Văn hóa - Xã hội
Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên (Bản rút gọn)
TS. Nguyễn Thu Dung

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Thị Thu Dung (chủ biên) biên soạn và xuất bản cuốn sách Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Nội dung được kết cấu thành 2 phần gồm một số bài viết và bài nghiên cứu chuyên sâu, phản ánh những giá trị đặc sắc trong đời sống văn hóa cũng như đặc điểm ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số sinh sống tại tỉnh Điện Biên. Mỗi bài viết đều là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của các tác giả - những người tâm huyết với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Cuốn sách không chỉ cung cấp những tư liệu quý báu về ngôn ngữ, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Điện Biên, mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí của văn hóa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ hội nhập.

450 lượt xem
Việt - Lào: Hai nước chúng ta
Nguyễn Văn Khoan

Cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, núi liền núi, sông liền sông, cùng uống chung nước dòng sông Mê Kông, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng rất gần gũi và thân thiết. Là điểm giao thoa, cầu nối giữa nhiều phần của đại lục châu Á, được các nhà địa chính trị Pháp coi là gốc của châu Á, hai dân tộc Việt Nam và Lào đã có sự liên hệ trong lịch sử trường kỳ dựng và giữ nước. Như một nhu cầu tự phát và dần hướng tới tự giác, khi hữu sự, bị đe dọa xâm lược, hoặc bị xâm lược, hai dân tộc đã tìm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Thế kỷ XV, đã chứng kiến sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa nghĩa quân Lam Sơn và nhân dân các bộ tộc Lào, cả về vũ khí, đạn dược, trang bị lẫn xây dựng căn cứ chiến đấu. Sang thế kỷ XIX, vận mệnh của hai dân tộc lại gắn bó với nhau khi có kẻ thù chung là thực dân Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước của nhân dân Việt Nam đã được nhân dân các bộ tộc Lào che chở, giúp đỡ. Phong trào Cần Vương của vua quan triều đình Huế cũng đã nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ các bộ tộc Lào anh em nơi vùng biên. Các nghĩa quân của các bộ tộc Lào chống Pháp cũng nhận được sự giúp đỡ, phối hợp của các lực lượng yêu nước chống Pháp ở các tỉnh biên giới Việt Nam - Lào. Sự hợp tác tự nguyện và tự giác ban đầu đó đã đặt nền móng vững chắc cho bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc ở thế kỷ XX khi hoàn cảnh lịch sử đặt ra cho mỗi dân tộc và cả hai dân tộc những thách thức hết sức khó khăn cần phải vượt qua. Cuốn sách “Việt - Lào: Hai nước chúng ta”, do tác giả Nguyễn Văn Khoan sưu tầm và biên soạn, tập hợp một số công trình khoa học viết về một số chủ đề đã công bố trên các sách báo, tạp chí, được sắp xếp theo thời gian lịch sử đáp ứng yêu cầu của bạn đọc khao khát tìm hiểu một vấn đề lớn của lịch sử hai nước, đồng thời có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

2660 lượt xem
Schools in Ancient Hanoi
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
In the first doctorate stele built in Van Mieu-Quoc Tu Giam showing names, ages and hometowns of Confucian doctor laureates who passed the examination held in 1442, there was a narration compiled by Great Scholar Than Nhan Trung that includes the following sentence: “Talents are life-sustaining elements of the nation, so as long as these elements are properly treated, the nation will be powerful and prosperous, or else it might turn weak and fading, and that is the reason why all wise Emperors care for the encouragement of talents”. This has always been considered the manifesto of Confucian education of Vietnamese feudal dynasties in particular, and Vietnam’s education and training cause in general. In order to foster talents to build and preserve the nation, education and training is a must, which is effected by schools from national to local levels, either public or private facilities established by individual teachers to educate and train people. For thousands of years, Thang Long - Hanoi has been famous as the sacred land of Vietnam’s education, which houses Quoc Tu Giam Thang Long - the earliest and biggest university of Dai Viet in middle ages, Dong Kinh Nghia Thuc school - a leader of Vietnam’s new education in modern times, and many famous private schools owned by well-known scholars. The culture of Thang Long - Hanoi is demonstrated firstly and above all in the convergence, sublimation and emanation through the last one thousand years, as well as in the most durable symbol of education: the ancient schools in Thang Long - Hanoi.
1699 lượt xem
Danh Thắng Hà Nội (Test)
Hà Nguyễn

Hà Nội có một sức quyến rũ kỳ lạ đối với người xa đến. Ở chốn xa xôi nào đó, nơi hang cùng xóm vắng hay rừng sâu núi thẳm, phương trời Tây hay phương trời Nam, chiều chiều vẫn có những người ngóng về một phương trời để cố trông cái ánh sáng mờ của Hà Nội chiếu lên nền mây, để mong mỏi một ngày được bước chân trên những đường phố cũ, thưởng ngoạn, khám phá những danh thắng của đất đế đô 1000 năm tuổi.

1522 lượt xem
Tư tưởng phật giáo trong văn hóa Lào - Việt Nam: Một cơ sở kiến tạo tình đoàn kết
TS Đỗ Thu Hiền, TS Nguyễn Phương Liên

Nội dung Bộ sách giới thiệu những thông tin cơ bản về đất nước và con người Lào, về những đặc trưng của đất nước Triệu Voi thông qua các lĩnh vực lịch sử - quân sự, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội,... cùng song hành trong thế tương quan so sánh với những đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, bộ sách còn đi sâu phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và những triển vọng kết nối trên tất cả lĩnh vực. Qua đó giúp cho việc triển khai hiệu quả kế hoạch hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới và cũng là nhằm hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, đặc biệt là với đất nước Lào; nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào, đúng như mong muốn và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt - Lào hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”

2624 lượt xem
Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc
Trung tâm nghiên cứu phát triển Vùng

Ngọc Lặc là huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy, Bá Thước; phía Nam giáp huyện Thọ Xuân, Thường Xuân; phía Tây giáp huyện Lang Chánh; phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Yên Định.

Ngọc Lặc từ xa xưa đã giữ một vị trí địa lý khá đặc biệt. Đối với nội tỉnh Thanh Hóa, Ngọc Lặc là vùng đất cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa vùng miền núi với các huyện đồng bằng của tỉnh. Đối với bên ngoài tỉnh, Ngọc Lặc có tính chất mở ra với các địa phương khác trong nước. Vị trí địa lý của Ngọc Lặc ngày càng phát huy giá trị của một vùng đất mang tính cởi mở tạo nên thế và lực cho huyện trong thời kỳ hợp tác và phát triển.

Ngọc Lặc có diện tích tự nhiên 49.092,4 ha; có 21 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm Thị trấn Ngọc Lặc (huyện lỵ) và 20 xã: Cao Ngọc, Cao Thịnh, Đồng Thịnh, Kiên Thọ, Lam Sơn, Lộc Thịnh, Minh Sơn, Minh Tiến, Mỹ Tân, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Trung, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Quang Trung, Thạch Lập, Thúy Sơn, Vân Am.

Ngọc Lặc là nơi có một lịch sử cư trú lâu đời của các dân tộc: Mường, Kinh (Việt), Dao, Thái. Tính đến ngày 31/12/2023, dân số của Ngọc Lặc là 35.137 hộ. Trong đó, người Mường có 25.295 hộ, chiếm hơn 70% dân số toàn huyện. Người Kinh có 9.209 hộ, chiếm 28% dân số toàn huyện. Người Dao, người Thái và các dân tộc khác chiếm khoảng gần 2% dân số toàn huyện.

Ở Ngọc Lặc, người Mường có mặt khắp nơi trong huyện, đông nhất là ở các xã: Thạch Lập, Nguyệt Ấn, Vân Am, Thúy Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Mỹ Tân, Cao Ngọc, Quang Trung, Đồng Thịnh, Lộc Thịnh, Ngọc Trung, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Minh Tiến, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Cao Thịnh và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Kinh có số dân đông ở các xã: Lam Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Ngọc Liên, Cao Thịnh, Minh Tiến và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Dao tập trung tại làng Tân Thành thuộc xã Thạch Lập, làng Hạ Sơn thuộc thị trấn Ngọc Lặc và làng Phùng Sơn thuộc xã Phùng Giáo. Người Thái cư trú tại xã Phùng Minh, Phúc Thịnh.

Các dân tộc ở Ngọc Lặc cư trú và sinh sống với nhau hòa hợp. Người Mường có mặt trên đất Ngọc Lặc từ rất lâu đời. Huyền thoại về vùng đất cho biết các Mường như Mường Rặc (nay thuộc xã Quang Trung, Ngọc Liên, và một phần xã Ngọc Sơn), Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Chẹ (nay thuộc xã Cao Ngọc, Mỹ Tân); Mường Lập, Mường Yến (nay thuộc xã Thạch Lập); Mường Tạ (nay thuộc xã Thúy Sơn và một phần của xã Thạch Lập); Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Ngòn (nay thuộc xã Ngọc Khê); Mường Ứn; Mường Bằng (nay thuộc xã Kiên Thọ, Nguyệt Ấn); Mường Um (nay thuộc xã Vân Am) là các Mường cổ trong vùng. Từ đó, đã hình thành nên những lớp di sản văn hóa dân gian Mường phong phú, có nét sắc thái riêng, biểu hiện rõ nét trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục, lễ hội và nguồn tri thức dân gian, kiến tạo nên bản sắc vùng đất Ngọc Lặc với nền tảng văn hóa Mường sâu đậm. Và nét đặc trưng dễ nhận thấy nhất là không gian sinh sống của người Mường với kiến trúc ngôi nhà sàn truyền thống. Trên địa bàn huyện hiện có gần một nghìn ngôi nhà sàn, trong đó, tập trung nhiều nhất là làng Lập Thắng, xã Thạch Lập. Lập Thắng là làng văn hóa du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Mường.

Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, vùng đất Ngọc Lặc có địa thế chiến lược trọng yếu, là căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược. Vì thế Ngọc Lặc là vùng đất có mật độ cao về các di tích lịch sử, văn hóa: Đền thờ Trung túc vương Lê Lai, Đền Lai, Đền Lê Lâm, Đền Mỹ Lâm, Đền Cao, Đền Chẹ, Đền Cọn, Đền Riếng, Đền Bà Chúa Chầm, Thiền tự Trúc Lâm - Bàn Bù. Các di tích lịch sử, văn hóa này đều gắn với các lễ hội truyền thống có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng các dân tộc ở Ngọc Lặc và các vùng phụ cận.

Trên cơ sở tính đặc sắc của tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa, Ngọc Lặc có đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch: Du lịch cộng đồng, Du lịch sinh thái, Du lịch văn hóa, Du lịch tâm linh, Du lịch nghỉ dưỡng, Du lịch nông thôn, đưa du lịch trở thành một ngành, một thành phần kinh tế quan trọng của địa phương. Du lịch là ngành định hướng tài nguyên rất rõ nét, vì vậy, việc biên soạn sách Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc có ý nghĩa quan trọng, nhận diện các giá trị văn hóa truyền thống và giá trị tự nhiên có thể khai thác phát triển thành sản phẩm du lịch, đồng thời quảng bá, giới thiệu về tài nguyên du lịch Ngọc Lặc, nhằm đưa các di tích lịch sử, văn hóa trở thành các điểm đến, cùng các giá trị văn hóa đặc sắc trở thành các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn đối với du khách khi đến Ngọc Lặc.

2587 lượt xem
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế
Nhiều tác giả

Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ra đời nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Đây là ấn phẩm có ý nghĩa thiết thực, góp phần nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển của Khoa, đồng thời khẳng định những nỗ lực đổi mới trong giảng dạy, nghiên cứu các môn lý luận chính trị trước yêu cầu của thực tiễn hiện nay.

Kỷ yếu này tập hợp các bài viết của giảng viên trong Khoa và các nhà khoa học đến từ nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu. Nội dung các bài viết tập trung phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với việc giảng dạy các môn lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; đồng thời đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học hiện nay. Các bài viết trong Kỷ yếu đã được lựa chọn, phản biện theo quy trình chuyên môn, bảo đảm yêu cầu về chất lượng khoa học và giá trị tham khảo.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách tới bạn đọc!

