách gồm 2 phần: 

Phần I: Sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0

Phần II: Sự chuyển biến của tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0 

Nội dung cuốn sách được biên soạn khá công phu, khái quát nên một bức tranh tương đối toàn diện về sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0, góp phần vào việc hoạch định chính sách, phát huy các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. 

3120 lượt xem
Việt - Lào: Hai nước chúng ta
Nguyễn Văn Khoan

Cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, núi liền núi, sông liền sông, cùng uống chung nước dòng sông Mê Kông, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng rất gần gũi và thân thiết. Là điểm giao thoa, cầu nối giữa nhiều phần của đại lục châu Á, được các nhà địa chính trị Pháp coi là gốc của châu Á, hai dân tộc Việt Nam và Lào đã có sự liên hệ trong lịch sử trường kỳ dựng và giữ nước. Như một nhu cầu tự phát và dần hướng tới tự giác, khi hữu sự, bị đe dọa xâm lược, hoặc bị xâm lược, hai dân tộc đã tìm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Thế kỷ XV, đã chứng kiến sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa nghĩa quân Lam Sơn và nhân dân các bộ tộc Lào, cả về vũ khí, đạn dược, trang bị lẫn xây dựng căn cứ chiến đấu. Sang thế kỷ XIX, vận mệnh của hai dân tộc lại gắn bó với nhau khi có kẻ thù chung là thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước của nhân dân Việt Nam đã được nhân dân các bộ tộc Lào che chở, giúp đỡ. Phong trào Cần Vương của vua quan triều đình Huế cũng đã nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ các bộ tộc Lào anh em nơi vùng biên. Các nghĩa quân của các bộ tộc Lào chống Pháp cũng nhận được sự giúp đỡ, phối hợp của các lực lượng yêu nước chống Pháp ở các tỉnh biên giới Việt Nam - Lào. Sự hợp tác tự nguyện và tự giác ban đầu đó đã đặt nền móng vững chắc cho bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc ở thế kỷ XX khi hoàn cảnh lịch sử đặt ra cho mỗi dân tộc và cả hai dân tộc những thách thức hết sức khó khăn cần phải vượt qua. Cuốn sách “Việt - Lào: Hai nước chúng ta”, do tác giả Nguyễn Văn Khoan sưu tầm và biên soạn, tập hợp một số công trình khoa học viết về một số chủ đề đã công bố trên các sách báo, tạp chí, được sắp xếp theo thời gian lịch sử đáp ứng yêu cầu của bạn đọc khao khát tìm hiểu một vấn đề lớn của lịch sử hai nước, đồng thời có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

2870 lượt xem
Những kỷ niệm về tình hữu nghị Việt-Pháp và Pháp ngữ
Hội Hữu nghị và hợp tác Việt - Pháp - Câu lạc bộ Pháp ngữ
Bạn đọc thân mến, Câu lạc bộ Cựu học sinh Pháp ngữ (CAEF) được thành lập theo Quyết định số 054/HVP-LH, do Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Pháp (nay là Hội Hữu nghị và Hợp tác Việt - Pháp, thuộc Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam) ký ngày 17/5/1996. Từ ngày 07/3/2007, CAEF được đổi tên thành Câu lạc bộ Pháp ngữ, nhằm tập hợp các thế hệ người Việt sử dụng tiếng Pháp và mở rộng hoạt động của mình hơn nữa. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm quan hệ Việt Nam - Pháp (1973 - 2013) và 17 năm thành lập CAEF (1996 - 2013), CAEF tổ chức biên soạn cuốn sách “Những kỷ niệm về tình hữu nghị Việt - Pháp và Pháp ngữ” bằng hai thứ tiếng (Việt, Pháp). Nội dung cuốn sách được chia làm hai phần: Phần 1: Những bài viết về kỷ niệm, về tình hữu nghị Việt - Pháp của hội viên CAEF, của các câu lạc bộ địa phương cũng như các bạn người Pháp; Phần 2: Những bài viết về cảm nhận của người Việt với tiếng Pháp. Cuốn sách sẽ mang tới cho bạn đọc những cảm xúc chân thành, sâu sắc, những kỷ niệm chan chứa tình hữu nghị giữa các bạn người Pháp và người Việt Nam, những người đã sống và làm việc ở nước Pháp cũng như những người bạn Pháp khi đến Việt Nam. Cuốn sách như một bức tranh đầy cảm xúc, ghép những mảnh tình cảm của mỗi tác giả với những gam màu khác nhau nhưng hàm chứa giá trị đích thực của tình hữu nghị Việt - Pháp ngày càng sâu đậm, bền vững.
1805 lượt xem