Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Lễ hội truyền thống là kết tinh của bản sắc văn hóa các dân tộc xứ Lạng, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với sự đa dạng của cộng đồng Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông…, Lạng Sơn hình thành một không gian văn hóa phong phú, trong đó lễ hội giữ vai trò trung tâm, phản ánh toàn diện đời sống xã hội và tinh thần của cư dân bản địa. Trước tác động của hiện đại hóa và công nghệ số, nhu cầu gìn giữ, nghiên cứu và phát huy lễ hội truyền thống càng trở nên cấp thiết, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và cội nguồn cộng đồng. Từ khảo sát thực tiễn và tư liệu nghiên cứu, cuốn sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn” được biên soạn nhằm giới thiệu những giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội người Tày trong bức tranh văn hóa Đông Bắc Việt Nam.
Cuốn sách Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc gắn bảo tồn văn hóa tộc người với phát triển du lịch cộng đồng ở các địa bàn tiêu biểu như Mai Châu, Mộc Châu và Sa Pa. Dựa trên kết quả nghiên cứu và điền dã thực địa, sách đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa vùng cao.
Cuốn sách Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số dày dặn (hơn 400 trang), bao gồm 2 phần: - Phần I: Nghiên cứu về văn học các DTTS dưới góc độ thể loại; - Phần II: Phê bình tác giả, tác phẩm văn học DTTS. Đây thực sự là một cuốn sách vừa công phu, có tính lý luận, tính thực tiễn, tính khoa học lại vừa có chất tài hoa, nghệ sĩ của một nhà thơ làm lý luận phê bình văn học. Điểm nhấn của cuốn sách chính là phần tác giả viết về tình hình và đặc điểm của mảng nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS Việt Nam (Chương 3 - Phần I). Đây có lẽ là phần viết có tính mới, tính khoa học rõ rệt nhất và cũng là phần đóng góp mới, có giá trị của nhà nghiên cứu, phê bình Trần Thị Việt Trung - trong việc bổ sung, hoàn thiện bức tranh chung của đời sống lý luận phê bình văn học Việt Nam sau 1945. Bởi trong các công trình nghiên cứu về lý luận phê bình văn học Việt Nam nói chung hiện nay - hầu như mảng lý luận phê bình văn học DTTS còn rất ít được nhắc tới; hoặc có được nhắc tới (trong một số bài báo, bài nghiên cứu lẻ) thì cũng mới chỉ ở dạng điểm qua, thiếu tính hệ thống và chưa có cái nhìn toàn diện. Phần II của cuốn sách (phê bình tác giả, tác phẩm) với lối viết phê bình, lối dựng chân dung đầy sắc sảo, tài hoa đã thể hiện khá rõ chất “nữ tính” trong từng trang viết của tác giả. Dồn bao tình cảm, trí tuệ và sự đam mê của mình vào việc nghiên cứu văn học các DTTS - PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã mang đến cho bạn đọc cả nước nói chung, đồng bào các DTTS nói riêng những tác phẩm, những công trình nghiên cứu đầy công phu và tâm huyết của mình.
“Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” cung cấp những nội dung khái quát về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của rừng đối với môi trường, kinh tế và đời sống xã hội. Tài liệu tập trung giới thiệu các vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ, quản lý và khai thác rừng hợp lý gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, ấn phẩm góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích những hành động thiết thực nhằm gìn giữ và phát triển tài nguyên rừng lâu dài.
Cuốn sách Khu di tích Hang Con Moong: tính toàn vẹn, xác thực và giá trị nổi bật toàn cầu do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa, thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thực hiện với sự tham gia biên soạn của PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử, PGS.TS. Bùi Văn Liêm và TS. Nguyễn Văn Hải vừa hoàn thành, sau thành công của Hội thảo khoa học về Hang Con Moong tháng 7 năm 2025. Cuốn sách đã trình bày có hệ thống toàn bộ kết quả các lần khai quật, nghiên cứu di tích Hang Con Moong và phụ cận vốn được giới khảo cổ học trong và ngoài nước tiến hành trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua, trong đó có sự đóng góp trực tiếp của chính các tác giả cuốn sách này. Các tư liệu khai quật đã được phân tích chuyên sâu, làm rõ các đặc trưng nổi bật về di tích, di vật, xác định niên đại, các giai đoạn phát triển tiền sử Hang Con Moong và phụ cận trong bối cảnh rộng hơn.
