Văn hóa - Xã hội
Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ Dấu ấn lịch sử - Kết nối điều hành - Kiến tạo giá trị
Bộ Khoa học và Công nghệ

Cuốn sách cung cấp thông tin về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ. 

1043 lượt xem
Nghiên cứu phục dựng một số lễ hội truyền thống của dân tộc Jrai tại tỉnh Gia Lai
TS. Trung Thị Thu Thủy
Cùng với xu thế chung, các tỉnh Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Gia Lai thời gian qua đã tiến hành phục dựng một số lễ hội truyền thống của các dân tộc tại chỗ như: lễ đâm trâu mừng chiến thắng, lễ cầu mưa, lễ dựng nhà Rông mới, lễ mừng năm mới… Tuy nhiên việc phục dựng lễ hội ở tỉnh Gia Lai còn dừng lại ở quy mô nhỏ, đơn lẻ của từng lễ hội, từng huyện với nguồn kinh phí đầu tư tổ chức còn khiêm tốn; Chưa tiến hành nghiên cứu và phục dựng mang tính hệ thống các lễ hội truyền thống của tộc người tại chỗ trên địa bàn tỉnh, trong đó có tộc người Jrai; Chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu phục dựng lễ hội nhằm cung cấp, xây dựng những luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phục dựng lễ hội của người Jrai trong bối cảnh hiện nay. Xuất phát từ thực tế đó, cuốn sách “Nghiên cứu phục dựng một số lễ hội truyền thống của dân tộc Jrai tại tỉnh Gia Lai” được xuất bản lần này là việc làm hữu ích trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, với mong muốn tái hiện lại diện mạo lễ hội đồng thời qua đó giúp người dân hiểu, trân trọng văn hóa cộng đồng, đồng thời cũng tăng cường sinh lực cho chính cộng đồng trong việc nhìn nhận bảo tồn văn hóa trước những xu thế mới.
3499 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững
TS. Trần Văn Miều

Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.

894 lượt xem
Văn hóa ứng xử trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng
TS. Vũ Thị Phương, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu các mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng để từ đó nhận diện những giá trị và đặc trưng văn hóa ứng xử của gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời góp phần bổ sung cơ sở cho các nghiên cứu so sánh giữa gia đình người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Qua đó, công trình hướng tới việc tiếp thu nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hóa, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa gia đình mang đậm bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay.

Cuốn sách tập trung làm rõ các đặc điểm ứng xử trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng dưới góc nhìn Nhân học trong cả chiều lịch đại và đồng đại; phân tích những biến đổi trong ứng xử gia đình dưới tác động của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với các tộc người cộng cư; đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long với gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Hồng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, công trình cũng đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng gia đình văn hóa, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa ứng xử trong gia đình ở Sóc Trăng trong điều kiện phát triển hiện nay.

357 lượt xem
Quản lý văn hóa, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
PGS.TS. Huỳnh Quốc Thắng, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách là tài liệu nhằm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở bậc đại học, sau đại học trong lĩnh vực quản lý văn hóa. Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận văn hóa học, khoa học quản lý và thực tiễn quản lý văn hóa ở Việt Nam, cuốn sách hệ thống hóa những vấn đề nền tảng về quản lý văn hóa, làm rõ bản chất, mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp và các kỹ năng cần thiết của người làm công tác quản lý, đồng thời phân tích những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và chuyển đổi xã hội. Với cách tiếp cận gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn, đặc biệt qua các nghiên cứu trường hợp, tác phẩm cung cấp cơ sở khoa học, kinh nghiệm quản lý và định hướng vận dụng vào các lĩnh vực hoạt động văn hóa cụ thể. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị đối với giảng viên, sinh viên, học viên sau đại học, nhà nghiên cứu cũng như đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa trong quá trình hoạch định chính sách, tổ chức và phát triển đời sống văn hóa ở Việt Nam.

