Văn hóa - Xã hội
Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các tỉnh phía bắc
PSG. TS Hoàng Lương
Cuốn sách “Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam - các tỉnh phía Bắc” giúp người đọc nắm bắt một cách có hệ thống, toàn diện những nghi thức, nghi lễ và nội dung của các lễ hội, các hình thái tín ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam. Qua đó, có thể thấy rõ vai trò quan trọng của lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng để trân trọng, kế thừa phát huy những cái hay, nét đẹp của chúng góp phần xây dựng nền văn hóa các dân tộc Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nội dung cuốn sách gồm 3 phần: Phần I: Lý thuyết chung về lễ hội truyền thống các dân tộc ở Việt Nam. Phần II: Một số lễ hội tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam. Phần III: Những giá trị của lễ hội tiêu biểu các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam. Phần IV: Một số hình ảnh minh họa của lễ hội truyền thống.
2458 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 4 - Người con hiếu thảo
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách khuyên nhủ chúng ta cần yêu thương, quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ từ những việc thiết thực hằng ngày và nỗ lực vượt lên hoàn cảnh khó khăn – để xứng đáng là những người con hiếu thảo

2678 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản Rút gọn)
TS. Trần Văn Miều

“Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” giới thiệu những nội dung cốt lõi về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên biển, hải đảo trong bối cảnh phát triển hiện nay. Ấn phẩm cung cấp các thông tin khái quát về thực trạng, thách thức và định hướng quản lý, khai thác hợp lý gắn với bảo tồn hệ sinh thái. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ tiếp cận, tài liệu góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hành động vì mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam.

110 lượt xem
Nghiên cứu dư luận xã hội
Khoa Xã hội học và phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, TS. Dương Thị Thu Hương
Dư luận xã hội là hiện tượng xã hội phức tạp, đa chiều cạnh, có thể tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau: tâm lý học; chính trị học, truyền thông, xã hội học... Cuốn sách “Nghiên cứu Dư luận xã hội” tập trung giới thiệu các kiến thức cơ bản về Dư luận xã hội, đặc biệt dành nhiều trang trình bày về các phương pháp, kỹ thuật và quy trình nghiên cứu Dư luận xã hội từ tiếp cận Xã hội học. Với kiến thức được trang bị, người học không chỉ có được nền tảng hiểu biết đầy đủ về Dư luận xã hội, các biện pháp quản lý Dư luận xã hội phù hợp, họ còn được trang bị kiến thức, kỹ năng tiến hành các nghiên cứu Dư luận xã hội bài bản, khoa học, hiệu quả. Cuốn sách là tài liệu giảng dạy chính thức cho bậc cử nhân ngành Xã hội học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng thời là sách tham khảo cho sinh viên và học viên cao học, NCS các ngành khác: báo chí, truyền thông, tuyên truyền, truyền thông chính sách, công tác xã hội tại Học viện cũng như tại nhiều cơ sở đào tạo sinh viên ngành Xã hội học và các ngành báo chí, truyền thông khác trên toàn quốc. Cuốn sách cũng giúp cho cán bộ nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực có thể tự tìm hiểu và vận dụng tiến hành nghiên cứu Dư luận xã hội theo đúng trình tự, đáp ứng yêu cầu chuẩn mực nghiên cứu, từ đó đem lại kết quả khách quan, đáng tin cậy, là cơ sở để xây dựng các chiến lược quản lý phát triển hiệu quả xã hội.
4320 lượt xem
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng công viên địa chất Lạng Sơn
PGS. TS. Vương Toàn, Nguyễn Phúc Hà

Lạng Sơn, vùng phên giậu phía đông bắc của Tổ quốc, sở hữu cảnh quan hùng vĩ và nền văn hóa đa dạng, là nơi hình thành Công viên địa chất Lạng Sơn nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản đặc sắc của tỉnh. Từ hội thảo khoa học về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể năm 2022, nhóm tác giả đã tập hợp các nghiên cứu để biên soạn cuốn “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng Công viên địa chất Lạng Sơn”. Cuốn sách góp phần khẳng định giá trị của vùng di sản này trong chiến lược phát triển bền vững theo các định hướng của Chính phủ và tinh thần Tuyên ngôn UNESCO về đa dạng văn hóa.

1307 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 9
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

329 lượt xem
Giữ cũ, thêm mới làm tài sản cho con cháu
PGS.TS. Nguyễn Trường Giang

Tà Ôi là một trong số 54 dân tộc sinh sống ở Việt Nam. Với mong muốn độc giả có cái nhìn sâu hơn về nơi cư trú, hệ thống quản lý xã hội, quan hệ thân tộc, phương thức mưu sinh, chu kỳ vòng đời và tín ngưỡng dân gian, Nhà xuất bản Thông tấn xin trân trọng giới thiệu với độc giả cuốn sách điện tử “Giữ cũ, thêm mới làm tài sản cho con cháu” của PGS. TS. Nguyễn Trường Giang. Cuốn sách là công trình khảo cứu kỹ lưỡng của tác giả về cuộc sống của người Tà Ôi, được thực hiện một cách có hệ thống và toàn diện, qua đó khắc họa rõ nét bức tranh sinh động về văn hóa của người Tà Ôi, từ văn hóa mưu sinh, đến văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần bao gồm tâm linh tín ngưỡng. Cuốn sách được thực hiện năm 2014 nên số liệu trong sách được tính từ năm 2014 trở về trước. Thời điểm này, tên các địa phương nghiên cứu của tác giả vẫn giữ theo cách gọi cũ, vì vậy, để bạn đọc tiện theo dõi theo danh sách địa phương mới được cập nhật từ ngày 1/7/2025 đến nay, Nhà xuất bản Thông tấn xin gửi kèm bảng Phụ lục về các địa danh này. Cuốn sách của PGS. TS. Nguyễn Trường Giang là tài liệu chuyên khảo bổ ích, có giá trị cho những người làm công tác quản lý dân tộc và những người nghiên cứu giảng dạy cũng như học tập ngành Dân tộc học - Nhân học. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách tới quý bạn đọc.

1993 lượt xem
Hanoi Fine Arts
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
In the traditional art of Vietnam, Hanoi folk art plays an especially important role. The artifact sculptures in pagodas, communal houses, temples of Hanoi or the unique folk paintings of Hang Trong, Kim Hoang illustrate great footprints of Thang Long - Hanoi folk art in particular and Vietnam folk art in general. At the same time, Hanoi fine art reflects the soul and characters of old Hanoians and preserve great cultural, historical values in many aspects of life. In contemporary and modern period, with new Hanoians, from self-taught artists and those graduated from Indochina College of Fine Arts, from folk artist to well-trained ones, Hanoi modern art has not stopped to acquire from the scientific methods of Western art (considered as a scientific basis to build artistic images) as well as to inherit from the quintessence of traditional plastic arts in artistic creation in many materials such as oil paint, lacquer, silk, carvings, which constantly create art works in the general flow of art. Hanoi fine art has reflected the beauty of living images, traditions, customs, characteristics of Hanoians with complete artistic quality, bearing its own authentic features in the culture of image creation. Many masterly talents with their own unique art styles of Hanoi Fine Arts have contributed to the creation of a general appearance of Vietnamese fine arts. Concurrently, Hanoi fine art is the converging and shining place for the crop of the cream of traditional art as well as for many masters of paintings - sculptures of Vietnamese modern art with their own cachet.
1148 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 6
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

224 lượt xem
Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam tập 2: Các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

Cuốn sách giới thiệu những di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bằng sông Hồng nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt NamNhững di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương

820 lượt xem
Cẩm nang thủ tục hành chính trên môi trường số
TS. Phạm Ngọc Huyền

Cẩm nang thủ tục hành chính trên môi trường số là cuốn sách cung cấp hướng dẫn tổng quan và thực tiễn về việc thực hiện các thủ tục hành chính trong bối cảnh chuyển đổi số. Nội dung sách làm rõ quy trình, phương thức và các nền tảng số đang được áp dụng trong giải quyết thủ tục hành chính, hướng tới nguyên tắc công khai, minh bạch và thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp. Cuốn cẩm nang giúp người đọc hiểu rõ quyền, nghĩa vụ cũng như cách thức tra cứu, nộp hồ sơ, theo dõi và nhận kết quả trực tuyến. Đồng thời, sách phân tích những thay đổi trong tư duy quản lý nhà nước khi chuyển từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao kỹ năng số, hỗ trợ người dân và cán bộ thực thi hiệu quả các thủ tục hành chính trong giai đoạn hiện nay.

187 lượt xem
Sa Pa - Sương và đá (Sa Pa - Fog and Rocks)
Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Lào Cai

Sa Pa nằm ở phía tây của tỉnh Lào Cai, phía bắc giáp huyện Bát Xát, phía nam giáp huyện Văn Bàn, phía đông giáp thành phố Lào Cai và huyện Bảo Thắng, phía tây giáp huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Lai Châu. Người địa phương gọi vùng đất này là Sa Pả (có nghĩa là bãi cát).