ປີ 2017 ເປັນປີທີ່ມີຄວາມຫມາຍສຳ¬ຄັນພິ¬ເສດໃນການພົວ¬ພັນດ້ານການທູດລະ¬ຫວ່າງ ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ ເມືອງສອງປະ¬ເທດລະນືກຄົບ¬ຮອບ 40 ປີ ແຫ່ງການເຊັນສົນ¬ທິ-ສັນ¬ຍາ ມີດຕະພາບ ແລະ ຮ່ວມມື ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ (18 ກໍ¬ລະ¬ກົດ ປີ 2017). ແລະ 55 ປີ ແຫ່ງການສະ¬ຖາ¬ປະ¬ນາຄວາມສຳ¬ພັນທາງການທູດຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ (05 ກັນ-ຍາປີ 1962 - 05 ກັນ¬ຍາປີ 2017). ໂດຍໄດ້ຮັບຄວາມເຫັນດີຈາກການນຳຂອງກະ-ຊວງຖະ¬ແຫຼງຂ່າວ ແລະ ການສ່ືສານ, ສຳ¬ນັກພິມຈຳ¬ຫນ່າຍຖະ¬ແຫຼງຂ່າ ແລະ ການສ່ືສານສົມ¬ທົບກັບຜູ້ຊ່ຽວ¬ຊານ ຈັດຕັ້ງການຮຽບ¬ຮຽງ ແລະ ພິມຈຳ¬ຫນ່າຍປືມ 11 ຫົວເພ່ືອເປັນການລະນືກ ການພົວ¬ພັນ ທາງການທູດຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ. ໃນປີ 2018, ໂດຍແນ¬ໃສ່ສືບ¬ຕໍ່ຢືນ¬ຢັນ ແລະ ໂຄ¬ສະ¬ນາຢ່າງ ກວ້າງ¬ຂວາງ ແລະ ເລິກ¬ເຊິ່ງກວ່າອີກກ່ຽວກັບ ການພົວ¬ພັນອັນຈົບ¬ງາມລະ¬ຫວ່າງ ສອງປະ¬ເທດ, ສອງຊາດ. ສຳໜັກພິມກະຊວງຖະແຫຼງຂ່າວ ແລະ ກາຈສື່ສານໄດ້ເລືອກປື້ມຈຳນວນ 8 ຫົວເພື່ອແປ ແລະ ພິມຈຳໜ່າຍເປັນພາສາລາວ, ນັ້ນກໍ່ຄື: 1- ບາດ¬ກ້າວຕ່າງໆໃນວັນ¬ນະ¬ຄະ¬ດີ ທີ່ຢັ້ງ¬ຢືນເຖິງຄວາມເປັນເອ¬ກະ¬ລາດຂອງບັນ-ດາ¬ເຜົ່າໃນ ລາວ ແລະ ຫວຽດ¬ນາມ. 2- ສາຍພົວ¬ພັນພິ¬ເສດ, ການຮ່ວມມືຮອບ¬ດ້ານ ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ ໃນໄລ¬ຍະປີ 1954-2017. 3- ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ: ສາຍພົວ¬ພັນທີ່ສະ¬ໜິດ¬ສະ¬ໜົມຕະ¬ຫຼອດໄລ¬ຍະເວ¬ລາຜ່ານມາ (ມີຫຼາຍຈຸດທີ່ຄ້າຍ¬ຄືກັນທາງດ້ານການ¬ເມືອງ, ປະ¬ຫວັດ¬ສາດ, ວັດ¬ທະ¬ນະ¬ທຳມາເເຕ່ບູ¬ຮານນະການຈົນເຖິງປັດ¬ຈຸ¬ບັນ). 4- 55 ປີ ສາຍພົວ¬ພັນທາງດ້ານການທູດລະ¬ຫວ່າງ ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ, ຫວນຄືນ ເເລະ ກ້າວເຂົ້າສູ່ອະ¬ນາ¬ຄົດໃນຕໍ່ໜ້າ. 5- ບັນ¬ດາບົດເລື່ອງກ່ຽວກັບສາຍພົວ¬ພັນ ຄວາມສາ¬ມັກ¬ຄີ ມິດ¬ຕະ¬ພາບ ລະ¬ຫວ່າງຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ. 6- ຄວາມຄ້າຍ¬ຄືກັນທາງດ້ານທິດສະດີ ວັດ¬ທະ¬ນະ¬ທຳທ້ອງ¬ຖິ່ນ ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ. 7- ປຽບ¬ທຽບ ຄຳສຸ¬ພາ¬ສິດລາວ ກັບຄຳພະຫຍາຫວຽດ¬ນາມ. 8- ຮຽນຮູ້ວັດ¬ທະ¬ນາທຳ - ປະ¬ຫວັດ¬ສາດລາວ. ເນື້ອໃນຂອງປື້ມເລົ່ານີ້ຈະສະ¬ເຫນີຂໍ້ມູນພື້ນ¬ຖານກ່ຽວກັບປະ¬ເທດຊາດ ແລະ ຄົນລາວ. ກ່ຽວກັບສີ່ງທີ່ເດັ່ນຕ່າງໆຂອງປະ¬ເທດລ້ານຊ້າງ ໂດຍຜ່ານຂົງ¬ເຂດປະ¬ຫວັດ¬ສາດ, ການ ທະຫານ. ການ¬ເມືອງ, ເສດ¬ຖະ¬ກິດ, ວັດ¬ທະ¬ນະທຳ-ສັງຄົມ. ໄປພ້ອມໃນທ່າສົມທຽບກັບ.
