Văn hóa - Xã hội
Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) - Tập 1
PGS. TS. Nguyễn Thừa Hỷ

Tuyển tập Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) bao gồm 17 nghiên cứu được PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ thực hiện và công bố trong gần 50 năm. Các công trình này thuộc nhiều chủ đề, nội dung, lĩnh vực khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự thời gian công bố lần đầu. Qua tuyển tập này, bạn đọc có thể thấy rõ quá trình tìm hiểu, suy tư, cũng như những biến chuyển trong nhận thức và tư duy của tác giả về các vấn đề văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời thấy được những nỗ lực không ngừng và vượt bậc góp phần cung cấp một cách tiếp cận về phức hợp văn hóa Việt của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ.

Trong lần xuất bản năm 2026, hưởng ứng tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông tổ chức xuất bản tuyển tập dưới dạng sách điện tử và tách thành hai tập để thuận tiện cho việc tra cứu, tiếp cận và khai thác nội dung, qua đó tạo điều kiện để tác phẩm đến với đông đảo độc giả trong và ngoài nước.

Nhà xuất bản tôn trọng và giữ nguyên giá trị của các ấn bản gốc trong quá trình số hóa và xuất bản. Nội dung các bài viết được bảo đảm tính nguyên bản, phản ánh trung thực tư liệu và bối cảnh nghiên cứu của từng thời kỳ. Để hỗ trợ bạn đọc thuận tiện hơn trong quá trình tiếp cận và tra cứu, Nhà xuất bản có bổ sung chú thích, chỉnh lý kỹ thuật và hiệu chỉnh một số chi tiết nhỏ về hình thức trình bày cho phù hợp với quy chuẩn hiện nay; đồng thời giữ nguyên tên gọi các địa danh, đơn vị hành chính theo thời điểm khảo sát và công bố của tác giả nhằm bảo đảm tính lịch sử và giá trị tư liệu của công trình.

Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình biên tập và xuất bản, ấn phẩm khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn đọc để các lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn. Hơn hết cả, chúng tôi trân trọng giới thiệu tới những người yêu quý, quan tâm đến lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam một công trình nghiên cứu tâm huyết và giàu giá trị tham khảo về văn hóa và hội nhập.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

NHÀ XUẤT BẢN

KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ -TRUYỀN THÔNG

506 lượt xem
ບັນັນດາບົດົດເລື່ອື່ອງ ກຽ່ຽ່ ວກບັບັ ສາຍພວົວົ ພນັນັ ມິດິດິດຕະພາບ ຄວາມສາມກັກັ ຄ ີ ລະຫວາ່າ່ ງ ຫວຽດນາມ - ລາວ (Những câu chuyện về tình đoàn kết hữu nghị Việt - Lào)
ຮ່າຫງວຽນ