Mùa đông năm 1903, đoàn khảo sát trắc địa của quân đội Pháp phát hiện ra vẻ đẹp của cao nguyên Lồ Súi Tổng. Đến năm 1905, bản vẽ về cao nguyên Lồ Súi Tổng và đỉnh cao Phan Xi Păng đã được xác định. Kể từ đây, Cha Pa (tên gọi dưới thời Pháp) đã được biết đến với các tên gọi “trạm nghỉ dưỡng trên cao”, “kinh đô mùa hè ở Đông Dương”, “khu nghỉ mát điều dưỡng”. Sau 120 năm, vẻ đẹp của “nơi gặp gỡ đất trời” vẫn luôn hấp dẫn du khách muôn phương, vẫn là vùng đất gợi nhớ, gợi thương trong lòng người đến với Sa Pa.

Sa Pa bốn mùa, mùa nào cũng đẹp. Một ngày ở Sa Pa hội tụ đủ bốn mùa. Vào buổi sáng, Sa Pa ẩn mình trong khói sương. Khi nắng lên, Sa Pa ấm áp đón gió xuân. Khi mặt trời đứng bóng, trời quang mây tạnh, khắp đó đây tràn ngập hương sắc mùa hè. Khi hoàng hôn buông xuống, Sa Pa gói mình trong se lạnh. Ban đêm, cả Sa Pa chìm trong giấc ngủ đông. Từ tháng Năm đến tháng Tám, Sa Pa có mưa nhiều, lượng mưa trung bình khoảng 1.800 - 2.200mm. Mùa hè ở Sa Pa nhiệt độ khoảng 20 - 250C vào ban ngày, 13 - 150C vào ban đêm. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ trung bình 3 - 70C, có những lúc xuống tới 00C. Sa Pa cũng là một trong những nơi hiếm có của Việt Nam có tuyết rơi.  Khi hoa đào nở khắp các bản làng là lúc mùa xuân đang về.

Nhắc đến Sa Pa, nhiều người sẽ liên tưởng đến hình ảnh của đỉnh Phan Xi Păng - "nóc nhà Đông Dương", của nhà thờ đá, phố núi ẩn hiện trong sương vào mỗi buổi sáng hay chiều muộn. Sương và đá đã làm nên sự kỳ vĩ và huyền thoại của Sa Pa, làm nên những điều chỉ riêng có ở Sa Pa.

Ở Sa Pa, các tộc người: Kinh, Mông, Dao, Tày, Giáy, Xá Phó (Phù Lá)... hội tụ, sinh sống từ lâu đời. Trong đó, người Mông chiếm trên 50% dân số. Các tộc người ở đây bao đời nay đều sống hòa ái với sương, với đá. Sự kiên cường, mạnh mẽ như đá, mềm mỏng, nhẹ nhàng như sương của họ đã làm nên một bức tranh sống động về Sa Pa, tạo nên một không gian văn hóa sâu, rộng. Không gian đó tiếp tục được mở ra đầy khoáng đạt với chiều dài của lịch sử, của di sản để kết nối quá khứ với tương lai.

Ở Sa Pa, sương và đá đã trở thành biểu tượng trong tâm thức của cộng đồng các dân tộc - là triết lý sống cương - nhu, triết lý về sự hài hòa, triết lý về sự tồn tại và hồi sinh. Có thể nói, sương và đá đã tạo nên một nốt “lặng”, làm nên cái “lặng lẽ” đặc trưng của Sa Pa. Tạo nên một Sa Pa với vẻ đẹp đầy bí ẩn. Nơi đây, con người lặng lẽ trong sương, trên đá để sinh tồn và phát triển.

Từ biểu tượng của sương và đá, cuốn sách mong muốn được kể một câu chuyện bằng hình ảnh về cảnh sắc và con người Sa Pa. Câu chuyện về vẻ đẹp huyền ảo của Sa Pa ẩn hiện trong sương; về vẻ đẹp “lặng lẽ” của Sa Pa trong sương, trên đá; về những con người sống với đá, với sương; về những bản tình ca được viết nên từ sương và đá; và những khát vọng được viết nên từ vùng đất của đá và sương.

