Văn hóa - Xã hội
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới

6490 lượt xem
100 điều nên biết về phân mốc trên biển Đông
Hà Nguyễn

Với cuốn sách nhỏ 100 điều nên biết về phân mốc trên Biển Đông của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối bạn đọc với những tri thức chung, những dấu ấn phân mốc và quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam. Tác giả đã nỗ lực kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học về biển đảo có liên quan, đối chiếu thẩm định và chuẩn hóa các thông tin để cung cấp cho bạn đọc những tri thức đáng tin cậy, có giá trị về chủ đề phân mốc trên Biển Đông.

2756 lượt xem
Dạy con thời @
Đào Thúy Hoàn
Cuốn sách này chỉ dành cho những người tâm huyết việc nuôi dạy trẻ, các bậc cha mẹ và người có trách nhiệm nuôi dạy trẻ em thực sự muốn lớp mầm non sau này lớn lên sẽ trở thành những người tốt, có bản lĩnh, tư duy tốt, có trí tuệ, độc lập, nhân đức, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và tập thể, không chỉ tự lo được cho bản thân mà phải có hiếu với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, có tình yêu thương nhân loại, có ý thức đóng góp cho đất nước, cộng đồng, xã hội và hòa bình thế giới. Cuốn sách này chỉ dành cho những người muốn con trẻ độc lập và mạnh mẽ như những cánh chim đại bàng không khuất phục trước dông bão cuộc đời. Cuốn sách này không dành cho những cha mẹ giao phó phần lớn việc chăm sóc con cho ông bà hay người giúp việc, không dành cho những cha mẹ thương con bằng cách làm hết mọi việc để con tập trung vào học mấy môn văn hóa, cũng không dành cho những cha mẹ muốn sắp xếp cuộc đời con bằng tiền bạc để sau này dùng tiền xin cho con vào chỗ ngon cho ổn định và càng không dành cho những cha mẹ chỉ mải việc của mình để con tự phát triển như cây cỏ tự nhiên. Khi bạn cầm trên tay cuốn sách này, bạn đã gia nhập vào cộng đồng những người thực sự quan tâm đến con cái, đến hạnh phúc gia đình mình, tương lai của gia đình, đất nước và xã hội. Xin chúc mừng bạn!
5542 lượt xem
Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam tập 2: Các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

Cuốn sách giới thiệu những di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bằng sông Hồng nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt NamNhững di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương

1452 lượt xem
Bảo tồn nét đẹp văn hóa dân tộc Thái - Kađai (bản rút gọn)
PGS.TS Vương Toàn (Chủ biên)

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với PGS.TS. Vương Toàn (chủ biên) biên soạn và xuất bản cuốn sách Bảo tồn nét đẹp văn hóa các dân tộc Thái - Kađai. Nội dung của cuốn sách gồm 25 bài viết phản ánh đa chiều các khía cạnh văn hóa: từ phân tích cấu trúc không gian cư trú và bản sắc tộc người, đến các dạng thức tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội, cũng như những thực hành nghệ thuật truyền thống và giá trị nhân văn sâu sắc. Các bài viết không chỉ mô tả các yếu tố văn hóa mà còn đặt chúng trong bối cảnh động của biến đổi xã hội và những thách thức đặt ra cho công tác bảo tồn trong thời đại hiện nay.

1078 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Nghệ là tên chung để chỉ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, còn được biết đến về mặt văn hóa với tên gọi văn hóa Lam Hồng, bởi có chung núi Hồng, sông Lam. Tên gọi Nghệ An xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1030 khi vua Lý Thánh Tông đặt địa danh hành chính cho vùng đất này là Nghệ An châu trại. Theo chiều dài lịch sử, vùng đất Nghệ Tĩnh được đổi tên nhiều lần: trại Nghệ An, Nghệ An phủ, Nghệ An thừa tuyên. Đến năm 1490, hoàng đế Lê Thánh Tông đổi là xứ Nghệ An. Cái tên xứ Nghệ cũng có lẽ chính thức bắt đầu từ đó, đồng thời với xứ Kinh Bắc, xứ Sơn Nam, xứ Hải Đông... Năm 1831, sau cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mạng, phạm vi hành chính của xứ Nghệ An bị thu hẹp lại, tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Thời Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa có cắt một phần đất của Nghệ - Tĩnh sáp nhập vào nước bạn Lào, phần còn lại tương đương với hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Năm 1976, chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sáp nhập hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ - Tĩnh. Đến năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách thành hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và duy trì cho đến ngày nay. Do hoàn cảnh lịch sử, điều kiện thiên nhiên đặc biệt, vùng đất này có những sắc thái độc đáo riêng, góp phần tạo nên vẻ đẹp chung của giang sơn gấm vóc Việt Nam.
3557 lượt xem
A NEW JOURNEY FOR THE NATION (EXTERNAL INFORMATION MATERIAL ON THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE PARTY - VOLUME 3)
CENTRAL COMMISSION FOR PROPAGANDA, EDUCATION AND MASS MOBILIZATION