76 lượt xem
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã
TS. Nguyễn Mạnh Cường

Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã là cuốn sách tập trung giới thiệu vai trò và lợi ích của công nghệ số trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp và kinh tế hộ. Nội dung sách trình bày các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong tổ chức sản xuất, quản lý quy trình, truy xuất nguồn gốc, bảo quản và chế biến sản phẩm. Đồng thời, sách phân tích cách thức tận dụng nền tảng số, thương mại điện tử và mạng xã hội để mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm. Cuốn sách cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong quá trình chuyển đổi số ở hộ gia đình và hợp tác xã hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các mô hình, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực quản lý, tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho khu vực kinh tế nông thôn.

569 lượt xem
Di sản văn hóa cồng chiêng ở Quảng Ngãi
Cao Chư

Cuốn sách trình bày về tổng thể các giá trị di sản văn hóa cồng chiêng ở tỉnh Quảng Ngãi trong tổng thể văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

2008 lượt xem
Di sản Văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh Lào Cai - Intangible cultural heritages of the ethnic minorities in Lào Cai province
Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Lào Cai, Hà Văn Thắng (Chủ biên)

Được coi là vùng đất cổ, là cửa ngõ thông thương với vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào Cai độc đáo với cảnh quan tươi đẹp, núi non hùng vĩ, là nơi cư trú của nhiều dân tộc với 25 nhóm, ngành khác nhau, như: Mông, Dao, Tày, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Kinh… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, bằng tài năng sáng tạo của con người cùng với sự đa dạng về các thành phần dân tộc, Lào Cai đã có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú về loại hình, độc đáo về bản sắc tộc người, với một hệ thống: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; phong tục tập quán; tri thức dân gian… 

Từ khi được tái lập năm 1991, với bộn bề những khó khăn trong công cuộc tái thiết nền kinh tế, xã hội còn  lạc hậu của một tỉnh miền núi nhưng các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã sớm chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các dân tộc. 

Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 13 của Tỉnh ủy về phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; 

Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 8 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển văn hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành chương trình kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 25 nhóm, ngành dân tộc cư trú ở 500 thôn bản trên toàn tỉnh; lựa chọn và lập hồ sơ khoa học được 26 di sản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trong đó 02 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là: Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, GiáyNghi lễ Then của người Tày trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái”. 

Bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở hình thành và tạo nên giá trị cốt lõi để phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn độc đáo, góp phần đưa Lào Cai trở thành một địa phương được đông đảo bạn bè trong nước và ngoài nước biết đến, thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai. 

Trong những năm qua, Lào Cai luôn dẫn đầu các tỉnh phía Tây Bắc về số lượng khách du lịch. Năm 2019, lượng khách đến Lào Cai đạt gần 5 triệu lượt, doanh thu từ du lịch đạt 19.800 tỷ đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. 

Có thể nói, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc của tỉnh Lào Cai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ðể có được những kết quả này, ngoài sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp thực hiện chặt chẽ của các sở, ngành, còn có sự chung tay của cộng đồng các dân tộc, của các nghệ nhân dân gian, những người am hiểu sâu sắc về vốn văn hóa truyền thống của dân tộc. Di sản văn hóa sẽ mãi tồn tại và phát triển, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ hội nhập.

3324 lượt xem
Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ
TS. Nguyễn Thị Thanh Vân

Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.

644 lượt xem
Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045
Australian Embassy Vietnam-Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Trung tâm Việt- Úc(VAC) Vietnam Australia Centre

Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045

Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045

3260 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững
TS. Trần Văn Miều

Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững” tập trung làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của rừng đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh sinh thái quốc gia. Nội dung sách cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn về quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và chuyển đổi xanh. Tác phẩm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng trong gìn giữ “lá phổi xanh” của đất nước vì sự phát triển bền vững hôm nay và mai sau.

