Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách giới thiệu kết quả khảo cứu 32 ngôi đình đã được các cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích theo quy định của Luật Di sản Văn hóa ở tỉnh Bến Tre trước đây, bao gồm 06 đình được xếp hạng di tích Quốc gia, 01 đình thuộc quần thể di tích quốc gia đặc biệt và 25 đình là di tích cấp tỉnh. Mỗi ngôi đình được trình bày theo một cấu trúc khoa học, hướng đến việc làm nổi bật những giá trị cốt lõi nhất. Từ lịch sử khởi dựng, quá trình tồn tại và phát triển, quy mô kiến trúc, đến những tinh hoa trong nghệ thuật chạm khắc, giá trị của các hiện vật cổ, tín ngưỡng thờ phụng và diễn trình lễ hội truyền thống. Điểm đặc biệt là với cuốn sách này, tiếng nói Ban Khánh tiết, Ban Quản lý các đình làng trên địa bàn tỉnh đã được ghi nhận thông qua quá trình trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu và cho phép các tác giả tiếp cận để nghiên cứu, ghi nhận. Ý kiến chuyên môn quý báu của các nhà nghiên cứu, chuyên gia văn hóa, các nhà sử học trong và ngoài nước đã giúp các tác giả có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về giá trị của 32 ngôi đình được tập hợp trong cuốn sách này. Không dừng lại mô tả những giá trị về vật chất, cuốn sách còn đi sâu vào phân tích những giá trị phi vật thể - phần “hồn” vốn có của 32 ngôi đình có những đóng góp to lớn trong quá trình tạo dựng và vun đắp bản sắc văn hóa cho cộng đồng làng xã Bến Tre xưa. Qua đó, chúng ta càng thêm hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển của một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, nơi quá khứ và hiện tại giao thoa, tạo nên một Bến Tre đầy sức sống và bản sắc trong không gian phát triển mới của tỉnh Vĩnh Long bước vào kỷ nguyên vươn mình.
Nội dung sách được tiếp cận theo hướng liên ngành, kết hợp giữa lịch sử, địa lý, dân tộc học và văn hóa học để phân tích các yếu tố cấu thành không gian văn hóa xứ Đông, từ điều kiện tự nhiên, môi trường cư trú, cơ cấu làng xã đến hệ thống tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán, nghề thủ công truyền thống và các giá trị văn hóa dân gian. Đặc biệt, sách nhấn mạnh vai trò của xứ Đông trong tiến trình phát triển văn hóa dân tộc cũng như những đóng góp của vùng đất này đối với nền văn minh sông Hồng.
"Sóng căng đét – Ví khét lẹt" là ấn phẩm truyền thông của Cục Tần số Vô tuyến điện, được biên soạn nhằm phổ biến kiến thức về tần số vô tuyến điện, nâng cao nhận thức về việc sử dụng phổ tần và thiết bị vô tuyến đúng quy định, đồng thời truyền tải các thông tin chuyên ngành qua lối thể hiện gần gũi, sinh động và dễ tiếp cận với đông đảo bạn đọc.
Truyện tranh Truy tìm thủ phạm giấu mặt đặt kiến thức vào bối cảnh cuộc sống, mong muốn gửi đến người đọc một thông điệp gần gũi nhưng rất thiết thực: trong cuộc sống hiện đại, nhiều thiết bị quen thuộc sử dụng sóng vô tuyến như smartkey, điều khiển từ xa, chuông báo, adapter... có thể vô tình gây ảnh hưởng lẫn nhau nếu xảy ra lỗi hoặc nhiễu tín hiệu.