Reflects the proceedings and outcomes of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; key guiding thoughts and strategic orientations of the 14th Congress in the New Era; and affirms the faith and determination of the entire Party, people, and armed forces of Vietnam to successfully implement the Resolution of the 14th National Congress. This document has been meticulously and systematically compiled, featuring deep coverage of key external information themes. It aims to serve as a vital reference for external information work, actively promoting a image of Vietnam as peaceful, independent, self-reliant, cooperative, friendly, prosperous, and happy.

266 lượt xem
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
PGS.TS Trần Thị Minh Tuyết

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

2743 lượt xem
Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn
Hoàng Tuấn Cư, Đỗ Trí Tú

Lễ hội truyền thống là kết tinh của bản sắc văn hóa các dân tộc xứ Lạng, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với sự đa dạng của cộng đồng Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông…, Lạng Sơn hình thành một không gian văn hóa phong phú, trong đó lễ hội giữ vai trò trung tâm, phản ánh toàn diện đời sống xã hội và tinh thần của cư dân bản địa. Trước tác động của hiện đại hóa và công nghệ số, nhu cầu gìn giữ, nghiên cứu và phát huy lễ hội truyền thống càng trở nên cấp thiết, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và cội nguồn cộng đồng. Từ khảo sát thực tiễn và tư liệu nghiên cứu, cuốn sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn” được biên soạn nhằm giới thiệu những giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội người Tày trong bức tranh văn hóa Đông Bắc Việt Nam.

6256 lượt xem
Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn
Nguyễn Thừa Hỷ

Trong những thập kỷ gần đây, trên hành tinh của chúng ta, những thuật ngữ “văn hóa”, “văn minh”, “truyền thống”, “văn hóa truyền thống” đã trở thành những từ khóa phổ biến mang tính thời thượng, được nhiều người quan tâm và nhắc đến trong cuộc sống và các phương tiện truyền thông. Đó là một điều có ý nghĩa và có thể hiểu được. Có lẽ trong cuộc sống thường ngày, chúng ta bị cuốn hút vào vòng xoáy của những lo toan và ganh đua kinh tế, lợi danh, mà đã lãng quên đi hoặc không còn thời giờ để dành cho việc suy nghĩ và chăm sóc đời sống tinh thần. Cái hiện tại cũng đang đè nặng lên những hành xử, choán hết không gian suy tư của con người, không còn chỗ đứng cho những hồi tưởng quá khứ. Mặt khác, nhìn rộng ra trên phạm vi toàn cầu, chúng ta đang đối diện với một thách thức là những va chạm xung đột giữa các nền văn minh, văn hóa đang tồn tại, lúc âm ỉ, khi bột phát. Có lẽ, sở dĩ ý thức được như vậy, mà hiện nay nhân loại đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo và kêu gọi về vấn đề văn hóa. Liên Hợp quốc, tổ chức UNESCO đã phát động Thập kỷ văn hóa, tổ chức năm Đối thoại những nền văn minh, ra nhiều nghị quyết, tuyên ngôn về đa dạng, đa nguyên và khoan dung văn hóa. Văn hóa là một lực lượng tinh thần, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, là ngọn nguồn, xung lực của phát triển xã hội. Tuy nhiên, văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản kìm hãm và phá hoại lịch sử, đời sống con người với những hậu quả và tổn thất khó lường. Ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn và đấu tranh văn hóa. Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng. Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi văn hóa. Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về nền văn hóa Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết. Nền văn hóa truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ? Có lẽ đó là những câu hỏi trăn trở mà người viết cố gắng tiếp cận khi đề ra mục đích khiêm tốn cho cuốn sách “Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn”, mong đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc chung to lớn. Tuy nhiên, gói gọn trong một vài trăm trang sách cả một nền văn hóa có hàng nghìn năm tuổi và trải ra trên một không gian xã hội rộng lớn nhiều vùng miền với nhiều đặc trưng khác biệt, quả thực là một điều không dễ dàng, đúng hơn là quá khó thực hiện. Các bộ thông sử thường ghi chép rất ít những tư liệu đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sách hiến chương và hội điển cũng chỉ cho biết thêm về những điển chế quan phương của nhà nước. Do đó, việc khảo cứu không thể không tìm đến những nguồn tư liệu khác, như văn hóa dân gian, dân tộc học và nhất là nguồn tài liệu thực địa “mắt thấy tai nghe” của những người nước ngoài. Điều “may mắn” là tốc độ chuyển biến của văn hóa truyền thống Việt Nam rất chậm, những hiện tượng văn hóa xảy ra ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể cũng là những hình ảnh gần như trung thực của văn hóa, xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ trước, do đó có thể coi là tư liệu gốc, những thông tin đương đại. Những thông tin này đã được ghi chép trong một số lớn sách báo của những tác giả người Pháp có mặt hoặc đã sống ở Việt Nam lúc bấy giờ. Vì vậy, người đọc sẽ có thể hiểu được và thông cảm vì sao, hình như tác giả cuốn sách có vẻ thiên vị khi sử dụng những tư liệu cổ nhiều hơn kim, trích dẫn những tác giả nước ngoài nhiều hơn các tác giả trong nước. Thực ra, những dữ kiện về văn hóa truyền thống của các tác giả lớn như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên là những tư liệu cơ bản rất quý báu mà người viết cố gắng khai thác, tận dụng. Tuy nhiên, để tôn trọng tính đương thời nguyên dạng, những tư liệu đương đại - được hiểu là từ sau năm 1945 - của các tác giả trong nước và nước ngoài đã được sử dụng và trích dẫn ở mức độ hạn chế, trừ khi cần nêu lên những luận điểm kiến giải. Sau khi cung cấp những thông tin - đôi khi rất quen thuộc, bình thường đối với lớp người lớn tuổi, nhưng chưa chắc các bạn trẻ đã hiểu biết cặn kẽ, việc khó khăn hơn là tổng hợp, phân tích, đánh giá. Chúng tôi cố gắng thoát khỏi những định kiến giáo điều trong việc khen chê. Một hiện tượng có thể là tích cực về mặt này, ở thời điểm này, nhưng rất có thể lại trở thành tiêu cực ở khía cạnh khác, trong thời điểm khác và ngược lại. Bản thân một sự kiện văn hóa nhiều khi cũng mang tính hai mặt. Văn hóa Việt Nam truyền thống càng không phải là một khối đơn nguyên, thuần nhất, mà là một cấu trúc lai tạo, lưỡng nguyên đối trọng. Chúng tôi cho rằng việc có khen có chê không phải là một thái độ chiết trung thiếu ý kiến rõ ràng, mà là một phong cách tư duy phức hợp, khai mở, khoa học và biện chứng của những người làm công tác nghiên cứu hiện đại.

5520 lượt xem
Đời sống dân gian trong hoạt động ở Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
TS. Phạm Lan Hương, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách Đời sống dân gian trong hoạt động bảo tàng - Nghiên cứu trường hợp Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh tập trung khảo sát đời sống dân gian tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh (trước khi sáp nhập) thông qua hoạt động trưng bày nghề thủ công truyền thống. Cuốn sách hướng đến việc tiếp cận bảo tàng dưới góc độ nghiên cứu văn hóa, từ đó làm rõ ý nghĩa của các hoạt động và nội dung trưng bày trong bảo tàng. Thông qua câu chuyện về trưng bày nghề thủ công truyền thống, công trình phác họa bức tranh xã hội trong quá trình chuyển đổi. Nói cách khác, tập sách mong muốn cung cấp thêm một nghiên cứu trường hợp về tính chính trị trong văn hóa, cụ thể là tính chính trị của bảo tàng, thông qua các khía cạnh văn hóa được thể hiện trong trưng bày đời sống dân gian.

476 lượt xem
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc (bản rút gọn)
TS. Trần Thị Thủy (Chủ biên)

Cuốn sách Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc gắn bảo tồn văn hóa tộc người với phát triển du lịch cộng đồng ở các địa bàn tiêu biểu như Mai Châu, Mộc Châu và Sa Pa. Dựa trên kết quả nghiên cứu và điền dã thực địa, sách đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa vùng cao.

