Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Hà Nội dường như là thủ đô thiên nhiên của châu thổ sông Nhị, của miền Bắc Việt Nam. Các mạch núi Tây Bắc đều dồn về đây, các dòng sông cũng dồn về đây rồi toả ra thế “chúng thuỷ triều Đông”. Và có lẽ bởi vậy mà vùng“đất lành chim đậu” này cũng trở thành nơi hội tụ của các anh tài, các nghệ nhân từ khắp mọi miền đất nước. Từ mùa thu năm Canh Tuất (1010) đất kinh thành được phục hưng và bừng nở với Long phượng thành, với 61 rồi 36 phố phường, với thập tam trại và nhiều chợ búa ở cửa ô. Trí thức, thương nhân, thợ thủ công tụ hội về đây chen đua, cọ sát trí năng thủ xảo, tâm linh để dần dần kết tinh thành văn hiến, văn vật, thành tài hoa đất kinh kỳ. Nếu nhà văn Tô Hoài cho rằng Hồ Gươm - Kẻ Chợ tạo ra tiếng Hà Nội, do trăm nhà trăm vùng đua tiếng rồi dung hợp lại mà thành, không giống bất cứ một phương ngữ tiếng Việt nào thì “tài khéo đất rồng” là kết quả hội tụ và kết tinh cái sành sỏi, cái tế vi của người Hà Nội. Xung quanh Thăng Long - Đông Kinh - Kẻ Chợ mọc dần lên các làng chuyên doanh đặc sản: các làng nghề như gốm sứ Bát Tràng, vàng quỳ Kiêu Kỵ, làng nghề giấy vùng Bưởi, làng hoa Ngọc Hà, quất Nghi Tàm... Làng nghề trồng trọt, làng nghề thủ công cứ thế mà nổi danh cùng năm tháng. Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, nhiều nghề, làng nghề Hà Nội vẫn tồn tại, phát triển và để lại dấu ấn khó quên trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam. Thăng Long - Hà Nội ngày càng bộc lộ một diện mạo phong phú, một tiềm năng không nhỏ, một truyền thống nghề không thể để mai một với thời gian. Hà Nội có tiềm năng lớn về du lịch các làng nghề. Khách đến với Hà Nội không chỉ được chiêm ngưỡng các danh thắng, di tích lịch sử và các lễ hội mà còn được thưởng thức, ngắm nhìn cả một bảo tàng sống động về các sản phẩm đặc sắc, phong phú và đa dạng của các làng nghề đã được hình thành và tồn tại hàng ngàn năm lịch sử.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với PGS.TS. Vương Toàn (chủ biên) biên soạn và xuất bản cuốn sách Bảo tồn nét đẹp văn hóa các dân tộc Thái - Kađai. Nội dung của cuốn sách gồm 25 bài viết phản ánh đa chiều các khía cạnh văn hóa: từ phân tích cấu trúc không gian cư trú và bản sắc tộc người, đến các dạng thức tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội, cũng như những thực hành nghệ thuật truyền thống và giá trị nhân văn sâu sắc. Các bài viết không chỉ mô tả các yếu tố văn hóa mà còn đặt chúng trong bối cảnh động của biến đổi xã hội và những thách thức đặt ra cho công tác bảo tồn trong thời đại hiện nay.
Cẩm nang thủ tục hành chính trên môi trường số là cuốn sách cung cấp hướng dẫn tổng quan và thực tiễn về việc thực hiện các thủ tục hành chính trong bối cảnh chuyển đổi số. Nội dung sách làm rõ quy trình, phương thức và các nền tảng số đang được áp dụng trong giải quyết thủ tục hành chính, hướng tới nguyên tắc công khai, minh bạch và thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp. Cuốn cẩm nang giúp người đọc hiểu rõ quyền, nghĩa vụ cũng như cách thức tra cứu, nộp hồ sơ, theo dõi và nhận kết quả trực tuyến. Đồng thời, sách phân tích những thay đổi trong tư duy quản lý nhà nước khi chuyển từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao kỹ năng số, hỗ trợ người dân và cán bộ thực thi hiệu quả các thủ tục hành chính trong giai đoạn hiện nay.
Cuốn sách Khu di tích Hang Con Moong: tính toàn vẹn, xác thực và giá trị nổi bật toàn cầu do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa, thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thực hiện với sự tham gia biên soạn của PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử, PGS.TS. Bùi Văn Liêm và TS. Nguyễn Văn Hải vừa hoàn thành, sau thành công của Hội thảo khoa học về Hang Con Moong tháng 7 năm 2025. Cuốn sách đã trình bày có hệ thống toàn bộ kết quả các lần khai quật, nghiên cứu di tích Hang Con Moong và phụ cận vốn được giới khảo cổ học trong và ngoài nước tiến hành trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua, trong đó có sự đóng góp trực tiếp của chính các tác giả cuốn sách này. Các tư liệu khai quật đã được phân tích chuyên sâu, làm rõ các đặc trưng nổi bật về di tích, di vật, xác định niên đại, các giai đoạn phát triển tiền sử Hang Con Moong và phụ cận trong bối cảnh rộng hơn.
