Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
ປີ 2017 ເປັນປີທີ່ມີຄວາມຫມາຍສຳ¬ຄັນພິ¬ເສດໃນການພົວ¬ພັນດ້ານການທູດລະ¬ຫວ່າງ ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ ເມືອງສອງປະ¬ເທດລະນືກຄົບ¬ຮອບ 40 ປີ ແຫ່ງການເຊັນສົນ¬ທິ-ສັນ¬ຍາ ມີດຕະພາບ ແລະ ຮ່ວມມື ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ (18 ກໍ¬ລະ¬ກົດ ປີ 2017). ແລະ 55 ປີ ແຫ່ງການສະ¬ຖາ¬ປະ¬ນາຄວາມສຳ¬ພັນທາງການທູດຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ (05 ກັນ-ຍາປີ 1962 - 05 ກັນ¬ຍາປີ 2017). ໂດຍໄດ້ຮັບຄວາມເຫັນດີຈາກການນຳຂອງກະ-ຊວງຖະ¬ແຫຼງຂ່າວ ແລະ ການສ່ືສານ, ສຳ¬ນັກພິມຈຳ¬ຫນ່າຍຖະ¬ແຫຼງຂ່າ ແລະ ການສ່ືສານສົມ¬ທົບກັບຜູ້ຊ່ຽວ¬ຊານ ຈັດຕັ້ງການຮຽບ¬ຮຽງ ແລະ ພິມຈຳ¬ຫນ່າຍປືມ 11 ຫົວເພ່ືອເປັນການລະນືກ ການພົວ¬ພັນ ທາງການທູດຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ. ໃນປີ 2018, ໂດຍແນ¬ໃສ່ສືບ¬ຕໍ່ຢືນ¬ຢັນ ແລະ ໂຄ¬ສະ¬ນາຢ່າງ ກວ້າງ¬ຂວາງ ແລະ ເລິກ¬ເຊິ່ງກວ່າອີກກ່ຽວກັບ ການພົວ¬ພັນອັນຈົບ¬ງາມລະ¬ຫວ່າງ ສອງປະ¬ເທດ, ສອງຊາດ. ສຳໜັກພິມກະຊວງຖະແຫຼງຂ່າວ ແລະ ກາຈສື່ສານໄດ້ເລືອກປື້ມຈຳນວນ 8 ຫົວເພື່ອແປ ແລະ ພິມຈຳໜ່າຍເປັນພາສາລາວ, ນັ້ນກໍ່ຄື: 1- ບາດ¬ກ້າວຕ່າງໆໃນວັນ¬ນະ¬ຄະ¬ດີ ທີ່ຢັ້ງ¬ຢືນເຖິງຄວາມເປັນເອ¬ກະ¬ລາດຂອງບັນ-ດາ¬ເຜົ່າໃນ ລາວ ແລະ ຫວຽດ¬ນາມ. 2- ສາຍພົວ¬ພັນພິ¬ເສດ, ການຮ່ວມມືຮອບ¬ດ້ານ ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ ໃນໄລ¬ຍະປີ 1954-2017. 3- ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ: ສາຍພົວ¬ພັນທີ່ສະ¬ໜິດ¬ສະ¬ໜົມຕະ¬ຫຼອດໄລ¬ຍະເວ¬ລາຜ່ານມາ (ມີຫຼາຍຈຸດທີ່ຄ້າຍ¬ຄືກັນທາງດ້ານການ¬ເມືອງ, ປະ¬ຫວັດ¬ສາດ, ວັດ¬ທະ¬ນະ¬ທຳມາເເຕ່ບູ¬ຮານນະການຈົນເຖິງປັດ¬ຈຸ¬ບັນ). 4- 55 ປີ ສາຍພົວ¬ພັນທາງດ້ານການທູດລະ¬ຫວ່າງ ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ, ຫວນຄືນ ເເລະ ກ້າວເຂົ້າສູ່ອະ¬ນາ¬ຄົດໃນຕໍ່ໜ້າ. 5- ບັນ¬ດາບົດເລື່ອງກ່ຽວກັບສາຍພົວ¬ພັນ ຄວາມສາ¬ມັກ¬ຄີ ມິດ¬ຕະ¬ພາບ ລະ¬ຫວ່າງຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ. 6- ຄວາມຄ້າຍ¬ຄືກັນທາງດ້ານທິດສະດີ ວັດ¬ທະ¬ນະ¬ທຳທ້ອງ¬ຖິ່ນ ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ. 7- ປຽບ¬ທຽບ ຄຳສຸ¬ພາ¬ສິດລາວ ກັບຄຳພະຫຍາຫວຽດ¬ນາມ. 8- ຮຽນຮູ້ວັດ¬ທະ¬ນາທຳ - ປະ¬ຫວັດ¬ສາດລາວ. ເນື້ອໃນຂອງປື້ມເລົ່ານີ້ຈະສະ¬ເຫນີຂໍ້ມູນພື້ນ¬ຖານກ່ຽວກັບປະ¬ເທດຊາດ ແລະ ຄົນລາວ. ກ່ຽວກັບສີ່ງທີ່ເດັ່ນຕ່າງໆຂອງປະ¬ເທດລ້ານຊ້າງ ໂດຍຜ່ານຂົງ¬ເຂດປະ¬ຫວັດ¬ສາດ, ການ ທະຫານ. ການ¬ເມືອງ, ເສດ¬ຖະ¬ກິດ, ວັດ¬ທະ¬ນະທຳ-ສັງຄົມ. ໄປພ້ອມໃນທ່າສົມທຽບກັບ.
