Văn hóa - Xã hội
Tiếp tục đổi mới lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới (Sách chuyên khảo)
Nguyễn Viết Thảo

Tiếp tục đổi mới lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới (Sách chuyên khảo)

1385 lượt xem
Báo cáo về sự phát triển của phong trào cộng sản quốc tế (2022 -2023) - Sách vàng về phong trào cộng sản quốc tế (Annual report on development of international communist movements (2022 -2023)
Viện Khoa học xã hội Trung Quốc - Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - GS, TS Tân Hướng Dương - GS, TS Phan Kim Nga (Đồng Chủ biên)

Báo cáo về sự phát triển của phong trào cộng sản quốc tế (2022 -2023) - Sách vàng về phong trào cộng sản quốc tế (Annual report on development of international communist movements (2022 -2023)

789 lượt xem
5 Tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh - 5 Bảo vật quốc gia
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

5 Tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh - 5 Bảo vật quốc gia

2091 lượt xem
Xã hội Nhật Bản dân số, gia đình và cộng đồng
Ngô Hương Lan

Cuốn sách “Xã hội Nhật Bản: dân số, gia đình và cộng đồng” là tập hợp kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2020 và 2021 của tác giả, có chỉnh lý, bổ sung, đưa thêm một số thông tin về những vấn đề của Nhật Bản trong đại dịch Covid-19 nhằm gửi đến độc giả những thông tin chính xác và cập nhật về xã hội Nhật Bản hiện nay.

2766 lượt xem
85 Chân dung Văn hóa, Văn chương Việt - Tập 2
GS. Phong Lê

Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”,và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.

 Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.

 Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập. 

Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh. 

Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được. 

m 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.

Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.

5444 lượt xem
Một số góc nhìn về triết lý giáo dục
PGS. TS. Đặng Quốc Bảo, PGS. TS. Phạm Minh Giản, ThS. Phạm Minh Xuân, ThS. Đặng Thị Thu Liễu
Các tác giả Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Giản, Phạm Minh Xuân, Đặng Thị Thu Liễu thừa kế ý tưởng của các vị thầy và bằng hữu đã biên soạn cuốn sách: “Một số góc nhìn về triết lý giáo dục”. Vì “Triết lý” và “Giáo dục” là hai lĩnh vực phong phú của quá trình nhận thức và quá trình phát triển nên những nội dung nêu ra ở cuốn sách này mới chỉ là thu hoạch bước đầu. Dẫu sao đây là những cố gắng đáng trân trọng cho việc đi tìm kiến giải mới cho “Đổi mới tư duy giáo dục”. Chúng tôi vui mừng giới thiệu cuốn sách này tới những người quan tâm và mong được sự góp ý để nhóm tác giả hoàn thiện việc nghiên cứu.
3823 lượt xem
Khu di tích hang Con Moong tính xác thực, tính toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa; Trung tâm Nghiên cứu lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa

Cuốn sách Khu di tích Hang Con Moong: tính toàn vẹn, xác thực và giá trị nổi bật toàn cầu do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa, thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thực hiện với sự tham gia biên soạn của PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử, PGS.TS. Bùi Văn Liêm và TS. Nguyễn Văn Hải vừa hoàn thành, sau thành công của Hội thảo khoa học về Hang Con Moong tháng 7 năm 2025. Cuốn sách đã trình bày có hệ thống toàn bộ kết quả các lần khai quật, nghiên cứu di tích Hang Con Moong và phụ cận vốn được giới khảo cổ học trong và ngoài nước tiến hành trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua, trong đó có sự đóng góp trực tiếp của chính các tác giả cuốn sách này. Các tư liệu khai quật đã được phân tích chuyên sâu, làm rõ các đặc trưng nổi bật về di tích, di vật, xác định niên đại, các giai đoạn phát triển tiền sử Hang Con Moong và phụ cận trong bối cảnh rộng hơn.  