Tây Nguyên là vùng đất của các cao nguyên miền tây Trung Bộ, nằm ở sau dãy núi Trường Sơn Nam, còn gọi là Tây Trường Sơn. Các cao nguyên ở đây có độ cao từ 1.200m, xuống đến 500m. Từ bắc qua nam có các cao nguyên nổi tiếng như:
Ở đầu bắc có cao nguyên Kon Plông nằm giữa hai dãy núi An Khê về phía đông và Ngọc Krinh về phía tây. Tiếp sau là cao nguyên Kon Hà Nừng rồi đến cao nguyên Pleiku rộng lớn. Tại miền Trung Tây Nguyên có cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên M’đrăk về phía đông; cao nguyên Đăk Nông về phía tây. Xuống nam Tây Nguyên có các cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên), cao nguyên Đran (Đơn Dương) và cao nguyên Blao (Bảo Lộc). Ranh giới phía nam các tỉnh Đăk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) và Lâm Đồng là vùng đất Nam bộ với đồng bằng sông Cửu Long và miền đất cao ở phía đông.
Ngoài cư dân Việt (Kinh), trên toàn khu vực nói trên là địa bàn sinh sống chủ yếu của 15 tộc người, trong đó 11 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, chiếm quá nửa số lượng tộc người nhóm Môn - Khmer trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó là 3 trong số 5 tộc người nhóm ngôn ngữ Malayo - Polynesian thuộc ngữ hệ Nam Đảo; và chỉ có duy nhất một tộc người Hoa được giới thiệu ở tập hợp này.
Về tộc người Hoa thì tổ tiên họ lần hồi có mặt trên vùng núi Bắc Bộ từ thời Bắc thuộc. Còn tại Nam Bộ, họ mới di cư tới từ năm 1679 vào đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (tức Chúa Hiền). Với những cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer thì bán đảo Đông Dương đã là nơi sinh tụ của tổ tiên họ từ nhiều thiên niên kỷ trước Công nguyên, khi mà những tộc người có nguồn gốc Nam Đảo còn chưa có mặt trên đồng bằng ven biển miền Trung và các cao nguyên miền Tây Trung Bộ như ngày nay.
Cuốn sách này giới thiệu khái quát những nét chính về 15 cộng đồng tộc người sinh sống ở khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Đặc biệt nhấn mạnh về văn hóa truyền thống ở 11 tộc người Môn - Khmer với nhiều thang bậc phát triển từ thấp đến cao, và lưu giữ được nhiều thành tố văn hóa từ rất xa xưa, soi tỏ không ít những dấu ấn của văn hóa truyền thống hiện tồn. Trên đất nước Việt Nam, cộng đồng ngôn ngữ Môn - Khmer có 21 tộc người. Họ phân bố dân cư ở 3 khu vực với những ảnh hưởng khác nhau từ các địa bàn cư trú. Khu vực Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ có quá nửa số lượng tộc người. Văn hóa cội nguồn còn lưu giữ được dưới nhiều dạng tồn tại khác nhau, ít chịu ảnh hưởng văn hóa ngoại tộc.
Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng khó tránh khỏi những sai sót, sơ suất, chúng tôi rất mong bạn đọc lượng thứ và xin nhận được những góp ý chân thành.
Hội thảo nhằm tham vấn ý kiến các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia, các nhà khoa học ở Trung ương, địa phương về khả năng đề cử và xác định Tiêu chí xây dựng hồ sơ Di sản Thế giới hang Con Moong và các di tích phụ cận, trước hết là cơ sở khoa học để giới thiệu với chuyên gia tư vấn quốc tế về tính khả thi của Hồ sơ khoa học di tích hang Con Moong và phụ cận.
Trên cơ sở kết quả Hội thảo, triển khai xây dựng hồ sơ di sản Thế giới hang Con Moong và phụ cận, cũng như Bảo vệ, tôn tạo, giữ gìn và phát huy tốt nhất các giá trị di tích góp phần quảng bá Di sản Việt Nam ra thế giới, góp phần phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Thanh Hóa trong xu thế chung hiện nay.
Cuốn sách trình bày về tổng thể các giá trị di sản văn hóa cồng chiêng ở tỉnh Quảng Ngãi trong tổng thể văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.
Cuốn sách giới thiệu khái quát những nét chính về 12 cộng đồng tộc người sinh sống ở các tỉnh ven biển và miền Trung, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Trong đó có 6 tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khmer, 2 tộc người nói ngôn ngữ Nam Đảo, 2 tộc người nói ngôn ngữ Việt - Mường và 2 tộc người nói ngôn ngữ Hán Quảng Đông. Diện mạo này cho thấy khu vực ven biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam là một vùng hỗn cư, gồm những nhóm tộc người thuộc 4 thành phần ngôn ngữ khác nhau vì ven biển là nơi cửa mở.
Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.
Lạng Sơn, vùng phên giậu phía đông bắc của Tổ quốc, sở hữu cảnh quan hùng vĩ và nền văn hóa đa dạng, là nơi hình thành Công viên địa chất Lạng Sơn nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản đặc sắc của tỉnh. Từ hội thảo khoa học về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể năm 2022, nhóm tác giả đã tập hợp các nghiên cứu để biên soạn cuốn “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng Công viên địa chất Lạng Sơn”. Cuốn sách góp phần khẳng định giá trị của vùng di sản này trong chiến lược phát triển bền vững theo các định hướng của Chính phủ và tinh thần Tuyên ngôn UNESCO về đa dạng văn hóa.
Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một công trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống và khái quát, có những kiến giải mới, góp phần làm sáng tỏ một phương diện của chủ nghĩa xã hội hiện còn ít được nghiên cứu - phương diện chủ nghĩa xã hội đi từ lý luận đến thực tiễn, từ đó rút ra một số bài học kinh nghệm bổ ích cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhân dân ta đang tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng.