Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Thanh của tác giả Hà Nguyễn là cuốn sách giới thiệu những nét đặc trưng về lịch sử, văn hóa và con người của vùng đất Thanh Hóa trong tổng thể không gian văn hóa Việt Nam. Tác phẩm khái quát quá trình hình thành và phát triển của xứ Thanh qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời làm rõ những yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa riêng của vùng đất này. Nội dung sách đề cập đến điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử, đời sống kinh tế, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội dân gian cùng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu. Bằng cách tiếp cận địa – văn hóa kết hợp với lối trình bày khoa học, dễ hiểu và sinh động, cuốn sách giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về một vùng đất giàu truyền thống, góp phần bồi đắp hiểu biết và tình yêu đối với di sản văn hóa Việt Nam.
Cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, núi liền núi, sông liền sông, cùng uống chung nước dòng sông Mê Kông, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng rất gần gũi và thân thiết. Là điểm giao thoa, cầu nối giữa nhiều phần của đại lục châu Á, được các nhà địa chính trị Pháp coi là gốc của châu Á, hai dân tộc Việt Nam và Lào đã có sự liên hệ trong lịch sử trường kỳ dựng và giữ nước. Như một nhu cầu tự phát và dần hướng tới tự giác, khi hữu sự, bị đe dọa xâm lược, hoặc bị xâm lược, hai dân tộc đã tìm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Thế kỷ XV, đã chứng kiến sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa nghĩa quân Lam Sơn và nhân dân các bộ tộc Lào, cả về vũ khí, đạn dược, trang bị lẫn xây dựng căn cứ chiến đấu. Sang thế kỷ XIX, vận mệnh của hai dân tộc lại gắn bó với nhau khi có kẻ thù chung là thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước của nhân dân Việt Nam đã được nhân dân các bộ tộc Lào che chở, giúp đỡ. Phong trào Cần Vương của vua quan triều đình Huế cũng đã nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ các bộ tộc Lào anh em nơi vùng biên. Các nghĩa quân của các bộ tộc Lào chống Pháp cũng nhận được sự giúp đỡ, phối hợp của các lực lượng yêu nước chống Pháp ở các tỉnh biên giới Việt Nam - Lào. Sự hợp tác tự nguyện và tự giác ban đầu đó đã đặt nền móng vững chắc cho bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc ở thế kỷ XX khi hoàn cảnh lịch sử đặt ra cho mỗi dân tộc và cả hai dân tộc những thách thức hết sức khó khăn cần phải vượt qua. Cuốn sách “Việt - Lào: Hai nước chúng ta”, do tác giả Nguyễn Văn Khoan sưu tầm và biên soạn, tập hợp một số công trình khoa học viết về một số chủ đề đã công bố trên các sách báo, tạp chí, được sắp xếp theo thời gian lịch sử đáp ứng yêu cầu của bạn đọc khao khát tìm hiểu một vấn đề lớn của lịch sử hai nước, đồng thời có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.
Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Trần Ngọc Trác - Đặng Minh Tâm biên soạn, xuất bản cuốn sách Di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên - Một góc nhìn. Nội dung cuốn sách được kết cầu gồm 2 phần: Phần I: Khái quát một số dân tộc phổ biến ở Tây Nguyên Phần II: Di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên Cuốn sách là kết quả của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trăn trở của các tác giả với những giá trị văn hóa độc đáo của vùng đất này. Bằng lối tiếp cận đa chiều - kết hợp giữa khảo cứu, quan sát thực địa và suy ngẫm cá nhân - tác giả đã mang đến cho bạn đọc một cái nhìn sâu sắc về di sản vật thể và phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập.
Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045
Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045
Cuốn sách Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số dày dặn (hơn 400 trang), bao gồm 2 phần: - Phần I: Nghiên cứu về văn học các DTTS dưới góc độ thể loại; - Phần II: Phê bình tác giả, tác phẩm văn học DTTS. Đây thực sự là một cuốn sách vừa công phu, có tính lý luận, tính thực tiễn, tính khoa học lại vừa có chất tài hoa, nghệ sĩ của một nhà thơ làm lý luận phê bình văn học. Điểm nhấn của cuốn sách chính là phần tác giả viết về tình hình và đặc điểm của mảng nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS Việt Nam (Chương 3 - Phần I). Đây có lẽ là phần viết có tính mới, tính khoa học rõ rệt nhất và cũng là phần đóng góp mới, có giá trị của nhà nghiên cứu, phê bình Trần Thị Việt Trung - trong việc bổ sung, hoàn thiện bức tranh chung của đời sống lý luận phê bình văn học Việt Nam sau 1945. Bởi trong các công trình nghiên cứu về lý luận phê bình văn học Việt Nam nói chung hiện nay - hầu như mảng lý luận phê bình văn học DTTS còn rất ít được nhắc tới; hoặc có được nhắc tới (trong một số bài báo, bài nghiên cứu lẻ) thì cũng mới chỉ ở dạng điểm qua, thiếu tính hệ thống và chưa có cái nhìn toàn diện. Phần II của cuốn sách (phê bình tác giả, tác phẩm) với lối viết phê bình, lối dựng chân dung đầy sắc sảo, tài hoa đã thể hiện khá rõ chất “nữ tính” trong từng trang viết của tác giả. Dồn bao tình cảm, trí tuệ và sự đam mê của mình vào việc nghiên cứu văn học các DTTS - PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã mang đến cho bạn đọc cả nước nói chung, đồng bào các DTTS nói riêng những tác phẩm, những công trình nghiên cứu đầy công phu và tâm huyết của mình.
Cuốn sách “Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ” giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất Nghệ An – Hà Tĩnh, nơi giàu truyền thống lịch sử và cách mạng. Tác phẩm khắc họa sinh động đời sống văn hóa, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội và các loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu của người dân xứ Nghệ. Đặc biệt, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về những nét đẹp của dân ca ví, giặm cùng tinh thần hiếu học, cần cù và nghĩa tình của con người nơi đây. Với nội dung phong phú và giàu tính nghiên cứu, sách góp phần bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của xứ Nghệ. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến văn hóa và lịch sử Việt Nam.
Cuốn sách giới thiệu những di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bằng sông Hồng nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương
“Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” giới thiệu những nội dung cốt lõi về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên biển, hải đảo trong bối cảnh phát triển hiện nay. Ấn phẩm cung cấp các thông tin khái quát về thực trạng, thách thức và định hướng quản lý, khai thác hợp lý gắn với bảo tồn hệ sinh thái. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ tiếp cận, tài liệu góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hành động vì mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam.
Nội dung sách được tiếp cận theo hướng liên ngành, kết hợp giữa lịch sử, địa lý, dân tộc học và văn hóa học để phân tích các yếu tố cấu thành không gian văn hóa xứ Đông, từ điều kiện tự nhiên, môi trường cư trú, cơ cấu làng xã đến hệ thống tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán, nghề thủ công truyền thống và các giá trị văn hóa dân gian. Đặc biệt, sách nhấn mạnh vai trò của xứ Đông trong tiến trình phát triển văn hóa dân tộc cũng như những đóng góp của vùng đất này đối với nền văn minh sông Hồng.