Kỷ yếu hội thảo là sự kết tinh của nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, thể hiện tinh thần lao động khoa học nghiêm túc, trách nhiệm và tâm huyết của các tác giả. Nội dung các bài viết trong kỷ yếu tập trung vào nhiều chủ đề thiết thực và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc như: giáo dục vì sự phát triển bền vững; đổi mới phương pháp dạy học; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học liệu số và công nghệ mới trong giáo dục; giáo dục người lớn và học tập suốt đời; giáo dục kỹ năng sống; môi trường giao tiếp học đường; đồng thời đi sâu phân tích các vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong môi trường số, văn hóa ngôn ngữ, truyền thông số, quảng cáo, âm nhạc trẻ, du lịch văn hóa, không gian thiêng, cũng như hợp tác văn hóa – giáo dục trong khu vực và trên thế giới.
Tuyển tập Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) bao gồm 17 nghiên cứu được PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ thực hiện và công bố trong gần 50 năm. Các công trình này thuộc nhiều chủ đề, nội dung, lĩnh vực khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự thời gian công bố lần đầu. Qua tuyển tập này, bạn đọc có thể thấy rõ quá trình tìm hiểu, suy tư, cũng như những biến chuyển trong nhận thức và tư duy của tác giả về các vấn đề văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời thấy được những nỗ lực không ngừng và vượt bậc góp phần cung cấp một cách tiếp cận về phức hợp văn hóa Việt của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ.
Trong lần xuất bản năm 2026, hưởng ứng tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông tổ chức xuất bản tuyển tập dưới dạng sách điện tử và tách thành hai tập để thuận tiện cho việc tra cứu, tiếp cận và khai thác nội dung, qua đó tạo điều kiện để tác phẩm đến với đông đảo độc giả trong và ngoài nước.
Nhà xuất bản tôn trọng và giữ nguyên giá trị của các ấn bản gốc trong quá trình số hóa và xuất bản. Nội dung các bài viết được bảo đảm tính nguyên bản, phản ánh trung thực tư liệu và bối cảnh nghiên cứu của từng thời kỳ. Để hỗ trợ bạn đọc thuận tiện hơn trong quá trình tiếp cận và tra cứu, Nhà xuất bản có bổ sung chú thích, chỉnh lý kỹ thuật và hiệu chỉnh một số chi tiết nhỏ về hình thức trình bày cho phù hợp với quy chuẩn hiện nay; đồng thời giữ nguyên tên gọi các địa danh, đơn vị hành chính theo thời điểm khảo sát và công bố của tác giả nhằm bảo đảm tính lịch sử và giá trị tư liệu của công trình.
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình biên tập và xuất bản, ấn phẩm khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn đọc để các lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn. Hơn hết cả, chúng tôi trân trọng giới thiệu tới những người yêu quý, quan tâm đến lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam một công trình nghiên cứu tâm huyết và giàu giá trị tham khảo về văn hóa và hội nhập.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ -TRUYỀN THÔNG
Cuốn sách được xuất bản lần này là phiên bản rút gọn, kế thừa nội dung cốt lõi của cuốn sách cùng tên đã được xuất bản ở phiên bản đầy đủ. Đây được xem như một cuốn cẩm nang cần thiết, giúp người đọc có cái nhìn khái quát và nắm bắt những nội dung cơ bản về các vùng du lịch trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Nội dung cuốn sách gồm hai phần chính: Phần 1 (Chương 1-2): Trình bày cơ sở lý luận chung về tài nguyên du lịch - khái niệm, phân loại, đặc điểm, vai trò, cùng lý luận về tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam theo phân vùng mới, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2020–2025, định hướng đến năm 2030. Phần 2 (Chương 3–8): Cung cấp hệ thống kiến thức thực tiễn, cập nhật về tài nguyên du lịch Việt Nam theo các vùng lãnh thổ du lịch, được điều chỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Mỗi vùng được trình bày theo các nhóm tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, kèm định hướng tổ chức, khai thác và liên kết lãnh thổ nhằm phát huy hiệu quả, đảm bảo phát triển du lịch bền vững.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Nội dung sách phân tích một cách hệ thống các yếu tố cấu thành không gian văn hóa Duyên hải Nam Trung Bộ như môi trường sinh thái biển, quá trình khai phá và định cư, cơ cấu cộng đồng dân cư, hệ thống tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công và văn hóa biển đảo.
