Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách nhắc chúng ta khi đã hứa thì phải giữ đúng lời và gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Hứa mà không làm hoặc làm không đến nơi đến chốn sẽ làm mất đi niềm tin của mọi người đối với mình
Lễ hội truyền thống là kết tinh của bản sắc văn hóa các dân tộc xứ Lạng, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với sự đa dạng của cộng đồng Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông…, Lạng Sơn hình thành một không gian văn hóa phong phú, trong đó lễ hội giữ vai trò trung tâm, phản ánh toàn diện đời sống xã hội và tinh thần của cư dân bản địa. Trước tác động của hiện đại hóa và công nghệ số, nhu cầu gìn giữ, nghiên cứu và phát huy lễ hội truyền thống càng trở nên cấp thiết, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và cội nguồn cộng đồng. Từ khảo sát thực tiễn và tư liệu nghiên cứu, cuốn sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn” được biên soạn nhằm giới thiệu những giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội người Tày trong bức tranh văn hóa Đông Bắc Việt Nam.
Nội dung Bộ sách giới thiệu những thông tin cơ bản về đất nước và con người Lào, về những đặc trưng của đất nước Triệu Voi thông qua các lĩnh vực lịch sử - quân sự, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội,... cùng song hành trong thế tương quan so sánh với những đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, bộ sách còn đi sâu phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và những triển vọng kết nối trên tất cả lĩnh vực. Qua đó giúp cho việc triển khai hiệu quả kế hoạch hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới và cũng là nhằm hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, đặc biệt là với đất nước Lào; nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào, đúng như mong muốn và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt - Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”
Cuốn sách trình bày về tổng thể các giá trị di sản văn hóa cồng chiêng ở tỉnh Quảng Ngãi trong tổng thể văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”,và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.
Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.
Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập.
Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh.
Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được.
Năm 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.
Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.
Năm 2017 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Lào khi hai nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (18/7/1977 - 18/7/2017) và 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962 - 05/9/2017); được sự đồng ý của Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các chuyên gia tổ chức biên soạn, xuất bản 11 cuốn sách kỷ niệm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào. Năm 2018, nhằm tiếp tục khẳng định và tuyên truyền sâu rộng hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, hai dân tộc, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông lựa chọn 8 cuốn sách để dịch và xuất bản sang tiếng Lào, đó là:
1. Những bước tiến trong tiến trình văn học để khẳng định độc lập dân tộc của Lào và Việt Nam.
2. Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào giai đoạn 1954 - 2017.
3. Việt Nam - Lào: Sự gắn bó xuyên thời gian (Những nét tương đồng về chính trị, lịch sử, văn hóa từ cổ đại đến hiện đại).
4. 55 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào: Nhìn lại và hướng tới.
5. Những câu chuyện về tình đoàn kết hữu nghị Việt - Lào.
6. Sự tương đồng về tư tưởng trong văn hóa dân gian Việt Nam - Lào.
7. So sánh Xú-pha-xít Lào với ca dao Việt Nam.
8. Tìm hiểu văn hóa - lịch sử đất nước Lào.
Nội dung bộ sách giới thiệu những thông tin cơ bản về đất nước và con người Lào, về những đặc trưng của đất nước Triệu Voi thông qua các lĩnh vực lịch sử - quân sự, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội,... cùng song hành trong thế tương quan so sánh với những đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, bộ sách còn đi sâu phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và những triển vọng kết nối trên tất cả lĩnh vực.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam” là cuốn sách chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm sáng tỏ vai trò, sứ mệnh và những chuẩn mực cốt lõi của nền báo chí cách mạng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác phẩm hệ thống một cách khoa học các quan điểm của Người về bản chất của báo chí cách mạng; yêu cầu về đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ nghiệp vụ của người làm báo; cũng như phương pháp, phong cách tuyên truyền gần dân, trọng dân, vì dân.
Cuốn sách cũng phân tích tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng đội ngũ nhà báo trung thực, giản dị, dũng cảm, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên hết. Thông qua việc luận giải những giá trị thời sự và định hướng vận dụng trong bối cảnh mới, tác phẩm giúp độc giả hiểu sâu hơn nền tảng tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam hiện nay, đồng thời gợi mở các giải pháp nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp và tính nhân văn của báo chí trong thời kỳ chuyển đổi số.
Hôn nhân không chỉ là bước chuyển trọng đại trong chu kỳ vòng đời người mà còn là một sự kiện quan trọng đối với mỗi gia đình, dòng họ, làng xóm... Ngoài các quy định của pháp luật, hôn nhân cần được xác lập thông qua các phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi của các dân tộc Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời khác và luôn biến đổi theo thời gian. Bởi vậy, phong tục cưới hỏi không chỉ là một trong những nghi lễ quan trọng của chu kỳ vòng đời người, mà còn phản ánh rõ nét
đặc điểm văn hóa tộc người với những dấu ấn truyền thống và hiện đại. Từ xưa đến nay, các dân tộc Việt Nam đều rất chú trọng phong tục cưới hỏi. Phong tục cưới hỏi vừa là một sinh hoạt văn hóa tâm linh, vừa là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phong tục cưới hỏi chứa đựng các giá trị văn hóa truyền thống đã được chắt lọc, kết tinh qua nhiều thế hệ, như lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa nghệ thuật... và có tác động sâu sắc đến việc hình thành cốt cách, tình cảm, diện mạo văn hóa của cá nhân và cộng đồng. Phong tục cưới hỏi là một phần không thể thiếu đối với mỗi gia đình, dòng họ và cộng đồng, một thành tố quan trọng góp phần cấu thành nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Cuốn sách "Những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay qua tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia)" góp phần nghiên cứu sâu sắc và nâng cao nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời lan tỏa những giá trị của cuốn sách "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng".