Việt Nam là một quốc gia văn hiến có lịch sử phát triển mấy nghìn năm rực rỡ; ngay từ thế kỷ XV, sau khi đánh đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho đất nước, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã khẳng định trong “Bình Ngô đại cáo”: 唯, 我 大 越 之 國, 實 為 文 献 之 邦…Duy, ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang...: Như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến.... Một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần làm nên văn hiến Việt Nam chính là Nho giáo, Nho học; và chính những di tích nho học là một phần bộ mặt của nền văn hiến đó. Với truyền thống “tôn sư trọng đạo”, trọng người hiền tài; hơn 500 năm về trước, vâng mệnh vua Lê Thánh Tông - vị minh quân “võ công văn trị” nổi tiếng trong lịch sử dân tộc; Thân Nhân Trung - Hàn lâm viện Thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ, Quốc tử giám Tế tửu, Lễ bộ Thượng thư, Lại bộ Thượng thư, đã viết: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng Thánh đế, minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý trọng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng...”[1]. Thực tế cho thấy, với bất cứ một quốc gia, dân tộc nào muốn phát triển đều phải chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực - nhân tài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nước nhà, sự nghiệp giáo dục - đào tạo càng có vai trò to lớn hơn bao giờ hết. Việc nghiên cứu, tìm hiểu truyền thống và kinh nghiệm của cha ông là một động thái quan trọng cho tiến trình hội nhập và phát triển hiện nay. Trong lịch sử dân tộc, tầng lớp Nho sĩ Việt Nam đã góp phần to lớn của mình trong sự nghiệp củng cố và phát triển đất nước. Công lao to lớn của họ đã được đất nước và nhân dân trân trọng, tôn vinh. Các nhà nước phong kiến Việt Nam đã luôn dành cho họ vị trí xứng đáng trong xã hội; thể hiện bằng việc sử dụng, bổ nhiệm những người có tài, có trình độ học vấn đã đỗ đạt vào các vị trí trong bộ máy chính quyền phong kiến từ Trung ương đến địa phương. Việc tưởng nhớ, ghi công ông tổ nho học và các hiền triết - danh nho ở bất kỳ triều đại nào cũng là mối quan tâm của chính quyền phong kiến các cấp cũng như đông đảo các tầng lớp nhân dân. Từ đó đã ra đời hệ thống di tích thờ tự danh nho trên khắp miền đất nước. Vùng đồng bằng Bắc Bộ, mảnh đất gốc, cái nôi của văn minh Việt, nơi đã tiếp nhận sớm nhất sự du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo từ Trung Hoa. Đây cũng là vùng đất mà Nho học phát triển mạnh nhất và đạt được những thành tựu to lớn nhất. Cũng chính ở đây, hệ thống di tích Nho học có số lượng khá lớn. Sau những biến thiên dữ dội của lịch sử dân tộc, hệ thống Văn miếu ở đồng bằng Bắc Bộ hiện chỉ còn lại 