637 lượt xem
Giới thiệu thông tin Các công trình, cụm công trình được Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ (đợt 1 - 6)
Bộ Khoa học và Công nghệ

Cuốn sách giới thiệu một cách hệ thống những thành tựu khoa học và công nghệ tiêu biểu của Việt Nam qua nhiều giai đoạn. Nội dung sách phản ánh trí tuệ, tâm huyết và sự cống hiến bền bỉ của các nhà khoa học đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Các công trình được vinh danh không chỉ có giá trị khoa học cao mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Thông qua việc khái quát bối cảnh, nội dung và giá trị của từng công trình, cuốn sách góp phần tôn vinh những đóng góp xuất sắc cho nền khoa học và công nghệ nước nhà. Đây cũng là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạch định chính sách khoa học. Cuốn sách đồng thời khơi dậy niềm tự hào và cảm hứng sáng tạo cho các thế hệ cán bộ khoa học và công nghệ Việt Nam.

672 lượt xem
Văn hóa Nam Bộ trên đường phát triển
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thơ, PGS.TS. Lâm Nhân, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách tập hợp 18 bài nghiên cứu nguồn lực sinh thái - văn hóa một các tỉnh, thành Đông Nam Bộ và một số tỉnh, thành Tây Nam Bộ (Cần Thơ, Long An, An Giang, Trà Vinh) được bố trí theo trình tự từ chung cả vùng đến riêng từng địa phương, từ Đông Nam Bộ đến Tây Nam Bộ, và từ địa phương đóng vai trò trung tâm vùng đến một số tỉnh xung quanh. Cuốn sách tập trung vào hai nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất là, nhận diện tổng thể nguồn lực sinh thái - văn hóa của một số địa phương và thiết chế văn hóa tiêu biểu ở Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa học; thứ hai là, xây dựng triết lý và thương hiệu văn hóa cho các địa phương nhằm góp phần định hình hướng phát triển bền vững trong tương lai.

556 lượt xem
Ông bà bóng trong thực hành múa bóng rỗi của người Việt Nam Bộ
TS. Trần Thanh Tuấn, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên khảo tập trung tiếp cận các bà bóng như những chủ thể văn hóa trong thực hành múa bóng rỗi, nhằm làm rõ vai trò xã hội, chiến lược thích ứng nghề nghiệp và sự biến đổi của loại hình diễn xướng này trong bối cảnh Nam Bộ đương đại. Thông qua cách tiếp cận nhân học văn hóa kết hợp điền dã dân tộc học, nghiên cứu hướng tới bổ sung tư liệu thực địa và góp phần mở rộng hướng nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian, giới và di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam.

Trong bối cảnh tín ngưỡng thờ Mẫu/Bà và thực hành múa bóng rỗi đang phục hưng mạnh mẽ ở Nam Bộ, việc tiếp cận hiện tượng này từ góc nhìn nhân học văn hóa không chỉ góp phần tái hiện một thực hành văn hóa truyền thống, mà còn tạo cơ sở để nhận diện rõ hơn những biến đổi xã hội đương đại trong mối quan hệ giữa tín ngưỡng, giới và kinh tế văn hóa. Từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, cuốn sách chuyên khảo được thực hiện với mục tiêu làm sáng tỏ vai trò, vị trí và chiến lược nghề nghiệp của các bà bóng trong thực hành múa bóng rỗi, qua đó lý giải cơ chế vận hành và biến đổi của loại hình diễn xướng dân gian này trong đời sống xã hội hiện nay.

383 lượt xem
Di sản Văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh Lào Cai - Intangible cultural heritages of the ethnic minorities in Lào Cai province
Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Lào Cai, Hà Văn Thắng (Chủ biên)

Được coi là vùng đất cổ, là cửa ngõ thông thương với vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào Cai độc đáo với cảnh quan tươi đẹp, núi non hùng vĩ, là nơi cư trú của nhiều dân tộc với 25 nhóm, ngành khác nhau, như: Mông, Dao, Tày, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Kinh… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, bằng tài năng sáng tạo của con người cùng với sự đa dạng về các thành phần dân tộc, Lào Cai đã có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú về loại hình, độc đáo về bản sắc tộc người, với một hệ thống: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; phong tục tập quán; tri thức dân gian… 

Từ khi được tái lập năm 1991, với bộn bề những khó khăn trong công cuộc tái thiết nền kinh tế, xã hội còn  lạc hậu của một tỉnh miền núi nhưng các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã sớm chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các dân tộc. 

Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 13 của Tỉnh ủy về phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; 

Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 8 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển văn hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành chương trình kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 25 nhóm, ngành dân tộc cư trú ở 500 thôn bản trên toàn tỉnh; lựa chọn và lập hồ sơ khoa học được 26 di sản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trong đó 02 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là: Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, GiáyNghi lễ Then của người Tày trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái”. 

Bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở hình thành và tạo nên giá trị cốt lõi để phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn độc đáo, góp phần đưa Lào Cai trở thành một địa phương được đông đảo bạn bè trong nước và ngoài nước biết đến, thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai. 

Trong những năm qua, Lào Cai luôn dẫn đầu các tỉnh phía Tây Bắc về số lượng khách du lịch. Năm 2019, lượng khách đến Lào Cai đạt gần 5 triệu lượt, doanh thu từ du lịch đạt 19.800 tỷ đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. 

Có thể nói, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc của tỉnh Lào Cai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ðể có được những kết quả này, ngoài sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp thực hiện chặt chẽ của các sở, ngành, còn có sự chung tay của cộng đồng các dân tộc, của các nghệ nhân dân gian, những người am hiểu sâu sắc về vốn văn hóa truyền thống của dân tộc. Di sản văn hóa sẽ mãi tồn tại và phát triển, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ hội nhập.

4134 lượt xem
Di sản văn hóa cồng chiêng ở Quảng Ngãi
Cao Chư

Cuốn sách trình bày về tổng thể các giá trị di sản văn hóa cồng chiêng ở tỉnh Quảng Ngãi trong tổng thể văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

2185 lượt xem
Dạy con thời @
Đào Thúy Hoàn
Cuốn sách này chỉ dành cho những người tâm huyết việc nuôi dạy trẻ, các bậc cha mẹ và người có trách nhiệm nuôi dạy trẻ em thực sự muốn lớp mầm non sau này lớn lên sẽ trở thành những người tốt, có bản lĩnh, tư duy tốt, có trí tuệ, độc lập, nhân đức, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và tập thể, không chỉ tự lo được cho bản thân mà phải có hiếu với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, có tình yêu thương nhân loại, có ý thức đóng góp cho đất nước, cộng đồng, xã hội và hòa bình thế giới. Cuốn sách này chỉ dành cho những người muốn con trẻ độc lập và mạnh mẽ như những cánh chim đại bàng không khuất phục trước dông bão cuộc đời. Cuốn sách này không dành cho những cha mẹ giao phó phần lớn việc chăm sóc con cho ông bà hay người giúp việc, không dành cho những cha mẹ thương con bằng cách làm hết mọi việc để con tập trung vào học mấy môn văn hóa, cũng không dành cho những cha mẹ muốn sắp xếp cuộc đời con bằng tiền bạc để sau này dùng tiền xin cho con vào chỗ ngon cho ổn định và càng không dành cho những cha mẹ chỉ mải việc của mình để con tự phát triển như cây cỏ tự nhiên. Khi bạn cầm trên tay cuốn sách này, bạn đã gia nhập vào cộng đồng những người thực sự quan tâm đến con cái, đến hạnh phúc gia đình mình, tương lai của gia đình, đất nước và xã hội. Xin chúc mừng bạn!
5470 lượt xem
Cộng đồng tộc người ở Nam Bộ và Tây Nguyên
Chu Thái Sơn

Tây Nguyên là vùng đất của các cao nguyên miền tây Trung Bộ, nằm ở sau dãy núi Trường Sơn Nam, còn gọi là Tây Trường Sơn. Các cao nguyên ở đây có độ cao từ 1.200m, xuống đến 500m. Từ bắc qua nam có các cao nguyên nổi tiếng như:

Ở đầu bắc có cao nguyên Kon Plông nằm giữa hai dãy núi An Khê về phía đông và Ngọc Krinh về phía tây. Tiếp sau là cao nguyên Kon Hà Nừng rồi đến cao nguyên Pleiku rộng lớn. Tại miền Trung Tây Nguyên có cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên M’đrăk về phía đông; cao nguyên Đăk Nông về phía tây. Xuống nam Tây Nguyên có các cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên), cao nguyên Đran (Đơn Dương) và cao nguyên Blao (Bảo Lộc). Ranh giới phía nam các tỉnh Đăk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) và Lâm Đồng là vùng đất Nam bộ với đồng bằng sông Cửu Long và miền đất cao ở phía đông.