ປີ 2017 ເປັນປີທີ່ມີຄວາມຫມາຍສຳ¬ຄັນພິ¬ເສດໃນການພົວ¬ພັນດ້ານການທູດລະ¬ຫວ່າງ ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ ເມືອງສອງປະ¬ເທດລະນືກຄົບ¬ຮອບ 40 ປີ ແຫ່ງການເຊັນສົນ¬ທິ-ສັນ¬ຍາ ມີດຕະພາບ ແລະ ຮ່ວມມື ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ (18 ກໍ¬ລະ¬ກົດ ປີ 2017). ແລະ 55 ປີ ແຫ່ງການສະ¬ຖາ¬ປະ¬ນາຄວາມສຳ¬ພັນທາງການທູດຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ (05 ກັນ-ຍາປີ 1962 - 05 ກັນ¬ຍາປີ 2017). ໂດຍໄດ້ຮັບຄວາມເຫັນດີຈາກການນຳຂອງກະ-ຊວງຖະ¬ແຫຼງຂ່າວ ແລະ ການສ່ືສານ, ສຳ¬ນັກພິມຈຳ¬ຫນ່າຍຖະ¬ແຫຼງຂ່າ ແລະ ການສ່ືສານສົມ¬ທົບກັບຜູ້ຊ່ຽວ¬ຊານ ຈັດຕັ້ງການຮຽບ¬ຮຽງ ແລະ ພິມຈຳ¬ຫນ່າຍປືມ 11 ຫົວເພ່ືອເປັນການລະນືກ ການພົວ¬ພັນ ທາງການທູດຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ. ໃນປີ 2018, ໂດຍແນ¬ໃສ່ສືບ¬ຕໍ່ຢືນ¬ຢັນ ແລະ ໂຄ¬ສະ¬ນາຢ່າງ ກວ້າງ¬ຂວາງ ແລະ ເລິກ¬ເຊິ່ງກວ່າອີກກ່ຽວກັບ ການພົວ¬ພັນອັນຈົບ¬ງາມລະ¬ຫວ່າງ ສອງປະ¬ເທດ, ສອງຊາດ. ສຳໜັກພິມກະຊວງຖະແຫຼງຂ່າວ ແລະ ກາຈສື່ສານໄດ້ເລືອກປື້ມຈຳນວນ 8 ຫົວເພື່ອແປ ແລະ ພິມຈຳໜ່າຍເປັນພາສາລາວ, ນັ້ນກໍ່ຄື: 1- ບາດ¬ກ້າວຕ່າງໆໃນວັນ¬ນະ¬ຄະ¬ດີ ທີ່ຢັ້ງ¬ຢືນເຖິງຄວາມເປັນເອ¬ກະ¬ລາດຂອງບັນ-ດາ¬ເຜົ່າໃນ ລາວ ແລະ ຫວຽດ¬ນາມ. 2- ສາຍພົວ¬ພັນພິ¬ເສດ, ການຮ່ວມມືຮອບ¬ດ້ານ ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ ໃນໄລ¬ຍະປີ 1954-2017. 3- ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ: ສາຍພົວ¬ພັນທີ່ສະ¬ໜິດ¬ສະ¬ໜົມຕະ¬ຫຼອດໄລ¬ຍະເວ¬ລາຜ່ານມາ (ມີຫຼາຍຈຸດທີ່ຄ້າຍ¬ຄືກັນທາງດ້ານການ¬ເມືອງ, ປະ¬ຫວັດ¬ສາດ, ວັດ¬ທະ¬ນະ¬ທຳມາເເຕ່ບູ¬ຮານນະການຈົນເຖິງປັດ¬ຈຸ¬ບັນ). 4- 55 ປີ ສາຍພົວ¬ພັນທາງດ້ານການທູດລະ¬ຫວ່າງ ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ, ຫວນຄືນ ເເລະ ກ້າວເຂົ້າສູ່ອະ¬ນາ¬ຄົດໃນຕໍ່ໜ້າ. 5- ບັນ¬ດາບົດເລື່ອງກ່ຽວກັບສາຍພົວ¬ພັນ ຄວາມສາ¬ມັກ¬ຄີ ມິດ¬ຕະ¬ພາບ ລະ¬ຫວ່າງຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ. 6- ຄວາມຄ້າຍ¬ຄືກັນທາງດ້ານທິດສະດີ ວັດ¬ທະ¬ນະ¬ທຳທ້ອງ¬ຖິ່ນ ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ. 7- ປຽບ¬ທຽບ ຄຳສຸ¬ພາ¬ສິດລາວ ກັບຄຳພະຫຍາຫວຽດ¬ນາມ. 8- ຮຽນຮູ້ວັດ¬ທະ¬ນາທຳ - ປະ¬ຫວັດ¬ສາດລາວ. ເນື້ອໃນຂອງປື້ມເລົ່ານີ້ຈະສະ¬ເຫນີຂໍ້ມູນພື້ນ¬ຖານກ່ຽວກັບປະ¬ເທດຊາດ ແລະ ຄົນລາວ. ກ່ຽວກັບສີ່ງທີ່ເດັ່ນຕ່າງໆຂອງປະ¬ເທດລ້ານຊ້າງ ໂດຍຜ່ານຂົງ¬ເຂດປະ¬ຫວັດ¬ສາດ, ການ ທະຫານ. ການ¬ເມືອງ, ເສດ¬ຖະ¬ກິດ, ວັດ¬ທະ¬ນະທຳ-ສັງຄົມ. ໄປພ້ອມໃນທ່າສົມທຽບກັບ.

2369 lượt xem
Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc
Trung tâm nghiên cứu phát triển Vùng

Ngọc Lặc là huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy, Bá Thước; phía Nam giáp huyện Thọ Xuân, Thường Xuân; phía Tây giáp huyện Lang Chánh; phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Yên Định.

Ngọc Lặc từ xa xưa đã giữ một vị trí địa lý khá đặc biệt. Đối với nội tỉnh Thanh Hóa, Ngọc Lặc là vùng đất cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa vùng miền núi với các huyện đồng bằng của tỉnh. Đối với bên ngoài tỉnh, Ngọc Lặc có tính chất mở ra với các địa phương khác trong nước. Vị trí địa lý của Ngọc Lặc ngày càng phát huy giá trị của một vùng đất mang tính cởi mở tạo nên thế và lực cho huyện trong thời kỳ hợp tác và phát triển.

Ngọc Lặc có diện tích tự nhiên 49.092,4 ha; có 21 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm Thị trấn Ngọc Lặc (huyện lỵ) và 20 xã: Cao Ngọc, Cao Thịnh, Đồng Thịnh, Kiên Thọ, Lam Sơn, Lộc Thịnh, Minh Sơn, Minh Tiến, Mỹ Tân, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Trung, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Quang Trung, Thạch Lập, Thúy Sơn, Vân Am.

Ngọc Lặc là nơi có một lịch sử cư trú lâu đời của các dân tộc: Mường, Kinh (Việt), Dao, Thái. Tính đến ngày 31/12/2023, dân số của Ngọc Lặc là 35.137 hộ. Trong đó, người Mường có 25.295 hộ, chiếm hơn 70% dân số toàn huyện. Người Kinh có 9.209 hộ, chiếm 28% dân số toàn huyện. Người Dao, người Thái và các dân tộc khác chiếm khoảng gần 2% dân số toàn huyện.