4 di tích với qui mô kiến trúc tương đối lớn ở Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên. Ngoài ra, một số địa phương trên cả nước cũng còn giữ lại được nhiều di tích Văn miếu với qui mô và tính chất khác nhau, như: Văn Thánh Huế, Khổng Tử miếu [Hội An, Quảng Nam], Khổng Tử miếu Tam Kỳ [Quảng Nam], Văn miếu Bình Định, Văn miếu Diên Khánh [Khánh Hòa], Văn miếu Trấn Biên [Đồng Nai], Văn Thánh miếu Vĩnh Long… và rất nhiều các văn chỉ, từ chỉ với qui mô và hiện trạng khác nhau ở các địa phương. Trong những năm qua, việc nghiên cứu các di tích Nho học ở các địa phương cũng đã và đang được tiến hành dưới nhiều mức độ khác nhau. Từ đó rút ra những ý nghĩa, bài học cần thiết để khai thác giá trị của hệ thống di tích Nho học trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế tri thức hôm nay. Kế thừa những thành tựu to lớn của các nhà nghiên cứu trước đây, cuốn sách "Hệ thống di tích Nho học Việt Nam và các văn miếu tiêu biểu ở Bắc Bộ" sẽ hệ thống hóa tổng quan những vấn đề về Nho giáo và Nho học Việt Nam đồng thời giới thiệu khá chi tiết những di tích Văn miếu tiêu biểu ở Bắc Bộ. Cuốn sách cũng cung cấp một cách tiếp cận đa chiều thông qua việc “giải mã văn hóa” các vấn đề liên quan đến hệ thống di tích Nho học. Điều đó giúp cho người đọc hiểu sâu hơn về các di sản văn hóa tri thức của cha ông ta để lại.
Nhà văn hóa lớn của nhân loại Mahatma Gandhi từng nói: “Nền giáo dục chân chính phải lấy giáo dục minh triết và lòng từ thiện làm nền tảng”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới có lời huấn đức: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu mất dần đi...”.
Cuộc sống ngày nay đang tiến đến kỷ nguyên kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vượt bậc, song cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người sống minh triết, sống hướng thiện, sống hướng thượng tới các giá trị cao quý.
Một số nhà giáo dục hiện đại thường mong mỏi nhà trường phải dạy 4 chữ “C” trong động thái của thế kỷ XXI(2):
- C1: Tư duy phản biện (Critical thinking);
- C2: Năng lực giao tiếp (Communication);
- C3: Năng lực hợp tác (Collaboration);
- C4: Năng lực sáng tạo (Creativity).
Giáo dục minh triết và lòng từ thiện, giáo dục cho mầm thiện ở con người được phát triển lên và mầm ác mất đi như Gandhi, Hồ Chí Minh và những nhà văn hóa khác từng huấn đức là cơ sở để có “4C” một cách đích thực.