597 lượt xem
Những kỷ niệm về tình hữu nghị Việt-Pháp và Pháp ngữ
Hội Hữu nghị và hợp tác Việt - Pháp - Câu lạc bộ Pháp ngữ
Bạn đọc thân mến, Câu lạc bộ Cựu học sinh Pháp ngữ (CAEF) được thành lập theo Quyết định số 054/HVP-LH, do Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Pháp (nay là Hội Hữu nghị và Hợp tác Việt - Pháp, thuộc Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam) ký ngày 17/5/1996. Từ ngày 07/3/2007, CAEF được đổi tên thành Câu lạc bộ Pháp ngữ, nhằm tập hợp các thế hệ người Việt sử dụng tiếng Pháp và mở rộng hoạt động của mình hơn nữa. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm quan hệ Việt Nam - Pháp (1973 - 2013) và 17 năm thành lập CAEF (1996 - 2013), CAEF tổ chức biên soạn cuốn sách “Những kỷ niệm về tình hữu nghị Việt - Pháp và Pháp ngữ” bằng hai thứ tiếng (Việt, Pháp). Nội dung cuốn sách được chia làm hai phần: Phần 1: Những bài viết về kỷ niệm, về tình hữu nghị Việt - Pháp của hội viên CAEF, của các câu lạc bộ địa phương cũng như các bạn người Pháp; Phần 2: Những bài viết về cảm nhận của người Việt với tiếng Pháp. Cuốn sách sẽ mang tới cho bạn đọc những cảm xúc chân thành, sâu sắc, những kỷ niệm chan chứa tình hữu nghị giữa các bạn người Pháp và người Việt Nam, những người đã sống và làm việc ở nước Pháp cũng như những người bạn Pháp khi đến Việt Nam. Cuốn sách như một bức tranh đầy cảm xúc, ghép những mảnh tình cảm của mỗi tác giả với những gam màu khác nhau nhưng hàm chứa giá trị đích thực của tình hữu nghị Việt - Pháp ngày càng sâu đậm, bền vững.
1654 lượt xem
Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam tập 1: Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

cuốn sách Di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam, tập 1: Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Cuốn sách này nhằm nhận diện và cung cấp những kiến thức cơ bản về các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của các tỉnh/thành phố khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng và cung cấp thông tin về 10 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở mỗi tỉnh/thành phố. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương.

1059 lượt xem
Văn hóa chiến lược của Ấn Độ - Xây dựng chính sách an ninh quốc gia
Shrikant Paranjpe
Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ có nền tảng vững chắc từ lâu đời, khởi nguồn từ những mối liên hệ và giao lưu lịch sử sâu xa về văn hóa - tôn giáo - thương mại. Mối quan hệ đó không ngừng được phát huy và được nâng lên một tầm cao mới nhờ sự tạo dựng, vun đắp của hai vị lãnh tụ tiền bối, hai nhà văn hóa kiệt xuất là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Jawaharlal Nehru, cùng các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước. Thủ tướng J.Nehru cũng chính là một trong những vị khách đầu tiên đến thăm Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Tháng 02/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm và làm việc tại Ấn Độ. Kể từ đó, các chuyến thăm cấp cao giữa hai bên ngày càng được tăng cường. Hơn nửa thế kỷ qua, tuy tình hình của mỗi nước Việt Nam, Ấn Độ, tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động, cũng như sự đan xen phức tạp của các mối quan hệ quốc tế, nhưng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ vẫn “trong sáng như bầu trời không một gợn mây”. Câu nói này của Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ những năm 1980 vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay và vẫn được các thế hệ lãnh đạo hai nước nhắc lại như một câu châm ngôn khi nói đến mối tình keo sơn, ngày càng phát triển giữa hai dân tộc. Năm 2017 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Ấn Độ khi hai nước kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (07/01/1972 - 07/01/2017) và 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược (tháng 7/2007 - 7/2017). Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội Hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ tổ chức xuất bản Bộ sách về đất nước, con người Ấn Độ, gồm 8 cuốn: 1. Ấn Độ: Đất nước - Xã hội - Văn hóa. 2. Kinh tế Ấn Độ - Tiến trình tự lực, tự cường. 3. Người Ấn Độ - Sự thật về lý do tại sao thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ Ấn Độ. 4. Người Ấn Độ thích tranh luận. 5. Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, năng lượng. 6. Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực văn hóa. 7. Văn hóa chiến lược của Ấn Độ - Xây dựng chính sách an ninh quốc gia. 8. Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới, tầm nhìn mới. Nội dung Bộ sách giới thiệu về lịch sử, văn hóa, kinh tế và con người Ấn Độ; làm nổi bật văn hóa chiến lược của Ấn Độ trong xây dựng chính sách an ninh quốc gia qua các thời kỳ lịch sử; đặc biệt là các công trình khoa học của các chuyên gia Việt Nam và Ấn Độ về mối quan hệ giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực văn hóa, kinh tế.
2651 lượt xem