Vùng núi Bắc Bộ nhìn dưới lăng kính địa lý nhân văn, được chia làm hai miền Đông và Tây, dòng sông Cái - sông Hồng là ranh giới tự nhiên. Theo đó, miền Đông Bắc bao gồm 6 tỉnh, gọi tắt là Cao - Bắc (nay là tỉnh Thái Nguyên) - Lạng - Thái - Tuyên - Hà (nay là tỉnh Tuyên Quang). Miền Tây Bắc hiện nay cũng gồm có 6 tỉnh là: Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai), Sơn La và Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ).
Nói đến vùng núi Bắc Bộ cũng không thể không lưu ý đến miền trung du liền kề ngay phía nam địa bàn này. Đó là vùng đệm, nối liền giữa miền núi và khu vực đồng bằng sông Hồng. Trên bình diện cả vùng núi Bắc Bộ có đến 26 tộc người sống cận cư và xen cư với nhau. Vì thế, lãnh thổ tộc người khá mờ nhạt, mang tính lịch sử và mang tính tương đối như hiện nay. Mỗi miền Đông hoặc Tây đều có những đặc trưng về tự nhiên và văn hóa - xã hội riêng. Dòng sông Lô phát nguyên từ Bàn Long Giang ở Trung Hoa chảy qua Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang), có chi nhánh lớn là sông Gâm chảy qua Tuyên Quang. Tại Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng. Sông Hồng chảy qua Lào Cai và Phú Thọ rồi đổ dòng vào Hà Nội. Sông Đà từ Lai Châu, Sơn La đổ dòng vào hồ Sông Đà ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ).
Cả vùng núi và trung du Bắc Bộ từ lâu đã trở thành cái nôi ngưng tụ các luồng di dân từ miền Nam Trung Quốc xuống và từ miền tây sang. Tộc người với số đông vượt trội và là cư dân chủ thể tại miền Đông Bắc có các tộc Tày, Nùng. Họ tiếp thu sâu đậm văn hóa miền Nam Trung Quốc; đời sống tâm linh theo Nho - Phật - Đạo; đẩy mạnh nông nghiệp trồng lúa nước, phát triển thủ công nghiệp, mở chợ phiên ở từng vùng để mua bán định kỳ.
Tộc người có số đông vượt trội và là cư dân chủ thể tại miền Tây Bắc là tộc người Thái có ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Nhưng ở phía nam sông Đà là tộc người Mường. Họ đều theo tín ngưỡng cổ truyền với tâm thức vạn vật hữu linh, thờ cúng đa thần nguyên thủy.
Về thành phần tộc người ở mỗi miền Đông và Tây nói trên, trong số 26 tộc người cư trú sớm hoặc muộn tại vùng núi Bắc Bộ, có tới 9 tộc người phân cư ở cả hai miền Đông và Tây. Cùng với người Tày, có số lượng dân cư đáng kể ở cả hai miền là người Mông, Dao, Sán Chay, Nùng, Giáy. Số ít có người Phù Lá, Lô Lô và Bố Y. Trên miền Đông Bắc chỉ có 4 tộc người dân số ít đều không có bộ phận nào sinh sống ở miền Tây. Đó là các nhóm La Chí, Pà Thẻn, Cờ Lao và Pu Péo. Trái lại, trên miền Tây Bắc Bắc Bộ có đến 13 tộc người, có dân số đông như: Thái, Mường, Khơ Mú, Xinh Mun. Dân số ít hơn có các tộc: Hà Nhì, Kháng, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, v.v… đều vắng bóng trên miền Đông Bắc.