Cuốn sách giới thiệu một cách hệ thống những thành tựu khoa học và công nghệ tiêu biểu của Việt Nam qua nhiều giai đoạn. Nội dung sách phản ánh trí tuệ, tâm huyết và sự cống hiến bền bỉ của các nhà khoa học đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Các công trình được vinh danh không chỉ có giá trị khoa học cao mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Thông qua việc khái quát bối cảnh, nội dung và giá trị của từng công trình, cuốn sách góp phần tôn vinh những đóng góp xuất sắc cho nền khoa học và công nghệ nước nhà. Đây cũng là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạch định chính sách khoa học. Cuốn sách đồng thời khơi dậy niềm tự hào và cảm hứng sáng tạo cho các thế hệ cán bộ khoa học và công nghệ Việt Nam.
Nội dung cuốn sách "Xây dựng hợptác xã phát triển theo chuỗi giá trị dược liệu (Khu vực miền núi phía Bắc) (bản rút gọn)" góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dược liệu ở Việt Nam; phản ánh thực trạng hoạt động của các hợp tác xã dược liệu; phân tích vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững lĩnh vực này.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sách sẽ góp phần lan tỏa nhận thức về vai trò của hợp tác xã trong phát triển kinh tế dược liệu, góp phần thực hiện thành công các chương trình mục tiêu quốc gia, chiến lược phát triển dược liệu Việt Nam và nâng cao đời sống của người dân miền núi phía Bắc.
Trân trọng giới thiệu.
Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”,và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.
Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.
Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập.
Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh.
Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được.
Năm 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.
Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.
Được coi là vùng đất cổ, là cửa ngõ thông thương với vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào Cai độc đáo với cảnh quan tươi đẹp, núi non hùng vĩ, là nơi cư trú của nhiều dân tộc với 25 nhóm, ngành khác nhau, như: Mông, Dao, Tày, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Kinh… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, bằng tài năng sáng tạo của con người cùng với sự đa dạng về các thành phần dân tộc, Lào Cai đã có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú về loại hình, độc đáo về bản sắc tộc người, với một hệ thống: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; phong tục tập quán; tri thức dân gian…
Từ khi được tái lập năm 1991, với bộn bề những khó khăn trong công cuộc tái thiết nền kinh tế, xã hội còn lạc hậu của một tỉnh miền núi nhưng các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã sớm chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các dân tộc.
Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 13 của Tỉnh ủy về phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015;
Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 8 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển văn hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành chương trình kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 25 nhóm, ngành dân tộc cư trú ở 500 thôn bản trên toàn tỉnh; lựa chọn và lập hồ sơ khoa học được 26 di sản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trong đó 02 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là: Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, Giáy và Nghi lễ Then của người Tày trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái”.
Bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở hình thành và tạo nên giá trị cốt lõi để phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn độc đáo, góp phần đưa Lào Cai trở thành một địa phương được đông đảo bạn bè trong nước và ngoài nước biết đến, thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai.
Trong những năm qua, Lào Cai luôn dẫn đầu các tỉnh phía Tây Bắc về số lượng khách du lịch. Năm 2019, lượng khách đến Lào Cai đạt gần 5 triệu lượt, doanh thu từ du lịch đạt 19.800 tỷ đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Có thể nói, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc của tỉnh Lào Cai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ðể có được những kết quả này, ngoài sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp thực hiện chặt chẽ của các sở, ngành, còn có sự chung tay của cộng đồng các dân tộc, của các nghệ nhân dân gian, những người am hiểu sâu sắc về vốn văn hóa truyền thống của dân tộc. Di sản văn hóa sẽ mãi tồn tại và phát triển, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ hội nhập.
Tuyển tập Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) bao gồm 17 nghiên cứu được PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ thực hiện và công bố trong gần 50 năm. Các công trình này thuộc nhiều chủ đề, nội dung, lĩnh vực khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự thời gian công bố lần đầu. Qua tuyển tập này, bạn đọc có thể thấy rõ quá trình tìm hiểu, suy tư, cũng như những biến chuyển trong nhận thức và tư duy của tác giả về các vấn đề văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời thấy được những nỗ lực không ngừng và vượt bậc góp phần cung cấp một cách tiếp cận về phức hợp văn hóa Việt của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ.
Trong lần xuất bản năm 2026, hưởng ứng tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông tổ chức xuất bản tuyển tập dưới dạng sách điện tử và tách thành hai tập để thuận tiện cho việc tra cứu, tiếp cận và khai thác nội dung, qua đó tạo điều kiện để tác phẩm đến với đông đảo độc giả trong và ngoài nước.
Nhà xuất bản tôn trọng và giữ nguyên giá trị của các ấn bản gốc trong quá trình số hóa và xuất bản. Nội dung các bài viết được bảo đảm tính nguyên bản, phản ánh trung thực tư liệu và bối cảnh nghiên cứu của từng thời kỳ. Để hỗ trợ bạn đọc thuận tiện hơn trong quá trình tiếp cận và tra cứu, Nhà xuất bản có bổ sung chú thích, chỉnh lý kỹ thuật và hiệu chỉnh một số chi tiết nhỏ về hình thức trình bày cho phù hợp với quy chuẩn hiện nay; đồng thời giữ nguyên tên gọi các địa danh, đơn vị hành chính theo thời điểm khảo sát và công bố của tác giả nhằm bảo đảm tính lịch sử và giá trị tư liệu của công trình.
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình biên tập và xuất bản, ấn phẩm khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn đọc để các lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn. Hơn hết cả, chúng tôi trân trọng giới thiệu tới những người yêu quý, quan tâm đến lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam một công trình nghiên cứu tâm huyết và giàu giá trị tham khảo về văn hóa và hội nhập.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ -TRUYỀN THÔNG
Trong những thập kỷ gần đây, trên hành tinh của chúng ta, những thuật ngữ “văn hóa”, “văn minh”, “truyền thống”, “văn hóa truyền thống” đã trở thành những từ khóa phổ biến mang tính thời thượng, được nhiều người quan tâm và nhắc đến trong cuộc sống và các phương tiện truyền thông. Đó là một điều có ý nghĩa và có thể hiểu được. Có lẽ trong cuộc sống thường ngày, chúng ta bị cuốn hút vào vòng xoáy của những lo toan và ganh đua kinh tế, lợi danh, mà đã lãng quên đi hoặc không còn thời giờ để dành cho việc suy nghĩ và chăm sóc đời sống tinh thần. Cái hiện tại cũng đang đè nặng lên những hành xử, choán hết không gian suy tư của con người, không còn chỗ đứng cho những hồi tưởng quá khứ. Mặt khác, nhìn rộng ra trên phạm vi toàn cầu, chúng ta đang đối diện với một thách thức là những va chạm xung đột giữa các nền văn minh, văn hóa đang tồn tại, lúc âm ỉ, khi bột phát. Có lẽ, sở dĩ ý thức được như vậy, mà hiện nay nhân loại đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo và kêu gọi về vấn đề văn hóa. Liên Hợp quốc, tổ chức UNESCO đã phát động Thập kỷ văn hóa, tổ chức năm Đối thoại những nền văn minh, ra nhiều nghị quyết, tuyên ngôn về đa dạng, đa nguyên và khoan dung văn hóa. Văn hóa là một lực lượng tinh thần, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, là ngọn nguồn, xung lực của phát triển xã hội. Tuy nhiên, văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản kìm hãm và phá hoại lịch sử, đời sống con người với những hậu quả và tổn thất khó lường. Ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn và đấu tranh văn hóa. Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng. Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi văn hóa. Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về nền văn hóa Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết. Nền văn hóa truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ? Có lẽ đó là những câu hỏi trăn trở mà người viết cố gắng tiếp cận khi đề ra mục đích khiêm tốn cho cuốn sách “Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn”, mong đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc chung to lớn. Tuy nhiên, gói gọn trong một vài trăm trang sách cả một nền văn hóa có hàng nghìn năm tuổi và trải ra trên một không gian xã hội rộng lớn nhiều vùng miền với nhiều đặc trưng khác biệt, quả thực là một điều không dễ dàng, đúng hơn là quá khó thực hiện. Các bộ thông sử thường ghi chép rất ít những tư liệu đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sách hiến chương và hội điển cũng chỉ cho biết thêm về những điển chế quan phương của nhà nước. Do đó, việc khảo cứu không thể không tìm đến những nguồn tư liệu khác, như văn hóa dân gian, dân tộc học và nhất là nguồn tài liệu thực địa “mắt thấy tai nghe” của những người nước ngoài. Điều “may mắn” là tốc độ chuyển biến của văn hóa truyền thống Việt Nam rất chậm, những hiện tượng văn hóa xảy ra ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể cũng là những hình ảnh gần như trung thực của văn hóa, xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ trước, do đó có thể coi là tư liệu gốc, những thông tin đương đại. Những thông tin này đã được ghi chép trong một số lớn sách báo của những tác giả người Pháp có mặt hoặc đã sống ở Việt Nam lúc bấy giờ. Vì vậy, người đọc sẽ có thể hiểu được và thông cảm vì sao, hình như tác giả cuốn sách có vẻ thiên vị khi sử dụng những tư liệu cổ nhiều hơn kim, trích dẫn những tác giả nước ngoài nhiều hơn các tác giả trong nước. Thực ra, những dữ kiện về văn hóa truyền thống của các tác giả lớn như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên là những tư liệu cơ bản rất quý báu mà người viết cố gắng khai thác, tận dụng. Tuy nhiên, để tôn trọng tính đương thời nguyên dạng, những tư liệu đương đại - được hiểu là từ sau năm 1945 - của các tác giả trong nước và nước ngoài đã được sử dụng và trích dẫn ở mức độ hạn chế, trừ khi cần nêu lên những luận điểm kiến giải. Sau khi cung cấp những thông tin - đôi khi rất quen thuộc, bình thường đối với lớp người lớn tuổi, nhưng chưa chắc các bạn trẻ đã hiểu biết cặn kẽ, việc khó khăn hơn là tổng hợp, phân tích, đánh giá. Chúng tôi cố gắng thoát khỏi những định kiến giáo điều trong việc khen chê. Một hiện tượng có thể là tích cực về mặt này, ở thời điểm này, nhưng rất có thể lại trở thành tiêu cực ở khía cạnh khác, trong thời điểm khác và ngược lại. Bản thân một sự kiện văn hóa nhiều khi cũng mang tính hai mặt. Văn hóa Việt Nam truyền thống càng không phải là một khối đơn nguyên, thuần nhất, mà là một cấu trúc lai tạo, lưỡng nguyên đối trọng. Chúng tôi cho rằng việc có khen có chê không phải là một thái độ chiết trung thiếu ý kiến rõ ràng, mà là một phong cách tư duy phức hợp, khai mở, khoa học và biện chứng của những người làm công tác nghiên cứu hiện đại.
Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu các mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng để từ đó nhận diện những giá trị và đặc trưng văn hóa ứng xử của gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời góp phần bổ sung cơ sở cho các nghiên cứu so sánh giữa gia đình người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Qua đó, công trình hướng tới việc tiếp thu nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hóa, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa gia đình mang đậm bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
Cuốn sách tập trung làm rõ các đặc điểm ứng xử trong gia đình người Việt ở Sóc Trăng dưới góc nhìn Nhân học trong cả chiều lịch đại và đồng đại; phân tích những biến đổi trong ứng xử gia đình dưới tác động của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với các tộc người cộng cư; đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long với gia đình người Việt vùng đồng bằng sông Hồng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, công trình cũng đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng gia đình văn hóa, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa ứng xử trong gia đình ở Sóc Trăng trong điều kiện phát triển hiện nay.