771 lượt xem
Cộng đồng tộc người ở các tỉnh ven biển và miền Trung
Chu Thái Sơn

Cuốn sách giới thiệu khái quát những nét chính về 12 cộng đồng tộc người sinh sống ở các tỉnh ven biển và miền Trung, bao gồm: Lược sử tộc người, Cuộc mưu sinh, Tập quán sinh hoạt, Phong tục cổ truyền, Đời sống tâm linh và Văn học - nghệ thuật dân gian. Trong đó có 6 tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khmer, 2 tộc người nói ngôn ngữ Nam Đảo, 2 tộc người nói ngôn ngữ Việt - Mường và 2 tộc người nói ngôn ngữ Hán Quảng Đông. Diện mạo này cho thấy khu vực ven biển Đông thuộc lãnh thổ Việt Nam là một vùng hỗn cư, gồm những nhóm tộc người thuộc 4 thành phần ngôn ngữ khác nhau vì ven biển là nơi cửa mở.

Những tộc người này được sắp xếp, bố cục trước - sau, trên - dưới theo thứ tự dựa vào kết quả của cuộc Tổng điều tra về dân số và nhà ở năm 2019 do Tổng cục Thống kê công bố.

1474 lượt xem
Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) - Tập 2
PGS. TS. Nguyễn Thừa Hỷ

Tuyển tập Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) bao gồm 17 nghiên cứu được PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ thực hiện và công bố trong gần 50 năm. Các công trình này thuộc nhiều chủ đề, nội dung, lĩnh vực khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự thời gian công bố lần đầu. Qua tuyển tập này, bạn đọc có thể thấy rõ quá trình tìm hiểu, suy tư, cũng như những biến chuyển trong nhận thức và tư duy của tác giả về các vấn đề văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời thấy được những nỗ lực không ngừng và vượt bậc góp phần cung cấp một cách tiếp cận về phức hợp văn hóa Việt của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ.

Trong lần xuất bản năm 2026, hưởng ứng tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông tổ chức xuất bản tuyển tập dưới dạng sách điện tử và tách thành hai tập để thuận tiện cho việc tra cứu, tiếp cận và khai thác nội dung, qua đó tạo điều kiện để tác phẩm đến với đông đảo độc giả trong và ngoài nước.

Nhà xuất bản tôn trọng và giữ nguyên giá trị của các ấn bản gốc trong quá trình số hóa và xuất bản. Nội dung các bài viết được bảo đảm tính nguyên bản, phản ánh trung thực tư liệu và bối cảnh nghiên cứu của từng thời kỳ. Để hỗ trợ bạn đọc thuận tiện hơn trong quá trình tiếp cận và tra cứu, Nhà xuất bản có bổ sung chú thích, chỉnh lý kỹ thuật và hiệu chỉnh một số chi tiết nhỏ về hình thức trình bày cho phù hợp với quy chuẩn hiện nay; đồng thời giữ nguyên tên gọi các địa danh, đơn vị hành chính theo thời điểm khảo sát và công bố của tác giả nhằm bảo đảm tính lịch sử và giá trị tư liệu của công trình.

Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình biên tập và xuất bản, ấn phẩm khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn đọc để các lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn. Hơn hết cả, chúng tôi trân trọng giới thiệu tới những người yêu quý, quan tâm đến lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam một công trình nghiên cứu tâm huyết và giàu giá trị tham khảo về văn hóa và hội nhập.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

NHÀ XUẤT BẢN

KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ -TRUYỀN THÔNG

459 lượt xem
Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) - Tập 1
PGS. TS. Nguyễn Thừa Hỷ

Tuyển tập Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) bao gồm 17 nghiên cứu được PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ thực hiện và công bố trong gần 50 năm. Các công trình này thuộc nhiều chủ đề, nội dung, lĩnh vực khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự thời gian công bố lần đầu. Qua tuyển tập này, bạn đọc có thể thấy rõ quá trình tìm hiểu, suy tư, cũng như những biến chuyển trong nhận thức và tư duy của tác giả về các vấn đề văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời thấy được những nỗ lực không ngừng và vượt bậc góp phần cung cấp một cách tiếp cận về phức hợp văn hóa Việt của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ.

Trong lần xuất bản năm 2026, hưởng ứng tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông tổ chức xuất bản tuyển tập dưới dạng sách điện tử và tách thành hai tập để thuận tiện cho việc tra cứu, tiếp cận và khai thác nội dung, qua đó tạo điều kiện để tác phẩm đến với đông đảo độc giả trong và ngoài nước.