264 lượt xem
Tư duy sinh thái và tương lai học
Võ Văn Minh
Tất cả các quốc gia cần phải có bài học vỡ lòng rằng “là con người thì phải biết quý trọng Mẹ trái đất”. Từ tư duy đó mà thiết lập trật tự thế giới bằng các nguyên lí căn bản của Sinh thái học: “Tôn trọng tự nhiên - Tôn trọng loài người”. Đừng cố hành động theo bản năng để tranh giành, cướp giật, bất chấp mọi thứ như một loài hoang dã. Mục đích của những ngày “cách li xã hội” là cắt đứt các mối quan hệ tạm thời để virus corona không còn cơ hội lây lan. Hi vọng sau một thời gian sẽ dứt dịch. Song, điều quan trọng là nếu hệ sinh thái toàn cầu vẫn mất cân bằng nghiêm trọng thì sớm hay muộn vẫn còn đó nhiều trận đại dịch khác ở tương lai. Để tương lai được an toàn với loài người và Trái đất được vẹn toàn, thì những “người anh em” trên quả đất này cần phải đoàn kết, thương yêu, cùng nhau bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên từ tư duy của mỗi người như chính ứng xử với người mẹ yêu quý của mình. Hi vọng tư duy sinh thái sẽ là “chủng virus” hữu ích “lây nhiễm” nhanh chóng trong cộng đồng để thiết lập cân bằng sinh thái trên toàn cầu. Để thế giới an bình và mọi nhà hạnh phúc!
3604 lượt xem
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đánh giá khả năng đề cử và xác định tiêu chí xây dựng hồ sơ di sản đề cử UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản Thế giới đối với di tích hang Con Mooong, xã Thành Vinh, tỉnh Thanh Hóa
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa; Trung tâm Nghiên cứu lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa

Hội thảo nhằm tham vấn ý kiến các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia, các nhà khoa học ở Trung ương, địa phương về khả năng đề cử và xác định Tiêu chí xây dựng hồ sơ Di sản Thế giới hang Con Moong và các di tích phụ cận, trước hết là cơ sở khoa học để giới thiệu với chuyên gia tư vấn quốc tế về tính khả thi của Hồ sơ khoa học di tích hang Con Moong và phụ cận.

Trên cơ sở kết quả Hội thảo, triển khai xây dựng hồ sơ di sản Thế giới hang Con Moong và phụ cận, cũng như Bảo vệ, tôn tạo, giữ gìn và phát huy tốt nhất các giá trị di tích góp phần quảng bá Di sản Việt Nam ra thế giới, góp phần phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Thanh Hóa trong xu thế chung hiện nay.

280 lượt xem
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

1053 lượt xem
85 Chân dung Văn hóa, Văn chương Việt - Tập 1
GS. Phong Lê

Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”, và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội. 

Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp. 

Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập. 

Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh. 

Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được. 

m 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.

Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.

5765 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Nghệ là tên chung để chỉ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, còn được biết đến về mặt văn hóa với tên gọi văn hóa Lam Hồng, bởi có chung núi Hồng, sông Lam. Tên gọi Nghệ An xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1030 khi vua Lý Thánh Tông đặt địa danh hành chính cho vùng đất này là Nghệ An châu trại. Theo chiều dài lịch sử, vùng đất Nghệ Tĩnh được đổi tên nhiều lần: trại Nghệ An, Nghệ An phủ, Nghệ An thừa tuyên. Đến năm 1490, hoàng đế Lê Thánh Tông đổi là xứ Nghệ An. Cái tên xứ Nghệ cũng có lẽ chính thức bắt đầu từ đó, đồng thời với xứ Kinh Bắc, xứ Sơn Nam, xứ Hải Đông... Năm 1831, sau cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng, phạm vi hành chính của xứ Nghệ An bị thu hẹp lại, tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Thời Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa có cắt một phần đất của Nghệ - Tĩnh sáp nhập vào nước bạn Lào, phần còn lại tương đương với hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Năm 1976, chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sáp nhập hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ - Tĩnh. Đến năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách thành hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và duy trì cho đến ngày nay. Do hoàn cảnh lịch sử, điều kiện thiên nhiên đặc biệt, vùng đất này có những sắc thái độc đáo riêng, góp phần tạo nên vẻ đẹp chung của giang sơn gấm vóc Việt Nam.
3215 lượt xem
Sống minh triết trong nền giáo dục chia sẻ qua sự chiêm nghiệm các biểu đạt: ①-②-③-④-⑤
Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Giản, Phạm Minh Xuân, Nguyễn Hoàng Nam, Hoàng Đức Hoàn

