Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách trình bày về tổng thể các giá trị di sản văn hóa cồng chiêng ở tỉnh Quảng Ngãi trong tổng thể văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Được coi là vùng đất cổ, là cửa ngõ thông thương với vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào Cai độc đáo với cảnh quan tươi đẹp, núi non hùng vĩ, là nơi cư trú của nhiều dân tộc với 25 nhóm, ngành khác nhau, như: Mông, Dao, Tày, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Kinh… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, bằng tài năng sáng tạo của con người cùng với sự đa dạng về các thành phần dân tộc, Lào Cai đã có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú về loại hình, độc đáo về bản sắc tộc người, với một hệ thống: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; phong tục tập quán; tri thức dân gian…
Từ khi được tái lập năm 1991, với bộn bề những khó khăn trong công cuộc tái thiết nền kinh tế, xã hội còn lạc hậu của một tỉnh miền núi nhưng các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã sớm chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các dân tộc.
Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 13 của Tỉnh ủy về phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015;
Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 8 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển văn hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành chương trình kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 25 nhóm, ngành dân tộc cư trú ở 500 thôn bản trên toàn tỉnh; lựa chọn và lập hồ sơ khoa học được 26 di sản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trong đó 02 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là: Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, Giáy và Nghi lễ Then của người Tày trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái”.
Bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở hình thành và tạo nên giá trị cốt lõi để phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn độc đáo, góp phần đưa Lào Cai trở thành một địa phương được đông đảo bạn bè trong nước và ngoài nước biết đến, thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai.
Trong những năm qua, Lào Cai luôn dẫn đầu các tỉnh phía Tây Bắc về số lượng khách du lịch. Năm 2019, lượng khách đến Lào Cai đạt gần 5 triệu lượt, doanh thu từ du lịch đạt 19.800 tỷ đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Có thể nói, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc của tỉnh Lào Cai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ðể có được những kết quả này, ngoài sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp thực hiện chặt chẽ của các sở, ngành, còn có sự chung tay của cộng đồng các dân tộc, của các nghệ nhân dân gian, những người am hiểu sâu sắc về vốn văn hóa truyền thống của dân tộc. Di sản văn hóa sẽ mãi tồn tại và phát triển, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ hội nhập.
Những vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn về vấn đề ảnh hưởng của thông tin tội phạm trên truyền hình đối với công chúng ở Việt Nam
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã là cuốn sách tập trung giới thiệu vai trò và lợi ích của công nghệ số trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp và kinh tế hộ. Nội dung sách trình bày các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong tổ chức sản xuất, quản lý quy trình, truy xuất nguồn gốc, bảo quản và chế biến sản phẩm. Đồng thời, sách phân tích cách thức tận dụng nền tảng số, thương mại điện tử và mạng xã hội để mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm. Cuốn sách cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong quá trình chuyển đổi số ở hộ gia đình và hợp tác xã hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các mô hình, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực quản lý, tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho khu vực kinh tế nông thôn.
Sa Pa nằm ở phía tây của tỉnh Lào Cai, phía bắc giáp huyện Bát Xát, phía nam giáp huyện Văn Bàn, phía đông giáp thành phố Lào Cai và huyện Bảo Thắng, phía tây giáp huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Lai Châu. Người địa phương gọi vùng đất này là Sa Pả (có nghĩa là bãi cát).
Mùa đông năm 1903, đoàn khảo sát trắc địa của quân đội Pháp phát hiện ra vẻ đẹp của cao nguyên Lồ Súi Tổng. Đến năm 1905, bản vẽ về cao nguyên Lồ Súi Tổng và đỉnh cao Phan Xi Păng đã được xác định. Kể từ đây, Cha Pa (tên gọi dưới thời Pháp) đã được biết đến với các tên gọi “trạm nghỉ dưỡng trên cao”, “kinh đô mùa hè ở Đông Dương”, “khu nghỉ mát điều dưỡng”. Sau 120 năm, vẻ đẹp của “nơi gặp gỡ đất trời” vẫn luôn hấp dẫn du khách muôn phương, vẫn là vùng đất gợi nhớ, gợi thương trong lòng người đến với Sa Pa.
Sa Pa bốn mùa, mùa nào cũng đẹp. Một ngày ở Sa Pa hội tụ đủ bốn mùa. Vào buổi sáng, Sa Pa ẩn mình trong khói sương. Khi nắng lên, Sa Pa ấm áp đón gió xuân. Khi mặt trời đứng bóng, trời quang mây tạnh, khắp đó đây tràn ngập hương sắc mùa hè. Khi hoàng hôn buông xuống, Sa Pa gói mình trong se lạnh. Ban đêm, cả Sa Pa chìm trong giấc ngủ đông. Từ tháng Năm đến tháng Tám, Sa Pa có mưa nhiều, lượng mưa trung bình khoảng 1.800 - 2.200mm. Mùa hè ở Sa Pa nhiệt độ khoảng 20 - 250C vào ban ngày, 13 - 150C vào ban đêm. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ trung bình 3 - 70C, có những lúc xuống tới 00C. Sa Pa cũng là một trong những nơi hiếm có của Việt Nam có tuyết rơi. Khi hoa đào nở khắp các bản làng là lúc mùa xuân đang về.