Nhà xuất bản tôn trọng và giữ nguyên giá trị của các ấn bản gốc trong quá trình số hóa và xuất bản. Nội dung các bài viết được bảo đảm tính nguyên bản, phản ánh trung thực tư liệu và bối cảnh nghiên cứu của từng thời kỳ. Để hỗ trợ bạn đọc thuận tiện hơn trong quá trình tiếp cận và tra cứu, Nhà xuất bản có bổ sung chú thích, chỉnh lý kỹ thuật và hiệu chỉnh một số chi tiết nhỏ về hình thức trình bày cho phù hợp với quy chuẩn hiện nay; đồng thời giữ nguyên tên gọi các địa danh, đơn vị hành chính theo thời điểm khảo sát và công bố của tác giả nhằm bảo đảm tính lịch sử và giá trị tư liệu của công trình.

Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình biên tập và xuất bản, ấn phẩm khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn đọc để các lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn. Hơn hết cả, chúng tôi trân trọng giới thiệu tới những người yêu quý, quan tâm đến lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam một công trình nghiên cứu tâm huyết và giàu giá trị tham khảo về văn hóa và hội nhập.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

NHÀ XUẤT BẢN

KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ -TRUYỀN THÔNG

537 lượt xem
Ngôn ngữ - Văn hóa Thăng Long Hà Nội 1000 năm
Hội ngôn ngữ học Hà Nội
Tiếng của người Hà Nội, nếu nhìn ở bình diện ngôn ngữ thuần tuý thì cũng giống như tiếng của các vùng miền khác trên đất nước Việt Nam, thuộc một phương ngữ của tiếng Việt. Nhưng, xét từ góc độ chức năng xã hội, tiếng Hà Nội có một vị thế vô cùng quan trọng: là tiếng nói của Thủ đô ngàn năm văn hiến, và, có thể coi là một phần cơ sở của tiếng Việt tiêu chuẩn. Với những đặc thù của Thủ đô nên tiếng Hà Nội là một khái niệm không dễ xác định. Những biến động của lịch sử - chính trị - kinh tế - xã hội -văn hóa của Thủ đô nói riêng và Việt Nam nói chung đã và đang tác động đến cấu trúc cũng như chức năng của tiếng Hà Nội. Nếu như coi ngôn ngữ vừa là sản phẩm đồng thời là yếu tố, phương tiện của văn hoá, thì, tiếng Hà Nội là tấm gương phản ánh văn hóa Hà Nội và việc sử dụng ngôn ngữ của người Hà Nội là biểu hiện cụ thể, sinh động văn hóa của người Hà Nội. Tiếng Hà Nội nếu được nghiên cứu trong mối quan hệ với văn hóa và nhìn từ góc độ ngôn ngữ văn hóa sẽ góp phần làm phong phú hơn những vấn đề về lí thuyết ngôn ngữ học, về tiếng Việt, như khái niệm phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân, chuẩn với biến thể… Đồng thời, việc nghiên cứu tiếng Hà Nội sẽ góp thêm tiếng nói vào nghiên cứu các vấn đề về Thăng Long - Hà Nội, nhất là lịch sử Hà Nội, khẳng định nền văn hiến Hà Nội khi Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội đang tới gần. Ngôn ngữ là một bộ phận cấu thành và luôn gắn bó khăng khít với nền văn hóa dân tộc. Những nhân tố văn hóa xã hội để lại dấu ấn trong ngôn ngữ, những trầm tích văn hóa đã, đang và sẽ được phát hiện qua những di tích ngôn ngữ văn hóa trên mảnh đất Thăng Long xưa và Hà Nội ngày nay là những cứ liệu văn hóa quý báu góp phần làm sáng tỏ những sự kiện lịch sử, sự tồn tại và phát triển của Thăng Long - Hà Nội trong dòng chảy 1000 năm qua. Cuốn sách Ngôn ngữ văn hóa Thăng Long - Hà Nội 1000 năm là tập hợp những bài viết của nhiều tác giả với mong muốn tôn lên vẻ đẹp nền văn hiến Thăng Long - Hà Nội của nước Đại Việt xưa từ góc nhìn ngôn ngữ văn hoá. Hội Ngôn ngữ học Hà Nội đã thành lập Hội đồng biên tập cuốn sách gồm các vị sau đây: PGS. TS. Nguyễn Xuân Hòa, GS. TS. Trần Trí Dõi, GS. TS. Nguyễn Văn Khang, TS. Phạm Đăng Bình, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn.
2102 lượt xem