Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam” là cuốn sách chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm sáng tỏ vai trò, sứ mệnh và những chuẩn mực cốt lõi của nền báo chí cách mạng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác phẩm hệ thống một cách khoa học các quan điểm của Người về bản chất của báo chí cách mạng; yêu cầu về đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ nghiệp vụ của người làm báo; cũng như phương pháp, phong cách tuyên truyền gần dân, trọng dân, vì dân.
Cuốn sách cũng phân tích tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng đội ngũ nhà báo trung thực, giản dị, dũng cảm, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên hết. Thông qua việc luận giải những giá trị thời sự và định hướng vận dụng trong bối cảnh mới, tác phẩm giúp độc giả hiểu sâu hơn nền tảng tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam hiện nay, đồng thời gợi mở các giải pháp nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp và tính nhân văn của báo chí trong thời kỳ chuyển đổi số.
Lễ hội truyền thống là kết tinh của bản sắc văn hóa các dân tộc xứ Lạng, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với sự đa dạng của cộng đồng Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông…, Lạng Sơn hình thành một không gian văn hóa phong phú, trong đó lễ hội giữ vai trò trung tâm, phản ánh toàn diện đời sống xã hội và tinh thần của cư dân bản địa. Trước tác động của hiện đại hóa và công nghệ số, nhu cầu gìn giữ, nghiên cứu và phát huy lễ hội truyền thống càng trở nên cấp thiết, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và cội nguồn cộng đồng. Từ khảo sát thực tiễn và tư liệu nghiên cứu, cuốn sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn” được biên soạn nhằm giới thiệu những giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội người Tày trong bức tranh văn hóa Đông Bắc Việt Nam.
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới
Tây Nguyên là vùng đất của các cao nguyên miền tây Trung Bộ, nằm ở sau dãy núi Trường Sơn Nam, còn gọi là Tây Trường Sơn. Các cao nguyên ở đây có độ cao từ 1.200m, xuống đến 500m. Từ bắc qua nam có các cao nguyên nổi tiếng như:
Ở đầu bắc có cao nguyên Kon Plông nằm giữa hai dãy núi An Khê về phía đông và Ngọc Krinh về phía tây. Tiếp sau là cao nguyên Kon Hà Nừng rồi đến cao nguyên Pleiku rộng lớn. Tại miền Trung Tây Nguyên có cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên M’đrăk về phía đông; cao nguyên Đăk Nông về phía tây. Xuống nam Tây Nguyên có các cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên), cao nguyên Đran (Đơn Dương) và cao nguyên Blao (Bảo Lộc). Ranh giới phía nam các tỉnh Đăk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) và Lâm Đồng là vùng đất Nam bộ với đồng bằng sông Cửu Long và miền đất cao ở phía đông.
Ngoài cư dân Việt (Kinh), trên toàn khu vực nói trên là địa bàn sinh sống chủ yếu của 15 tộc người, trong đó 11 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, chiếm quá nửa số lượng tộc người nhóm Môn - Khmer trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó là 3 trong số 5 tộc người nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesian thuộc ngữ hệ Nam Đảo; và chỉ có duy nhất một tộc người Hoa được giới thiệu ở tập hợp này.
Về tộc người Hoa thì tổ tiên họ lần hồi có mặt trên vùng núi Bắc Bộ từ thời Bắc thuộc. Còn tại Nam Bộ, họ mới di cư tới từ năm 1679 vào đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (tức Chúa Hiền). Với những cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer thì bán đảo Đông Dương đã là nơi sinh tụ của tổ tiên họ từ nhiều thiên niên kỷ trước Công nguyên, khi mà những tộc người có nguồn gốc Nam Đảo còn chưa có mặt trên đồng bằng ven biển miền Trung và các cao nguyên miền Tây Trung Bộ như ngày nay.
Cuốn sách này giới thiệu khái quát những nét chính về 15 cộng đồng tộc người sinh sống ở khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Đặc biệt nhấn mạnh về văn hóa truyền thống ở 11 tộc người Môn - Khmer với nhiều thang bậc phát triển từ thấp đến cao, và lưu giữ được nhiều thành tố văn hóa từ rất xa xưa, soi tỏ không ít những dấu ấn của văn hóa truyền thống hiện tồn. Trên đất nước Việt Nam, cộng đồng ngôn ngữ Môn - Khmer có 21 tộc người. Họ phân bố dân cư ở 3 khu vực với những ảnh hưởng khác nhau từ các địa bàn cư trú. Khu vực Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ có quá nửa số lượng tộc người. Văn hóa cội nguồn còn lưu giữ được dưới nhiều dạng tồn tại khác nhau, ít chịu ảnh hưởng văn hóa ngoại tộc.
Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, sơ suất, chúng tôi rất mong bạn đọc lượng thứ và xin nhận được những góp ý chân thành.
Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045
Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045
Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”,và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.
Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.
Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập.
Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh.
Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được.
Năm 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.
Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.
Ngày 21/02/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 219/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo, trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan chủ trì, điều phối thực hiện Đề án. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với PGS.TS Nguyễn Phú Lợi biên soạn, xuất bản cuốn sách “Sự chuyển biến của tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0”.
Nội dung cuốn sách gồm 2 phần:
Phần I: Sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0
Phần II: Sự chuyển biến của tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0
Nội dung cuốn sách được biên soạn khá công phu, khái quát nên một bức tranh tương đối toàn diện về sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0, góp phần vào việc hoạch định chính sách, phát huy các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước.
Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam
Nội dung chính của cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên; Chương 2: Thực trạng năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh của giáo viên trung học cơ sở; Chương 3: Chương trình phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên trung học cơ sở; Chương 4: Kết quả thực nghiệm chương trình phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên trung học cơ sở. Những thông tin sẽ hữu ích cho giáo viên trong việc phát hiện sớm các rối nhiễu tâm lý ở học sinh, góp phần giúp cho quá trình hỗ trợ học sinh được hiệu quả.
Với cuốn sách nhỏ 100 điều nên biết về phân mốc trên Biển Đông của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối bạn đọc với những tri thức chung, những dấu ấn phân mốc và quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam. Tác giả đã nỗ lực kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học về biển đảo có liên quan, đối chiếu thẩm định và chuẩn hóa các thông tin để cung cấp cho bạn đọc những tri thức đáng tin cậy, có giá trị về chủ đề phân mốc trên Biển Đông.
Cuốn sách giới thiệu những di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bằng sông Hồng nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương