Văn hóa - Xã hội
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
PGS.TS Trần Thị Minh Tuyết

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

2497 lượt xem
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

1739 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Thanh
Hà Nguyễn

Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Thanh của tác giả Hà Nguyễn là cuốn sách giới thiệu những nét đặc trưng về lịch sử, văn hóa và con người của vùng đất Thanh Hóa trong tổng thể không gian văn hóa Việt Nam. Tác phẩm khái quát quá trình hình thành và phát triển của xứ Thanh qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời làm rõ những yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa riêng của vùng đất này. Nội dung sách đề cập đến điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử, đời sống kinh tế, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội dân gian cùng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu. Bằng cách tiếp cận địa – văn hóa kết hợp với lối trình bày khoa học, dễ hiểu và sinh động, cuốn sách giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về một vùng đất giàu truyền thống, góp phần bồi đắp hiểu biết và tình yêu đối với di sản văn hóa Việt Nam.

371 lượt xem
Việt - Lào: Hai nước chúng ta
Nguyễn Văn Khoan

Cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, núi liền núi, sông liền sông, cùng uống chung nước dòng sông Mê Kông, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng rất gần gũi và thân thiết. Là điểm giao thoa, cầu nối giữa nhiều phần của đại lục châu Á, được các nhà địa chính trị Pháp coi là gốc của châu Á, hai dân tộc Việt Nam và Lào đã có sự liên hệ trong lịch sử trường kỳ dựng và giữ nước. Như một nhu cầu tự phát và dần hướng tới tự giác, khi hữu sự, bị đe dọa xâm lược, hoặc bị xâm lược, hai dân tộc đã tìm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Thế kỷ XV, đã chứng kiến sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa nghĩa quân Lam Sơn và nhân dân các bộ tộc Lào, cả về vũ khí, đạn dược, trang bị lẫn xây dựng căn cứ chiến đấu. Sang thế kỷ XIX, vận mệnh của hai dân tộc lại gắn bó với nhau khi có kẻ thù chung là thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước của nhân dân Việt Nam đã được nhân dân các bộ tộc Lào che chở, giúp đỡ. Phong trào Cần Vương của vua quan triều đình Huế cũng đã nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ các bộ tộc Lào anh em nơi vùng biên. Các nghĩa quân của các bộ tộc Lào chống Pháp cũng nhận được sự giúp đỡ, phối hợp của các lực lượng yêu nước chống Pháp ở các tỉnh biên giới Việt Nam - Lào. Sự hợp tác tự nguyện và tự giác ban đầu đó đã đặt nền móng vững chắc cho bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc ở thế kỷ XX khi hoàn cảnh lịch sử đặt ra cho mỗi dân tộc và cả hai dân tộc những thách thức hết sức khó khăn cần phải vượt qua. Cuốn sách “Việt - Lào: Hai nước chúng ta”, do tác giả Nguyễn Văn Khoan sưu tầm và biên soạn, tập hợp một số công trình khoa học viết về một số chủ đề đã công bố trên các sách báo, tạp chí, được sắp xếp theo thời gian lịch sử đáp ứng yêu cầu của bạn đọc khao khát tìm hiểu một vấn đề lớn của lịch sử hai nước, đồng thời có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

2811 lượt xem
Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ
TS. Nguyễn Thị Thanh Vân

Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.

1091 lượt xem
Di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên - Một góc nhìn (bản rút gọn)
Đặng Minh Tâm, Trần Ngọc Trác

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Trần Ngọc Trác - Đặng Minh Tâm biên soạn, xuất bản cuốn sách Di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên - Một góc nhìn. Nội dung cuốn sách được kết cầu gồm 2 phần: Phần I: Khái quát một số dân tộc phổ biến ở Tây Nguyên Phần II: Di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên Cuốn sách là kết quả của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trăn trở của các tác giả với những giá trị văn hóa độc đáo của vùng đất này. Bằng lối tiếp cận đa chiều - kết hợp giữa khảo cứu, quan sát thực địa và suy ngẫm cá nhân - tác giả đã mang đến cho bạn đọc một cái nhìn sâu sắc về di sản vật thể và phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập.

626 lượt xem
Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045
Australian Embassy Vietnam-Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Trung tâm Việt- Úc(VAC) Vietnam Australia Centre

Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045

Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045

3737 lượt xem
Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số
PGS.TS Trần Thị Việt Trung

Cuốn sách Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số dày dặn (hơn 400 trang), bao gồm 2 phần: - Phần I: Nghiên cứu về văn học các DTTS dưới góc độ thể loại; - Phần II: Phê bình tác giả, tác phẩm văn học DTTS. Đây thực sự là một cuốn sách vừa công phu, có tính lý luận, tính thực tiễn, tính khoa học lại vừa có chất tài hoa, nghệ sĩ của một nhà thơ làm lý luận phê bình văn học. Điểm nhấn của cuốn sách chính là phần tác giả viết về tình hình và đặc điểm của mảng nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS Việt Nam (Chương 3 - Phần I). Đây có lẽ là phần viết có tính mới, tính khoa học rõ rệt nhất và cũng là phần đóng góp mới, có giá trị của nhà nghiên cứu, phê bình Trần Thị Việt Trung - trong việc bổ sung, hoàn thiện bức tranh chung của đời sống lý luận phê bình văn học Việt Nam sau 1945. Bởi trong các công trình nghiên cứu về lý luận phê bình văn học Việt Nam nói chung hiện nay - hầu như mảng lý luận phê bình văn học DTTS còn rất ít được nhắc tới; hoặc có được nhắc tới (trong một số bài báo, bài nghiên cứu lẻ) thì cũng mới chỉ ở dạng điểm qua, thiếu tính hệ thống và chưa có cái nhìn toàn diện. Phần II của cuốn sách (phê bình tác giả, tác phẩm) với lối viết phê bình, lối dựng chân dung đầy sắc sảo, tài hoa đã thể hiện khá rõ chất “nữ tính” trong từng trang viết của tác giả. Dồn bao tình cảm, trí tuệ và sự đam mê của mình vào việc nghiên cứu văn học các DTTS - PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã mang đến cho bạn đọc cả nước nói chung, đồng bào các DTTS nói riêng những tác phẩm, những công trình nghiên cứu đầy công phu và tâm huyết của mình.

2788 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ
Hà Nguyễn

Cuốn sách “Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ” giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất Nghệ An – Hà Tĩnh, nơi giàu truyền thống lịch sử và cách mạng. Tác phẩm khắc họa sinh động đời sống văn hóa, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội và các loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu của người dân xứ Nghệ. Đặc biệt, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về những nét đẹp của dân ca ví, giặm cùng tinh thần hiếu học, cần cù và nghĩa tình của con người nơi đây. Với nội dung phong phú và giàu tính nghiên cứu, sách góp phần bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của xứ Nghệ. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến văn hóa và lịch sử Việt Nam.

540 lượt xem
Danh nhân Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Thăng Long - Hà Nội là miền đất thiêng của dân tộc Việt Nam, nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”. Chính nơi đây đã sản sinh và hun đúc nên nhiều bậc danh nhân hào kiệt, những tấm gương sáng chói trong suốt dặm dài lịch sử. Hàng ngàn năm qua, suốt từ buổi đầu lập nước cho đến hôm nay, dường như không lúc nào trên mảnh đất này lại vắng bóng những con người góp phần làm nên lịch sử. Họ là những vì sao lấp lánh trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Danh nhân Hà Nội, những người con sinh ra và trưởng thành trên vùng đất ngàn năm thương nhớ, đã đem tài trí, sức lực của mình xây dựng, gìn giữ quê hương, đồng thời có vai trò quan trọng trong xã hội, góp phần quyết định tới dòng chảy của lịch sử dân tộc. Họ đã khắc ghi tên mình và tên quê hương (Thăng Long - Hà Nội) vào lịch sử bằng danh tiếng, chiến tích và công lao trong trọn một đời tận tuỵ cống hiến cho Tổ quốc, cho quê hương. Thăng Long - Hà Nội sắp tròn 1000 năm tuổi. Thăng Long - Hà Nội đang mở ra thời kỳ phát triển mới với sức sống mãnh liệt của mảnh đất ngàn năm. Điểm lại một số gương mặt tiêu biểu của Thủ đô, các danh nhân Thăng Long - Hà Nội, để thấy lại những con người đã bằng trí tuệ và tâm hồn, sức lực và tâm huyết, đã góp phần đáng kể tạo tác nên một cốt cách Thăng Long thanh cao và bất hủ, sống mãi ngàn năm...
5912 lượt xem
Hữu Ngọc: Đồng hành cùng thế kỷ Văn hóa - Lịch sử Việt Nam
Hữu Ngọc
Là “nhà xuất nhập khẩu văn hóa”, Hữu Ngọc đã sáng tác và thuyết trình nhiều để giới thiệu ra thế giới tinh hoa văn hóa Việt Nam và phổ biến trong nước tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc. Chúng tôi, độc giả nước ngoài, tìm hiểu văn hóa Việt Nam qua tác phẩm Lãng du trong văn hóa Việt Nam của ông: bản tiếng Anh (Wandering through Vietnamese culture) được Giải vàng sách Việt Nam 2006, tái bản và in 10 lần, bản tiếng Pháp (A la decourverte de la culture du Vietnam) được giải GADIF 2008 (Giải các đại sứ và tổ chức Pháp ngữ ở Việt Nam) và in 6 lần - tổng cộng khoảng hai vạn bản in. Hữu Ngọc là một mắt xích nối văn hóa Việt Nam với văn hóa thế giới. Tác phẩm Hữu Ngọc - Đồng hành cùng thế kỷ văn hóa - lịch sử Việt Nam giới thiệu lịch sử văn hóa Việt Nam qua chân dung những người cùng thời với ông. Hữu Ngọc sinh cuối năm 1918. Ông sống gần trọn thế kỷ XX và bắc cầu sang thế kỷ XX - XXI. Ở trong nước, ông vừa là nhân chứng và như các công dân Việt Nam khác, là tác nhân ít nhiều của các giai đoạn lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc, Nhật thuộc, Cách mạng tháng Tám, Tuyên ngôn độc lập, chiến tranh chống Pháp, Mỹ, Khơme đỏ, Trung Quốc, thời “bao cấp”, thời “đổi mới mở cửa” đến “toàn cầu hóa”. Trong khung cảnh quốc tế, ông cũng sống trong giai đoạn cực kỳ biến động, sau chiến tranh thế giới I, cuộc đấu tranh dân chủ chống Phát xít, chiến tranh thế giới II, chiến tranh lạnh, Mỹ bá chủ thế giới sau khi Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, công cuộc phi thực dân hóa, thế giới thứ ba trỗi dậy, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vô tiền khoáng hậu, sự diễn biến sắp xếp - cân bằng lực lượng của các siêu cường… Trong tác phẩm này, Hữu Ngọc thể nghiệm vốn sống của mình trong bối cảnh quốc gia và quốc tế, thể nghiệm qua giao lưu trực tiếp và gián tiếp (sách, báo, thông tin) với những người cùng thời. Hữu Ngọc hiểu “Hữu Ngọc đồng hành cùng thế kỷ văn hóa - lịch sử Việt Nam” theo quan niệm chủ quan của mình: đó là những người trong nước và ngoài nước sống và hành động khi ông bước vào tuổi có ý thức về cuộc sống xã hội ngoài cái nôi gia đình (tuổi lên 9 - 10). Đối với ông, cụm từ “những người cùng thời” bao gồm những nhân vật có tên và cả quần chúng, các nhóm xã hội vô danh. Vì tác giả chỉ đề cập đến những giao lưu tiếp xúc bản thân, nên có thể có những nhân vật và sự kiện quan trọng đương thời không xuất hiện trong sách của ông. Thị lực của Hữu Ngọc rất yếu nhưng cái nhìn nội tâm của ông lại rất sâu sắc, đôi lúc hóm hỉnh khi phác họa một chân dung, kể lại một sự việc, nêu lên hay thể hiện một vấn đề. Mong các bạn đọc thích thú tìm thấy ở những người cùng thời một bức trang lịch sử gần trăm năm với những âm hưởng lan tỏa cho đến ngày nay.
3190 lượt xem
Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam tập 2: Các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

Cuốn sách giới thiệu những di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bằng sông Hồng nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt NamNhững di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương

1294 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản Rút gọn)
TS. Trần Văn Miều

“Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” giới thiệu những nội dung cốt lõi về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên biển, hải đảo trong bối cảnh phát triển hiện nay. Ấn phẩm cung cấp các thông tin khái quát về thực trạng, thách thức và định hướng quản lý, khai thác hợp lý gắn với bảo tồn hệ sinh thái. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ tiếp cận, tài liệu góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hành động vì mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam.

725 lượt xem
Không gian văn hoá Việt Nam - Tiểu vùng văn hoá Xứ Đông
Hà Nguyễn

Nội dung sách được tiếp cận theo hướng liên ngành, kết hợp giữa lịch sử, địa lý, dân tộc học và văn hóa học để phân tích các yếu tố cấu thành không gian văn hóa xứ Đông, từ điều kiện tự nhiên, môi trường cư trú, cơ cấu làng xã đến hệ thống tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán, nghề thủ công truyền thống và các giá trị văn hóa dân gian. Đặc biệt, sách nhấn mạnh vai trò của xứ Đông trong tiến trình phát triển văn hóa dân tộc cũng như những đóng góp của vùng đất này đối với nền văn minh sông Hồng.

300 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Quảng là vùng đất vốn thuộc vương quốc Chămpa xưa. Sau nhiều biến cố lịch sử, vùng đất này đã trở thành một bộ phận của lãnh thổ Đại Việt. Buổi đầu thời Lê Sơ (thế kỷ XV), trên bản đồ quốc gia, vùng đất Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi được ghi là Nam Giới, được xem như một phên dậu của Đại Việt. Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), giữa Đại Việt và Chămpa xảy ra xung đột. Vua Lê Thánh Tông thân chinh và đánh thắng Chămpa, cắt đặt vùng đất từ phía nam đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông làm Thừa tuyên Quảng Nam, gồm có 3 phủ, 9 huyện. Cũng từ thời vua Lê Thánh Tông, tên gọi xứ Quảng bắt đầu xuất hiện trong dân gian bên cạnh xứ Thanh, xứ Nghệ... Sau thời kỳ chiến tranh Lê - Mạc và Trịnh - Nguyễn, vùng đất này nằm dưới quyền cai quản của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát phân chia lãnh thổ Đàng Trong thành 12 dinh. Về mặt hành chính, xứ Quảng khi đó trực thuộc dinh Quảng Nam. Tại xứ Quảng có cửa biển Hội An là cửa biển duy nhất lúc bấy giờ được phép buôn bán với nước ngoài. Năm 1806, vua Gia Long chia cả nước làm 23 đơn vị hành chính. Trong đó, đạo Quảng Nam hay dinh Quảng Nam được chia thành 3 trấn. Xứ Quảng hiện nay thuộc vào địa giới hành chính của doanh Quảng Nam và trấn Quảng Ngãi. Năm 1832, vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính quy mô lớn, đổi tất cả trấn và doanh thành tỉnh, đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát trông coi việc cai trị. Địa giới hành chính của tỉnh Quảng Nam (nay là Quảng Nam và Đà Nẵng) và tỉnh Quảng Ngãi lúc bấy giờ tương đương với xứ Quảng hiện nay. Dưới thời Pháp thuộc (1858-1945), sau khi Liên bang Đông Dương được thành lập (1887), chính quyền thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam, đổi tên là Tourane, trở thành một đơn vị hành chính độc lập, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Quốc gia Việt Nam (tức chính quyền Bảo Đại). Đến tháng 3 năm 1965, các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn. Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa quy định là thành phố trực thuộc Trung ương. Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa. Từ đó đến nay, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng là 3 đơn vị hành chính độc lập. Cũng như các tiểu vùng văn hóa khác, quá trình hình thành và phát triển của tiểu vùng văn hóa xứ Quảng là sự tích hợp của nhiều yếu tố tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa... Các yếu tố này mang đặc trưng riêng biệt, tạo cho mỗi vùng miền những bản sắc không pha lẫn trong tổng thể lịch sử - văn hóa Việt Nam. Những giá trị đặc trưng của văn hóa xứ Quảng đã góp phần làm giàu thêm nét đặc sắc, đa dạng trong văn hóa Việt Nam. Chính vì vậy, sứ mệnh lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa quý báu đó phải được xem là trọng trách không chỉ của những con người sinh sống trên mảnh đất này, mà còn là trách nhiệm chung của cả cộng đồng và xã hội Việt Nam nói chung.
2424 lượt xem
Quan hệ Việt Nam - Campuchia từ sau chiến tranh lạnh đến nay
Trần Xuân Hiệp
Cách đây nửa thế kỷ, vào ngày 24/6/1967, Việt Nam và Campuchia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Sự kiện chính trị trọng đại này là một mốc son trong lịch sử mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống gắn bó nhân dân hai nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi dân tộc. Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng nằm trên bán đảo Đông Dương, có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó. Tuy vậy, quan hệ giữa hai nước cũng có những thăng trầm nhất định tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cũng như chính sách đối ngoại của mỗi nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Nhưng trên hết, có thể khẳng định, trải qua nửa thế kỷ, quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia luôn được vun đắp và đã đạt được nhiều thành tựu trên hầu hết các lĩnh vực: Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng… Đây là cơ sở, nền tảng vững chắc để hai nước tiếp tục phát huy trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Được sự đồng ý của Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã kịp thời phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và các chuyên gia nghiên cứu về Đông Nam Á biên soạn, xuất bản Bộ sách gồm 05 cuốn nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Campuchia (1967 - 2017), đó là: 1. Chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia giai đoạn 1953-1970 2. Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia: Thực trạng và triển vọng 3. Quan hệ Việt Nam - Campuchia từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay 4. Việt Nam - Campuchia: Hợp tác hữu nghị và phát triển 5. 50 năm quan hệ Việt Nam - Campuchia: Thành tựu và triển vọng Mặc dù, Nhà xuất bản và các tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và các nội dung được đề cập ở nhiều lĩnh vực, do vậy không thể tránh khỏi những hạn chế; rất mong nhận được góp ý của bạn đọc để bộ sách sẽ được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
2737 lượt xem