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới
Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách khuyên nhủ chúng ta cần yêu thương, quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ từ những việc thiết thực hằng ngày và nỗ lực vượt lên hoàn cảnh khó khăn – để xứng đáng là những người con hiếu thảo
Sa Pa nằm ở phía tây của tỉnh Lào Cai, phía bắc giáp huyện Bát Xát, phía nam giáp huyện Văn Bàn, phía đông giáp thành phố Lào Cai và huyện Bảo Thắng, phía tây giáp huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Lai Châu. Người địa phương gọi vùng đất này là Sa Pả (có nghĩa là bãi cát).
Mùa đông năm 1903, đoàn khảo sát trắc địa của quân đội Pháp phát hiện ra vẻ đẹp của cao nguyên Lồ Súi Tổng. Đến năm 1905, bản vẽ về cao nguyên Lồ Súi Tổng và đỉnh cao Phan Xi Păng đã được xác định. Kể từ đây, Cha Pa (tên gọi dưới thời Pháp) đã được biết đến với các tên gọi “trạm nghỉ dưỡng trên cao”, “kinh đô mùa hè ở Đông Dương”, “khu nghỉ mát điều dưỡng”. Sau 120 năm, vẻ đẹp của “nơi gặp gỡ đất trời” vẫn luôn hấp dẫn du khách muôn phương, vẫn là vùng đất gợi nhớ, gợi thương trong lòng người đến với Sa Pa.
Sa Pa bốn mùa, mùa nào cũng đẹp. Một ngày ở Sa Pa hội tụ đủ bốn mùa. Vào buổi sáng, Sa Pa ẩn mình trong khói sương. Khi nắng lên, Sa Pa ấm áp đón gió xuân. Khi mặt trời đứng bóng, trời quang mây tạnh, khắp đó đây tràn ngập hương sắc mùa hè. Khi hoàng hôn buông xuống, Sa Pa gói mình trong se lạnh. Ban đêm, cả Sa Pa chìm trong giấc ngủ đông. Từ tháng Năm đến tháng Tám, Sa Pa có mưa nhiều, lượng mưa trung bình khoảng 1.800 - 2.200mm. Mùa hè ở Sa Pa nhiệt độ khoảng 20 - 250C vào ban ngày, 13 - 150C vào ban đêm. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ trung bình 3 - 70C, có những lúc xuống tới 00C. Sa Pa cũng là một trong những nơi hiếm có của Việt Nam có tuyết rơi. Khi hoa đào nở khắp các bản làng là lúc mùa xuân đang về.
Nhắc đến Sa Pa, nhiều người sẽ liên tưởng đến hình ảnh của đỉnh Phan Xi Păng - "nóc nhà Đông Dương", của nhà thờ đá, phố núi ẩn hiện trong sương vào mỗi buổi sáng hay chiều muộn. Sương và đá đã làm nên sự kỳ vĩ và huyền thoại của Sa Pa, làm nên những điều chỉ riêng có ở Sa Pa.
Ở Sa Pa, các tộc người: Kinh, Mông, Dao, Tày, Giáy, Xá Phó (Phù Lá)... hội tụ, sinh sống từ lâu đời. Trong đó, người Mông chiếm trên 50% dân số. Các tộc người ở đây bao đời nay đều sống hòa ái với sương, với đá. Sự kiên cường, mạnh mẽ như đá, mềm mỏng, nhẹ nhàng như sương của họ đã làm nên một bức tranh sống động về Sa Pa, tạo nên một không gian văn hóa sâu, rộng. Không gian đó tiếp tục được mở ra đầy khoáng đạt với chiều dài của lịch sử, của di sản để kết nối quá khứ với tương lai.
Ở Sa Pa, sương và đá đã trở thành biểu tượng trong tâm thức của cộng đồng các dân tộc - là triết lý sống cương - nhu, triết lý về sự hài hòa, triết lý về sự tồn tại và hồi sinh. Có thể nói, sương và đá đã tạo nên một nốt “lặng”, làm nên cái “lặng lẽ” đặc trưng của Sa Pa. Tạo nên một Sa Pa với vẻ đẹp đầy bí ẩn. Nơi đây, con người lặng lẽ trong sương, trên đá để sinh tồn và phát triển.
Từ biểu tượng của sương và đá, cuốn sách mong muốn được kể một câu chuyện bằng hình ảnh về cảnh sắc và con người Sa Pa. Câu chuyện về vẻ đẹp huyền ảo của Sa Pa ẩn hiện trong sương; về vẻ đẹp “lặng lẽ” của Sa Pa trong sương, trên đá; về những con người sống với đá, với sương; về những bản tình ca được viết nên từ sương và đá; và những khát vọng được viết nên từ vùng đất của đá và sương.
Hy vọng cuốn sách sẽ chạm được đến cảm xúc của đông đảo độc giả. Có thể chỉ là sự rung động với hạt nắng nhỏ đang nằm trong một giọt sương long lanh, là những cánh đào đỏ thắm trên hàng rào đá xinh xắn bao quanh căn nhà trình tường của người Mông. Đi vào trong câu chuyện của “Sa Pa - sương và đá”, độc giả được trở về với thiên nhiên để cảm nhận sự bao dung, hiền hòa của thiên nhiên mà thêm yêu quê hương, xứ sở, được đắm mình trong dòng chảy văn hóa để thêm yêu những con người và những cuộc đời trên đá, trong sương.