Những tộc người ở vùng núi Bắc Bộ đều được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới ở đây theo thứ tự dân số dựa vào kết quả của cuộc tổng điều tra năm 2019. Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, mong nhận được những góp ý chân thành của bạn đọc.
Cuốn sách là kết quả của quá trình tổng hợp, phân tích và đánh giá nhiều năm dựa trên nguồn dữ liệu từ Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, các báo cáo chuyên ngành du lịch của 28 tỉnh thành ven biển1, cùng hệ thống nghiên cứu trước đây về điều kiện tự nhiên, tài nguyên biển đảo, biến đổi khí hậu và các yếu tố tác động đến phát triển du lịch biển. Với bố cục chặt chẽ gồm các chương về cơ sở lý luận, thực trạng tài nguyên biển đảo, đặc điểm kinh tế - xã hội, cơ chế chính sách, thị trường khách du lịch, hệ thống sản phẩm đặc trưng, cuốn sách không chỉ khái quát tiềm năng, lợi thế mà còn chỉ ra những thách thức lớn đối với phát triển du lịch biển đảo Việt Nam.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sẽ góp phần lan tỏa nhận thức đúng đắn và thúc đẩy sự phát triển văn minh, bền vững của du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) và 70 năm truyền thống Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng (3/3/1955 - 3/3/2025), Ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân tổ chức biên soạn cuốn sách “Kỷ yếu phi công tiêm kích Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1974-2024” nhằm vinh danh 586 phi công tiêm kích đã và đang ngày đêm canh giữ bầu trời Tổ quốc, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, trường tồn trong thái bình.
Ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân trân trọng cảm ơn Thủ trưởng Bộ Tư lệnh và các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng Phòng không - Không quân; các cựu chiến binh; các thân nhân phi công tiêm kích đã hy sinh, từ trần; các tổ chức, cá nhân tài trợ; Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi về mọi mặt trong quá trình biên soạn, xuất bản cuốn sách!
Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, biên soạn, nhưng khó tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự góp ý của các đồng chí để cuốn sách được hoàn thiện hơn! Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với các đồng chí và bạn đọc!
BAN LIÊN LẠC
CỰU CHIẾN BINH KHÔNG QUÂN
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc như một trang vàng chói lọi. Với ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần dũng cảm, kiên cường, bộ đội ta đã giữ vững Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm, góp phần tạo nên thắng lợi trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, đồng thời giữ vững vùng giải phóng, nơi bố trí trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Là người lính thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, rồi sau này là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48 (Thạch Hãn), đã từng trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị những năm tháng đó, tôi vô cùng xúc động mỗi khi nghĩ đến đồng đội của mình - những người vào sinh, ra tử trên chiến trường, họ luôn phải đối diện với bom đạn, chết chóc, nhưng vẫn hiên ngang, bình thản và tự tin vào chiến thắng. Trong những đồng đội ấy - những người lính kiên cường chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong lòng tôi.
Trong Chiến dịch Quảng Trị 1972 nói chung, cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị nói riêng, quân và dân Quân khu Thủ đô (trước đây) đã có những đóng góp vô giá. Những năm tháng đó, lớp lớp thanh niên Hà Nội - Hà Tây không ngại hy sinh, gian khổ sẵn sàng xung phong ra tiền tuyến với tinh thần “Ba sẵn sàng” và chí khí “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” chỉ mong Bắc – Nam sớm được sum họp một nhà. Thật khó có thể liệt kê, đong đếm hết được những tình cảm và đóng góp của quân và dân Thủ đô Hà Nội vì miền Nam ruột thịt trong những ngày tháng khó khăn ấy. Trong số hơn bốn nghìn chiến sỹ đã ngã xuống ở Mặt trận Thành cổ Quảng Trị năm 1972, riêng cán bộ, chiến sỹ người Hà Nội (bao gồm cả Hà Nội và Hà Tây trước đây) đã hy sinh 518 người, đứng đầu danh sách liệt sỹ của 30 tỉnh - thành phố trong cả nước có con, em chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Ngày 23/6/2015, Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội đã ra
Quyết định số 2872/QĐ-UBND về việc thành lập Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội. Với mục đích nghĩa tình đồng đội, tri ân liệt sỹ, phát huy truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”... ngay sau khi thành lập, Hội đã nhận được sự cổ vũ, giúp đỡ của các cấp ủy, chính quyền và đáp ứng nguyện vọng của hàng nghìn cựu chiến binh (CCB) đang sinh sống trên địa bàn Hà Nội. Cho đến nay, Hội đã tổ chức được 15 chi hội ở các quận, huyện, thị xã với số lượng trên 1.400 hội viên. Trong năm 2024, hướng tới kỷ niệm 10 năm thành lập Hội, đồng thời thiết thực kỷ niệm các Ngày lễ lớn của Quân đội và Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội đã chủ trương xuất bản cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa nhằm tri ân các anh hùng liệt sỹ, nâng cao niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mỗi hội viên Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị trong việc giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và lực lượng vũ trang (LLVT) Thủ đô trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong tình hình mới.
Cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 được kết cấu làm 2 phần. Phần 1 gồm các bài viết của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, các tướng lĩnh (những người đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu) và những ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội về cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.
Phần 2 là ký ức về 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Phần này chủ yếu tập hợp những bài viết của hội viên 15 chi hội. Với dung lượng gần 500 trang và hơn 70 bài viết dưới các thể loại, cuốn sách thực sự là một tư liệu quý giá. Thông qua những câu chuyện của những người trong cuộc, để lại cho người đọc những cảm xúc chân thật về những con người một thời không tiếc tuổi xuân và tính mạng của mình cho nền độc lập tự do của dân tộc. Qua những trang viết mộc mạc đơn sơ của những người lính trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972, người đọc nhận thấy khát vọng cống hiến của một thế hệ sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sự dũng cảm, hy sinh của các chiến sỹ năm xưa vẫn là nguồn cảm hứng mãnh liệt, thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống có lý tưởng, hoài bão, mang hết sức lực, tài năng cống hiến cho hòa bình, phát triển của Thủ đô Hà Nội và đất nước.
Tây Nguyên là vùng đất của các cao nguyên miền tây Trung Bộ, nằm ở sau dãy núi Trường Sơn Nam, còn gọi là Tây Trường Sơn. Các cao nguyên ở đây có độ cao từ 1.200m, xuống đến 500m. Từ bắc qua nam có các cao nguyên nổi tiếng như:
Ở đầu bắc có cao nguyên Kon Plông nằm giữa hai dãy núi An Khê về phía đông và Ngọc Krinh về phía tây. Tiếp sau là cao nguyên Kon Hà Nừng rồi đến cao nguyên Pleiku rộng lớn. Tại miền Trung Tây Nguyên có cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên M’đrăk về phía đông; cao nguyên Đăk Nông về phía tây. Xuống nam Tây Nguyên có các cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên), cao nguyên Đran (Đơn Dương) và cao nguyên Blao (Bảo Lộc). Ranh giới phía nam các tỉnh Đăk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) và Lâm Đồng là vùng đất Nam bộ với đồng bằng sông Cửu Long và miền đất cao ở phía đông.
Ngoài cư dân Việt (Kinh), trên toàn khu vực nói trên là địa bàn sinh sống chủ yếu của 15 tộc người, trong đó 11 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, chiếm quá nửa số lượng tộc người nhóm Môn - Khmer trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó là 3 trong số 5 tộc người nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesian thuộc ngữ hệ Nam Đảo; và chỉ có duy nhất một tộc người Hoa được giới thiệu ở tập hợp này.
Về tộc người Hoa thì tổ tiên họ lần hồi có mặt trên vùng núi Bắc Bộ từ thời Bắc thuộc. Còn tại Nam Bộ, họ mới di cư tới từ năm 1679 vào đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (tức Chúa Hiền). Với những cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer thì bán đảo Đông Dương đã là nơi sinh tụ của tổ tiên họ từ nhiều thiên niên kỷ trước Công nguyên, khi mà những tộc người có nguồn gốc Nam Đảo còn chưa có mặt trên đồng bằng ven biển miền Trung và các cao nguyên miền Tây Trung Bộ như ngày nay.
Cuốn sách này giới thiệu khái quát những nét chính về 15 cộng đồng tộc người sinh sống ở khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Đặc biệt nhấn mạnh về văn hóa truyền thống ở 11 tộc người Môn - Khmer với nhiều thang bậc phát triển từ thấp đến cao, và lưu giữ được nhiều thành tố văn hóa từ rất xa xưa, soi tỏ không ít những dấu ấn của văn hóa truyền thống hiện tồn. Trên đất nước Việt Nam, cộng đồng ngôn ngữ Môn - Khmer có 21 tộc người. Họ phân bố dân cư ở 3 khu vực với những ảnh hưởng khác nhau từ các địa bàn cư trú. Khu vực Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ có quá nửa số lượng tộc người. Văn hóa cội nguồn còn lưu giữ được dưới nhiều dạng tồn tại khác nhau, ít chịu ảnh hưởng văn hóa ngoại tộc.
Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, sơ suất, chúng tôi rất mong bạn đọc lượng thứ và xin nhận được những góp ý chân thành.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam” là cuốn sách chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm sáng tỏ vai trò, sứ mệnh và những chuẩn mực cốt lõi của nền báo chí cách mạng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác phẩm hệ thống một cách khoa học các quan điểm của Người về bản chất của báo chí cách mạng; yêu cầu về đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ nghiệp vụ của người làm báo; cũng như phương pháp, phong cách tuyên truyền gần dân, trọng dân, vì dân.
Cuốn sách cũng phân tích tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng đội ngũ nhà báo trung thực, giản dị, dũng cảm, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên hết. Thông qua việc luận giải những giá trị thời sự và định hướng vận dụng trong bối cảnh mới, tác phẩm giúp độc giả hiểu sâu hơn nền tảng tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam hiện nay, đồng thời gợi mở các giải pháp nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp và tính nhân văn của báo chí trong thời kỳ chuyển đổi số.
Cuốn sách giới thiệu những di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bằng sông Hồng nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương
Năm 2024, Đoàn công tác số 15 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong quá trình công tác, học tập và rèn luyện. Với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và sáng tạo, các thành viên trong đoàn không chỉ phát huy cao độ năng lực cá nhân mà còn góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, gắn bó. Những chuyến đi, những buổi làm việc, những kỷ niệm đáng nhớ trong suốt hành trình là minh chứng sống động cho tinh thần cống hiến, khát vọng vươn lên và tình đồng đội bền chặt. Kỷ yếu này là nơi lưu giữ lại những dấu mốc ý nghĩa, để mỗi thành viên khi nhìn lại đều cảm nhận được niềm tự hào và động lực tiếp tục phấn đấu trong chặng đường sắp tới.
Cuốn sách giới thiệu khái quát những nét chính về 12 cộng đồng tộc người sinh sống ở các tỉnh ven biển và miền Trung, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Trong đó có 6 tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khmer, 2 tộc người nói ngôn ngữ Nam Đảo, 2 tộc người nói ngôn ngữ Việt - Mường và 2 tộc người nói ngôn ngữ Hán Quảng Đông. Diện mạo này cho thấy khu vực ven biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam là một vùng hỗn cư, gồm những nhóm tộc người thuộc 4 thành phần ngôn ngữ khác nhau vì ven biển là nơi cửa mở.
Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.
Với mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối liền bạn đọc về với lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn trân trọng giới thiệu cuốn sách 100 điều nên biết về lịch sử Việt Nam của tác giả Hà Nguyễn đến tay bạn đọc. Việt Nam là đất nước có lịch sử lập quốc sớm trong khu vực, được xác định vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên. Quốc gia - dân tộc Việt Nam đã trải qua tiến trình hàng nghìn năm không ngừng đấu tranh dựng nước và giữ nước, trải bao lần thống nhất và chia cắt, với những bước thăng trầm và khuất khúc, từ các không gian văn hóa - văn minh Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo gắn với các quốc gia cổ đại Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc, Champa ở miền Trung và Phù Nam ở miền Nam, kéo dài liên tục đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay.
Nghiên cứu về các Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vùng Đông Bắc nhằm tạo cơ sở cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích này trong mối liên hệ với nhau gắn với phát triển du lịch hiện nay. Đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế trong công tác quản lý các di tích này, từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong phát triển du lịch hiện nay. Cuốn sách Quản lý Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vùng Đông Bắc trong phát triển du lịch hiện nay góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị cao đẹp, trường tồn của di tích lịch sử cách mạng hào hùng, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp tới đông đảo nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế.
Những vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn về vấn đề ảnh hưởng của thông tin tội phạm trên truyền hình đối với công chúng ở Việt Nam