Cuốn sách "Biến đổi sinh kế của người Mường ở vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình (mô hình tái định cư) (bản rút gọn)" được bố cục làm 5 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề tái định cư
Chương 2: Quá trình tái định cư Thủy điện Hòa Bình
Chương 3: Biến đổi sinh kế trong mô hình di vén: Xóm Ké
Chương 4: Biến đổi sinh kế trong mô hình lập làng mới: Xóm Lương Phong
Chương 5: Một số hoạt động hỗ trợ phát triển sau tái định cư
Tái định cư công trình thủy điện Hòa Bình đã diễn ra cách đây gần nửa thế kỷ, tạo ra một khoảng thời gian đủ dài để nghiên cứu này, với dữ liệu được thu thập và phân tích trong bối cảnh thực địa những khoảng thời gian trước năm 2017, mang tính tổng kết sâu sắc. Nhờ những thành công, hạn chế trong việc thi hành chính sách tái định cư bắt buộc đối với người Mường ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ), mà bài toán sinh kế cho người dân vùng tái định cư bắt buộc phải được coi trọng và tính toán hơn nữa.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sẽ góp phần cải thiện việc xây dựng và thực hành chính sách tái định cư, chính sách phát triển vùng miền núi ở Việt Nam.
cuốn sách Di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam, tập 1: Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Cuốn sách này nhằm nhận diện và cung cấp những kiến thức cơ bản về các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của các tỉnh/thành phố khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng và cung cấp thông tin về 10 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở mỗi tỉnh/thành phố. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương.
Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách nhắc chúng ta khi đã hứa thì phải giữ đúng lời và gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Hứa mà không làm hoặc làm không đến nơi đến chốn sẽ làm mất đi niềm tin của mọi người đối với mình
Nội dung cuốn sách "Xây dựng hợptác xã phát triển theo chuỗi giá trị dược liệu (Khu vực miền núi phía Bắc) (bản rút gọn)" góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dược liệu ở Việt Nam; phản ánh thực trạng hoạt động của các hợp tác xã dược liệu; phân tích vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững lĩnh vực này.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sách sẽ góp phần lan tỏa nhận thức về vai trò của hợp tác xã trong phát triển kinh tế dược liệu, góp phần thực hiện thành công các chương trình mục tiêu quốc gia, chiến lược phát triển dược liệu Việt Nam và nâng cao đời sống của người dân miền núi phía Bắc.
Trân trọng giới thiệu.
Cuốn cẩm nang là tài liệu thuyết minh chuyên sâu về các điểm du lịch gắn với các chủ đề về dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng, giúp cho hướng dẫn viên nhận thức đầy đủ ý nghĩa và giá trị văn hóa dân tộc, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng của đất nước, góp phần truyền bá và lan toả tới cộng đồng, du khách trong và ngoài nước để từ đó phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Bộ tài liệu bao gồm những kiến thức chung về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam và những giá trị đặc sắc gắn vói các di tích, điểm du lịch tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, giúp cho hướng dẫn viên có thể xây dựng được những bài thuyết minh đúng cấu trúc, nội dung phong phú, hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu của khách du lịch.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam” là cuốn sách chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm sáng tỏ vai trò, sứ mệnh và những chuẩn mực cốt lõi của nền báo chí cách mạng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác phẩm hệ thống một cách khoa học các quan điểm của Người về bản chất của báo chí cách mạng; yêu cầu về đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ nghiệp vụ của người làm báo; cũng như phương pháp, phong cách tuyên truyền gần dân, trọng dân, vì dân.
Cuốn sách cũng phân tích tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng đội ngũ nhà báo trung thực, giản dị, dũng cảm, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên hết. Thông qua việc luận giải những giá trị thời sự và định hướng vận dụng trong bối cảnh mới, tác phẩm giúp độc giả hiểu sâu hơn nền tảng tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam hiện nay, đồng thời gợi mở các giải pháp nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp và tính nhân văn của báo chí trong thời kỳ chuyển đổi số.