Nhắc đến Sa Pa, nhiều người sẽ liên tưởng đến hình ảnh của đỉnh Phan Xi Păng - "nóc nhà Đông Dương", của nhà thờ đá, phố núi ẩn hiện trong sương vào mỗi buổi sáng hay chiều muộn. Sương và đá đã làm nên sự kỳ vĩ và huyền thoại của Sa Pa, làm nên những điều chỉ riêng có ở Sa Pa.
Ở Sa Pa, các tộc người: Kinh, Mông, Dao, Tày, Giáy, Xá Phó (Phù Lá)... hội tụ, sinh sống từ lâu đời. Trong đó, người Mông chiếm trên 50% dân số. Các tộc người ở đây bao đời nay đều sống hòa ái với sương, với đá. Sự kiên cường, mạnh mẽ như đá, mềm mỏng, nhẹ nhàng như sương của họ đã làm nên một bức tranh sống động về Sa Pa, tạo nên một không gian văn hóa sâu, rộng. Không gian đó tiếp tục được mở ra đầy khoáng đạt với chiều dài của lịch sử, của di sản để kết nối quá khứ với tương lai.
Ở Sa Pa, sương và đá đã trở thành biểu tượng trong tâm thức của cộng đồng các dân tộc - là triết lý sống cương - nhu, triết lý về sự hài hòa, triết lý về sự tồn tại và hồi sinh. Có thể nói, sương và đá đã tạo nên một nốt “lặng”, làm nên cái “lặng lẽ” đặc trưng của Sa Pa. Tạo nên một Sa Pa với vẻ đẹp đầy bí ẩn. Nơi đây, con người lặng lẽ trong sương, trên đá để sinh tồn và phát triển.
Từ biểu tượng của sương và đá, cuốn sách mong muốn được kể một câu chuyện bằng hình ảnh về cảnh sắc và con người Sa Pa. Câu chuyện về vẻ đẹp huyền ảo của Sa Pa ẩn hiện trong sương; về vẻ đẹp “lặng lẽ” của Sa Pa trong sương, trên đá; về những con người sống với đá, với sương; về những bản tình ca được viết nên từ sương và đá; và những khát vọng được viết nên từ vùng đất của đá và sương.
Hy vọng cuốn sách sẽ chạm được đến cảm xúc của đông đảo độc giả. Có thể chỉ là sự rung động với hạt nắng nhỏ đang nằm trong một giọt sương long lanh, là những cánh đào đỏ thắm trên hàng rào đá xinh xắn bao quanh căn nhà trình tường của người Mông. Đi vào trong câu chuyện của “Sa Pa - sương và đá”, độc giả được trở về với thiên nhiên để cảm nhận sự bao dung, hiền hòa của thiên nhiên mà thêm yêu quê hương, xứ sở, được đắm mình trong dòng chảy văn hóa để thêm yêu những con người và những cuộc đời trên đá, trong sương.
Cuốn sách ghi lại những suy nghĩ của tác giả về thời thế, cuộc sống trong từng giai đoạn khác nhau của lịch sử.
Nội dung cuốn sách Nghệ thuật Champa - Tượng Phật giáo sẽ giúp bạn đọc là các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên chuyên ngành văn hóa và những người yêu nghệ thuật cổ hiểu sâu hơn về ngôn ngữ tạo hình, biểu tượng tâm linh và tư tưởng thẩm mỹ của điêu khắc Phật giáo Champa. Hy vọng rằng, qua từng trang sách, độc giả không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của những pho tượng cổ mà còn thấy được tâm thức tôn nghiêm, niềm tin và khát vọng hướng thiện đã thấm sâu trong từng đường nét đá sa thạch Champa - một phần không thể tách rời của di sản văn hóa Việt Nam và nhân loại.
Thông qua cuốn sách 100 điều nên biết về tiến trình văn hóa Việt Nam của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối liền bạn đọc với những tri thức chung phổ quát và các sắc màu văn hóa đặc sắc trong tiến trình văn hóa Việt Nam. Trải qua các thời kỳ lịch sử, những yếu tố văn hóa trong mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc và của cả quốc gia - dân tộc Việt Nam đã không ngừng tiếp xúc và hòa hợp, biến đổi và phát triển, để lại những dấu ấn sâu đậm trong tiến trình văn hóa Việt Nam. Văn hóa Việt Nam được nuôi dưỡng trên nền tảng truyền thống lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc, được bảo tồn và phát huy đã trở thành động lực sáng tạo, góp phần kiến tạo nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
“Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” cung cấp những nội dung khái quát về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của rừng đối với môi trường, kinh tế và đời sống xã hội. Tài liệu tập trung giới thiệu các vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ, quản lý và khai thác rừng hợp lý gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, ấn phẩm góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích những hành động thiết thực nhằm gìn giữ và phát triển tài nguyên rừng lâu dài.
Nền dân chủ nhân dân toàn quá trình của Trung Quốc (中国的全过程人民民主)
Nền dân chủ nhân dân toàn quá trình của Trung Quốc (中国的全过程人民民主)
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Thị Thu Dung (chủ biên) biên soạn và xuất bản cuốn sách Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Nội dung được kết cấu thành 2 phần gồm một số bài viết và bài nghiên cứu chuyên sâu, phản ánh những giá trị đặc sắc trong đời sống văn hóa cũng như đặc điểm ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số sinh sống tại tỉnh Điện Biên. Mỗi bài viết đều là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của các tác giả - những người tâm huyết với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Cuốn sách không chỉ cung cấp những tư liệu quý báu về ngôn ngữ, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Điện Biên, mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí của văn hóa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ hội nhập.