Nhà văn hóa lớn của nhân loại Mahatma Gandhi từng nói: “Nền giáo dục chân chính phải lấy giáo dục minh triết và lòng từ thiện làm nền tảng”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới có lời huấn đức: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu mất dần đi...”.
Cuộc sống ngày nay đang tiến đến kỷ nguyên kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vượt bậc, song cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người sống minh triết, sống hướng thiện, sống hướng thượng tới các giá trị cao quý.
Một số nhà giáo dục hiện đại thường mong mỏi nhà trường phải dạy 4 chữ “C” trong động thái của thế kỷ XXI(2):
- C1: Tư duy phản biện (Critical thinking);
- C2: Năng lực giao tiếp (Communication);
- C3: Năng lực hợp tác (Collaboration);
- C4: Năng lực sáng tạo (Creativity).
Giáo dục minh triết và lòng từ thiện, giáo dục cho mầm thiện ở con người được phát triển lên và mầm ác mất đi như Gandhi, Hồ Chí Minh và những nhà văn hóa khác từng huấn đức là cơ sở để có “4C” một cách đích thực.

1743 lượt xem
Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn
Nguyễn Thừa Hỷ

Trong những thập kỷ gần đây, trên hành tinh của chúng ta, những thuật ngữ “văn hóa”, “văn minh”, “truyền thống”, “văn hóa truyền thống” đã trở thành những từ khóa phổ biến mang tính thời thượng, được nhiều người quan tâm và nhắc đến trong cuộc sống và các phương tiện truyền thông. Đó là một điều có ý nghĩa và có thể hiểu được. Có lẽ trong cuộc sống thường ngày, chúng ta bị cuốn hút vào vòng xoáy của những lo toan và ganh đua kinh tế, lợi danh, mà đã lãng quên đi hoặc không còn thời giờ để dành cho việc suy nghĩ và chăm sóc đời sống tinh thần. Cái hiện tại cũng đang đè nặng lên những hành xử, choán hết không gian suy tư của con người, không còn chỗ đứng cho những hồi tưởng quá khứ. Mặt khác, nhìn rộng ra trên phạm vi toàn cầu, chúng ta đang đối diện với một thách thức là những va chạm xung đột giữa các nền văn minh, văn hóa đang tồn tại, lúc âm ỉ, khi bột phát. Có lẽ, sở dĩ ý thức được như vậy, mà hiện nay nhân loại đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo và kêu gọi về vấn đề văn hóa. Liên Hợp quốc, tổ chức UNESCO đã phát động Thập kỷ văn hóa, tổ chức năm Đối thoại những nền văn minh, ra nhiều nghị quyết, tuyên ngôn về đa dạng, đa nguyên và khoan dung văn hóa. Văn hóa là một lực lượng tinh thần, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, là ngọn nguồn, xung lực của phát triển xã hội. Tuy nhiên, văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản kìm hãm và phá hoại lịch sử, đời sống con người với những hậu quả và tổn thất khó lường. Ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn và đấu tranh văn hóa. Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng. Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi văn hóa. Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về nền văn hóa Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết. Nền văn hóa truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ? Có lẽ đó là những câu hỏi trăn trở mà người viết cố gắng tiếp cận khi đề ra mục đích khiêm tốn cho cuốn sách “Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn”, mong đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc chung to lớn. Tuy nhiên, gói gọn trong một vài trăm trang sách cả một nền văn hóa có hàng nghìn năm tuổi và trải ra trên một không gian xã hội rộng lớn nhiều vùng miền với nhiều đặc trưng khác biệt, quả thực là một điều không dễ dàng, đúng hơn là quá khó thực hiện. Các bộ thông sử thường ghi chép rất ít những tư liệu đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sách hiến chương và hội điển cũng chỉ cho biết thêm về những điển chế quan phương của nhà nước. Do đó, việc khảo cứu không thể không tìm đến những nguồn tư liệu khác, như văn hóa dân gian, dân tộc học và nhất là nguồn tài liệu thực địa “mắt thấy tai nghe” của những người nước ngoài. Điều “may mắn” là tốc độ chuyển biến của văn hóa truyền thống Việt Nam rất chậm, những hiện tượng văn hóa xảy ra ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể cũng là những hình ảnh gần như trung thực của văn hóa, xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ trước, do đó có thể coi là tư liệu gốc, những thông tin đương đại. Những thông tin này đã được ghi chép trong một số lớn sách báo của những tác giả người Pháp có mặt hoặc đã sống ở Việt Nam lúc bấy giờ. Vì vậy, người đọc sẽ có thể hiểu được và thông cảm vì sao, hình như tác giả cuốn sách có vẻ thiên vị khi sử dụng những tư liệu cổ nhiều hơn kim, trích dẫn những tác giả nước ngoài nhiều hơn các tác giả trong nước. Thực ra, những dữ kiện về văn hóa truyền thống của các tác giả lớn như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên là những tư liệu cơ bản rất quý báu mà người viết cố gắng khai thác, tận dụng. Tuy nhiên, để tôn trọng tính đương thời nguyên dạng, những tư liệu đương đại - được hiểu là từ sau năm 1945 - của các tác giả trong nước và nước ngoài đã được sử dụng và trích dẫn ở mức độ hạn chế, trừ khi cần nêu lên những luận điểm kiến giải. Sau khi cung cấp những thông tin - đôi khi rất quen thuộc, bình thường đối với lớp người lớn tuổi, nhưng chưa chắc các bạn trẻ đã hiểu biết cặn kẽ, việc khó khăn hơn là tổng hợp, phân tích, đánh giá. Chúng tôi cố gắng thoát khỏi những định kiến giáo điều trong việc khen chê. Một hiện tượng có thể là tích cực về mặt này, ở thời điểm này, nhưng rất có thể lại trở thành tiêu cực ở khía cạnh khác, trong thời điểm khác và ngược lại. Bản thân một sự kiện văn hóa nhiều khi cũng mang tính hai mặt. Văn hóa Việt Nam truyền thống càng không phải là một khối đơn nguyên, thuần nhất, mà là một cấu trúc lai tạo, lưỡng nguyên đối trọng. Chúng tôi cho rằng việc có khen có chê không phải là một thái độ chiết trung thiếu ý kiến rõ ràng, mà là một phong cách tư duy phức hợp, khai mở, khoa học và biện chứng của những người làm công tác nghiên cứu hiện đại.

4843 lượt xem
100 điều nên biết về phong tục tang ma các dân tộc Việt Nam
Ha Nguyen

Dân gian Việt Nam có câu “Nghĩa tử là nghĩa tận”, mang ý nghĩa những ứng xử đối với sự chết của con người là những ứng xử cuối cùng đối với cuộc đời của một con người, cũng là những hành động rốt ráo trong quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng. Tang ma là nghi lễ cuối cùng trong chu trình vòng đời của con người. Từ xưa đến nay, các dân tộc Việt Nam đều rất chú trọng phong tục tang ma. Hầu hết các cộng đồng tộc người ở Việt Nam cũng như trên thế giới đều quan niệm cái chết không phải là sự chấm dứt hoàn toàn và chết không phải là hết. Cái chết chỉ là sự chấm dứt cuộc sống hiện tiền trong chu trình vòng đời ở hiện tại và khởi đầu một cuộc sống mới ở thế giới bên kia, có thể là thế giới của tổ tiên, thế giới của thần linh hoặc những cảnh cõi huyền diệu khác. Bởi vậy, phong tục tang ma của các dân tộc Việt Nam vừa là các nghi thức để hoàn thành những thời khắc cuối cùng của người chết trong đời sống hiện tại; tỏ lòng tri ân của gia đình, dòng họ và cộng đồng đối với người quá cố; đồng thời là bước chuẩn bị và tiễn đưa người chết bước vào một cuộc sống mới ở thế giới bên kia.

2294 lượt xem
So sánh Xú-pha-xít Lào với ca dao Việt Nam
PGS. TS Lý Hoài Thu, ThS Tạ Hồng Hạnh, TS Nguyễn Phương Liên
Người Lào có câu xú-pha-xít “Mạy huồm co po huồm xược” (Đay chung dây, cây chung khóm). Quan hệ Việt Nam - Lào như lá chung một cành, như hoa chung một bụi. Hai đất nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam Á, không chỉ liền kề nhau về địa lý mà còn có mối quan hệ bang giao hữu hảo lâu đời. Bởi vậy, bên cạnh những điểm khác nhau tất yếu, xuất phát từ bản sắc dân tộc, nền văn hóa hai nước nói chung, văn học dân gian hai nước nói riêng có những điểm tương đồng như là bản chất chung trong quá trình sáng tạo folklore nhân loại cũng như sự giống nhau do những điều kiện lịch sử, địa lý tự nhiên và những quan hệ giao lưu văn hoá mang lại. Nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau này thông qua việc so sánh xú-pha-xít Lào và ca dao Việt Nam sẽ góp phần khẳng định tính độc lập của mỗi dân tộc; đặc biệt, không chỉ giúp cho những người quan tâm hiểu biết thêm về xú-pha-xít Lào hay ca dao Việt Nam, hiểu rõ hơn những nét đẹp truyền thống trong tâm hồn và tính cách của chính mình và của người bạn láng giềng mà còn góp phần làm sáng tỏ sự giống nhau kỳ lạ, đến từng chi tiết của một bộ phận văn học dân gian giữa hai dân tộc. Trong giáo trình chính thống của ngành Văn học, các tác giả đề cập đến khái niệm trữ tình dân gian (để phân biệt với tự sự dân gian), có sử dụng cụm từ “ca dao, dân ca” đi liền với nhau. Trong đó, khi nhấn mạnh đến ba yếu tố cần chú ý để phân loại dân ca Việt Nam: 1 - Lời ca (câu hay bài) 2 - Giai điệu (giọng hoặc làn điệu) 3 - Hình thức sinh hoạt (hay lề lối hát) Có thể thấy, yếu tố thứ hai đặc trưng cho dân ca nhưng hai yếu tố còn lại thì có thể bắt gặp ở khái niệm được định danh là “ca dao” trong văn học dân gian Việt Nam. Thậm chí có thể thấy là lời những bài dân ca có cùng thi pháp với ca dao, hay có thể sử dụng bất kỳ câu ca dao nào làm lời cho một làn điệu dân ca ngẫu hứng (hát ru con, hò...). Cuốn sách còn chia riêng thể loại “Lời ăn tiếng nói của nhân dân” bao gồm tục ngữ và câu đố. Tuy nhiên, trong văn học dân gian Lào tồn tại hai khái niệm: xú-pha-xít có nội hàm bao gồm thành ngữ, tục ngữ, câu đố và cả ca dao (vì gồm nhiều câu dài, hoặc những tác phẩm được ghi lại thành lời, tách riêng khỏi các làn điệu...); lăm và khắp có nội hàm tương tự dân ca ở Việt Nam. Chính do sự khác biệt trong cách phân loại cũng như tính nguyên hợp trong các thể loại của folklore, trong cuốn sách này, chúng tôi sử dụng khái niệm “phương ngữ” (phương: mùi thơm, ở đây chỉ những câu nói tinh hoa của dân gian (Trữ tình dân gian: ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian), khác với cách hiểu phương ngữ là “từ/tiếng địa phương” hay thổ ngữ) song song với “ca dao” để so sánh với xú-pha-xít của Lào.
2482 lượt xem