Hy vọng cuốn sách sẽ chạm được đến cảm xúc của đông đảo độc giả. Có thể chỉ là sự rung động với hạt nắng nhỏ đang nằm trong một giọt sương long lanh, là những cánh đào đỏ thắm trên hàng rào đá xinh xắn bao quanh căn nhà trình tường của người Mông. Đi vào trong câu chuyện của “Sa Pa - sương và đá”, độc giả được trở về với thiên nhiên để cảm nhận sự bao dung, hiền hòa của thiên nhiên mà thêm yêu quê hương, xứ sở, được đắm mình trong dòng chảy văn hóa để thêm yêu những con người và những cuộc đời trên đá, trong sương.

1969 lượt xem
Nền dân chủ nhân dân toàn quá trình của Trung Quốc (中国的全过程人民民主)
Lâm Kiến Hoa và nhiều tác giả 林建华 等著

Nền dân chủ nhân dân toàn quá trình của Trung Quốc (中国的全过程人民民主)

Nền dân chủ nhân dân toàn quá trình của Trung Quốc (中国的全过程人民民主)

5455 lượt xem
Việt - Lào: Hai nước chúng ta
Nguyễn Văn Khoan

Cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, núi liền núi, sông liền sông, cùng uống chung nước dòng sông Mê Kông, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng rất gần gũi và thân thiết. Là điểm giao thoa, cầu nối giữa nhiều phần của đại lục châu Á, được các nhà địa chính trị Pháp coi là gốc của châu Á, hai dân tộc Việt Nam và Lào đã có sự liên hệ trong lịch sử trường kỳ dựng và giữ nước. Như một nhu cầu tự phát và dần hướng tới tự giác, khi hữu sự, bị đe dọa xâm lược, hoặc bị xâm lược, hai dân tộc đã tìm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Thế kỷ XV, đã chứng kiến sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa nghĩa quân Lam Sơn và nhân dân các bộ tộc Lào, cả về vũ khí, đạn dược, trang bị lẫn xây dựng căn cứ chiến đấu. Sang thế kỷ XIX, vận mệnh của hai dân tộc lại gắn bó với nhau khi có kẻ thù chung là thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước của nhân dân Việt Nam đã được nhân dân các bộ tộc Lào che chở, giúp đỡ. Phong trào Cần Vương của vua quan triều đình Huế cũng đã nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ các bộ tộc Lào anh em nơi vùng biên. Các nghĩa quân của các bộ tộc Lào chống Pháp cũng nhận được sự giúp đỡ, phối hợp của các lực lượng yêu nước chống Pháp ở các tỉnh biên giới Việt Nam - Lào. Sự hợp tác tự nguyện và tự giác ban đầu đó đã đặt nền móng vững chắc cho bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc ở thế kỷ XX khi hoàn cảnh lịch sử đặt ra cho mỗi dân tộc và cả hai dân tộc những thách thức hết sức khó khăn cần phải vượt qua. Cuốn sách “Việt - Lào: Hai nước chúng ta”, do tác giả Nguyễn Văn Khoan sưu tầm và biên soạn, tập hợp một số công trình khoa học viết về một số chủ đề đã công bố trên các sách báo, tạp chí, được sắp xếp theo thời gian lịch sử đáp ứng yêu cầu của bạn đọc khao khát tìm hiểu một vấn đề lớn của lịch sử hai nước, đồng thời có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

2451 lượt xem
100 điều nên biết về phân mốc địa giới trên đất liền
Hà Nguyễn

Với cuốn sách 100 điều nên biết về phân mốc địa giới trên đất liền của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu kết nối bạn đọc với những tri thức chung, những dấu ấn phân mốc và quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất liền Việt Nam.
Trải qua nhiều năm kiên trì liên tục đàm phán và thương lượng, Việt Nam đã ký kết với ba quốc gia láng giềng là Trung Quốc, Lào và Campuchia nhiều thỏa thuận và hiệp ước liên quan đến phân mốc địa giới trên đất liền. Những kết quả đàm phán và ký kết hiệp định đã từng bước xác định phạm vi và chế độ pháp lý của đường biên giới, hệ thống mốc quốc giới của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác và quản lý, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với các quốc gia láng giềng, giảm nguy cơ tranh chấp xung đột, giữ gìn hòa bình và ổn định của đất nước và trong khu vực.

2182 lượt xem
Quảng bá, giới thiệu văn hoá, du lịch tỉnh Thanh Hoá
Sở văn hoá Thể thao và du lịch Thanh Hoá

Cuốn sách có nội dung quảng bá, giới thiệu về văn hoá, du lịch tỉnh Thanh Hoá

2441 lượt xem