Ngoài cư dân Việt (Kinh), trên toàn khu vực nói trên là địa bàn sinh sống chủ yếu của 15 tộc người, trong đó 11 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, chiếm quá nửa số lượng tộc người nhóm Môn - Khmer trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó là 3 trong số 5 tộc người nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesian thuộc ngữ hệ Nam Đảo; và chỉ có duy nhất một tộc người Hoa được giới thiệu ở tập hợp này.

Về tộc người Hoa thì tổ tiên họ lần hồi có mặt trên vùng núi Bắc Bộ từ thời Bắc thuộc. Còn tại Nam Bộ, họ mới di cư tới từ năm 1679 vào đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (tức Chúa Hiền). Với những cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer thì bán đảo Đông Dương đã là nơi sinh tụ của tổ tiên họ từ nhiều thiên niên kỷ trước Công nguyên, khi mà những tộc người có nguồn gốc Nam Đảo còn chưa có mặt trên đồng bằng ven biển miền Trung và các cao nguyên miền Tây Trung Bộ như ngày nay.

Cuốn sách này giới thiệu khái quát những nét chính về 15 cộng đồng tộc người sinh sống ở khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Đặc biệt nhấn mạnh về văn hóa truyền thống ở 11 tộc người Môn - Khmer với nhiều thang bậc phát triển từ thấp đến cao, và lưu giữ được nhiều thành tố văn hóa từ rất xa xưa, soi tỏ không ít những dấu ấn của văn hóa truyền thống hiện tồn. Trên đất nước Việt Nam, cộng đồng ngôn ngữ Môn - Khmer có 21 tộc người. Họ phân bố dân cư ở 3 khu vực với những ảnh hưởng khác nhau từ các địa bàn cư trú. Khu vực Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ có quá nửa số lượng tộc người. Văn hóa cội nguồn còn lưu giữ được dưới nhiều dạng tồn tại khác nhau, ít chịu ảnh hưởng văn hóa ngoại tộc.

Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.

Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, sơ suất, chúng tôi rất mong bạn đọc lượng thứ và xin nhận được những góp ý chân thành.

5028 lượt xem
Cộng đồng tộc người ở các tỉnh ven biển và miền Trung
Chu Thái Sơn

Cuốn sách giới thiệu khái quát những nét chính về 12 cộng đồng tộc người sinh sống ở các tỉnh ven biển và miền Trung, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Trong đó có 6 tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khmer, 2 tộc người nói ngôn ngữ Nam Đảo, 2 tộc người nói ngôn ngữ Việt - Mường và 2 tộc người nói ngôn ngữ Hán Quảng Đông. Diện mạo này cho thấy khu vực ven biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam là một vùng hỗn cư, gồm những nhóm tộc người thuộc 4 thành phần ngôn ngữ khác nhau vì ven biển là nơi cửa mở.

Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.

1408 lượt xem
Cộng đồng tộc người khu vực Bắc Bộ
Chu Thái Sơn

Vùng núi Bắc Bộ nhìn dưới lăng kính địa lý nhân văn, được chia làm hai miền Đông và Tây, dòng sông Cái - sông Hồng là ranh giới tự nhiên. Theo đó, miền Đông Bắc bao gồm 6 tỉnh, gọi tắt là Cao - Bắc (nay là tỉnh Thái Nguyên) - Lạng - Thái - Tuyên - Hà (nay là tỉnh Tuyên Quang). Miền Tây Bắc hiện nay cũng gồm có 6 tỉnh là: Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai), Sơn La và Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ).

Nói đến vùng núi Bắc Bộ cũng không thể không lưu ý đến miền trung du liền kề ngay phía nam địa bàn này. Đó là vùng đệm, nối liền giữa miền núi và khu vực đồng bằng sông Hồng. Trên bình diện cả vùng núi Bắc Bộ có đến 26 tộc người sống cận cư và xen cư với nhau. Vì thế, lãnh thổ tộc người khá mờ nhạt, mang tính lịch sử và mang tính tương đối như hiện nay. Mỗi miền Đông hoặc Tây đều có những đặc trưng về tự nhiên và văn hóa - xã hội riêng. Dòng sông Lô phát nguyên từ Bàn Long Giang ở Trung Hoa chảy qua Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang), có chi nhánh lớn là sông Gâm chảy qua Tuyên Quang. Tại Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng. Sông Hồng chảy qua Lào Cai và Phú Thọ rồi đổ dòng vào Hà Nội. Sông Đà từ Lai Châu, Sơn La đổ dòng vào hồ Sông Đà ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ).

Cả vùng núi và trung du Bắc Bộ từ lâu đã trở thành cái nôi ngưng tụ các luồng di dân từ miền Nam Trung Quốc xuống và từ miền tây sang. Tộc người với số đông vượt trội và là cư dân chủ thể tại miền Đông Bắc có các tộc Tày, Nùng. Họ tiếp thu sâu đậm văn hóa miền Nam Trung Quốc; đời sống tâm linh theo Nho - Phật - Đạo; đẩy mạnh nông nghiệp trồng lúa nước, phát triển thủ công nghiệp, mở chợ phiên ở từng vùng để mua bán định kỳ.

Tộc người có số đông vượt trội và là cư dân chủ thể tại miền Tây Bắc là tộc người Thái có ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Nhưng ở phía nam sông Đà là tộc người Mường. Họ đều theo tín ngưỡng cổ truyền với tâm thức vạn vật hữu linh, thờ cúng đa thần nguyên thủy.

Về thành phần tộc người ở mỗi miền Đông và Tây nói trên, trong số 26 tộc người cư trú sớm hoặc muộn tại vùng núi Bắc Bộ, có tới 9 tộc người phân cư ở cả hai miền Đông và Tây. Cùng với người Tày, có số lượng dân cư đáng kể ở cả hai miền là người Mông, Dao, Sán Chay, Nùng, Giáy. Số ít có người Phù Lá, Lô Lô và Bố Y. Trên miền Đông Bắc chỉ có 4 tộc người dân số ít đều không có bộ phận nào sinh sống ở miền Tây. Đó là các nhóm La Chí, Pà Thẻn, Cờ Lao và Pu Péo. Trái lại, trên miền Tây Bắc Bắc Bộ có đến 13 tộc người, có dân số đông như: Thái, Mường, Khơ Mú, Xinh Mun. Dân số ít hơn có các tộc: Hà Nhì, Kháng, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, v.v… đều vắng bóng trên miền Đông Bắc.

Những tộc người ở vùng núi Bắc Bộ đều được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới ở đây theo thứ tự dân số dựa vào kết quả của cuộc tổng điều tra năm 2019. Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, mong nhận được những góp ý chân thành của bạn đọc.

5195 lượt xem
Con lật đật
Võ Văn Minh

Cuốn sách là những chia sẻ nhẹ nhàng và sâu sắc về giai đoạn tuổi học trò – khoảng thời gian đầy biến động trong tâm sinh lý, cảm xúc và suy nghĩ. Tác giả thấu hiểu những áp lực, bối rối, hoang mang mà người trẻ phải đối diện trong học tập, các mối quan hệ và định hướng tương lai. Với hình ảnh “con Lật đật” – biểu tượng của sự kiên cường và cân bằng – cuốn sách gửi gắm thông điệp tích cực, truyền cảm hứng sống, giúp người đọc vượt qua khó khăn, giữ vững niềm tin và cảm nhận hạnh phúc từ những điều giản dị trong cuộc sống.

1483 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định
Hà Nguyễn

Cuốn sách thuộc bộ sách Không gian văn hóa Việt Nam, được biên soạn theo hướng khoa học thường thức nhằm giới thiệu những nét đặc trưng về lịch sử và văn hóa của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định. Nội dung sách tập trung trình bày một cách hệ thống các yếu tố hình thành, quá trình phát triển và những giá trị văn hóa tiêu biểu của vùng đất Sài Gòn – Gia Định trong tổng thể văn hóa Việt Nam.

Tác giả sử dụng lối viết mang tính “văn hóa sử”, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách diễn đạt gần gũi, dễ hiểu. Các nội dung được sắp xếp theo từng thành tố văn hóa đặc trưng của vùng đất, từ điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành, con người, phong tục tập quán đến đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Sách cũng được minh họa bằng hình ảnh nhằm giúp người đọc tiếp cận kiến thức trực quan hơn.

Thông qua việc giới thiệu những đặc điểm nổi bật của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định, cuốn sách góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa của vùng đất Nam Bộ nói chung và Sài Gòn – Gia Định nói riêng, đồng thời quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam.

 
 
 
609 lượt xem