Ở Ngọc Lặc, người Mường có mặt khắp nơi trong huyện, đông nhất là ở các xã: Thạch Lập, Nguyệt Ấn, Vân Am, Thúy Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Mỹ Tân, Cao Ngọc, Quang Trung, Đồng Thịnh, Lộc Thịnh, Ngọc Trung, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Minh Tiến, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Cao Thịnh và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Kinh có số dân đông ở các xã: Lam Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Ngọc Liên, Cao Thịnh, Minh Tiến và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Dao tập trung tại làng Tân Thành thuộc xã Thạch Lập, làng Hạ Sơn thuộc thị trấn Ngọc Lặc và làng Phùng Sơn thuộc xã Phùng Giáo. Người Thái cư trú tại xã Phùng Minh, Phúc Thịnh.

Các dân tộc ở Ngọc Lặc cư trú và sinh sống với nhau hòa hợp. Người Mường có mặt trên đất Ngọc Lặc từ rất lâu đời. Huyền thoại về vùng đất cho biết các Mường như Mường Rặc (nay thuộc xã Quang Trung, Ngọc Liên, và một phần xã Ngọc Sơn), Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Chẹ (nay thuộc xã Cao Ngọc, Mỹ Tân); Mường Lập, Mường Yến (nay thuộc xã Thạch Lập); Mường Tạ (nay thuộc xã Thúy Sơn và một phần của xã Thạch Lập); Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Ngòn (nay thuộc xã Ngọc Khê); Mường Ứn; Mường Bằng (nay thuộc xã Kiên Thọ, Nguyệt Ấn); Mường Um (nay thuộc xã Vân Am) là các Mường cổ trong vùng. Từ đó, đã hình thành nên những lớp di sản văn hóa dân gian Mường phong phú, có nét sắc thái riêng, biểu hiện rõ nét trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục, lễ hội và nguồn tri thức dân gian, kiến tạo nên bản sắc vùng đất Ngọc Lặc với nền tảng văn hóa Mường sâu đậm. Và nét đặc trưng dễ nhận thấy nhất là không gian sinh sống của người Mường với kiến trúc ngôi nhà sàn truyền thống. Trên địa bàn huyện hiện có gần một nghìn ngôi nhà sàn, trong đó, tập trung nhiều nhất là làng Lập Thắng, xã Thạch Lập. Lập Thắng là làng văn hóa du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Mường.

Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, vùng đất Ngọc Lặc có địa thế chiến lược trọng yếu, là căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược. Vì thế Ngọc Lặc là vùng đất có mật độ cao về các di tích lịch sử, văn hóa: Đền thờ Trung túc vương Lê Lai, Đền Lai, Đền Lê Lâm, Đền Mỹ Lâm, Đền Cao, Đền Chẹ, Đền Cọn, Đền Riếng, Đền Bà Chúa Chầm, Thiền tự Trúc Lâm - Bàn Bù. Các di tích lịch sử, văn hóa này đều gắn với các lễ hội truyền thống có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng các dân tộc ở Ngọc Lặc và các vùng phụ cận.

Trên cơ sở tính đặc sắc của tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa, Ngọc Lặc có đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch: Du lịch cộng đồng, Du lịch sinh thái, Du lịch văn hóa, Du lịch tâm linh, Du lịch nghỉ dưỡng, Du lịch nông thôn, đưa du lịch trở thành một ngành, một thành phần kinh tế quan trọng của địa phương. Du lịch là ngành định hướng tài nguyên rất rõ nét, vì vậy, việc biên soạn sách Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc có ý nghĩa quan trọng, nhận diện các giá trị văn hóa truyền thống và giá trị tự nhiên có thể khai thác phát triển thành sản phẩm du lịch, đồng thời quảng bá, giới thiệu về tài nguyên du lịch Ngọc Lặc, nhằm đưa các di tích lịch sử, văn hóa trở thành các điểm đến, cùng các giá trị văn hóa đặc sắc trở thành các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn đối với du khách khi đến Ngọc Lặc.

2990 lượt xem
Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn những bài học kinh nghiệm chủ yếu
GS.TS. Lê Hữu Tầng

Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một công trình nghiên cứu công phu, mang tính hệ thống và khái quát, có những kiến giải mới, góp phần làm sáng tỏ một phương diện của chủ nghĩa xã hội hiện còn ít được nghiên cứu - phương diện chủ nghĩa xã hội đi từ lý luận đến thực tiễn, từ đó rút ra một số bài học kinh nghệm bổ ích cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhân dân ta đang tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2909 lượt xem
A NEW JOURNEY FOR THE NATION (EXTERNAL INFORMATION MATERIAL ON THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE PARTY - VOLUME 3)
CENTRAL COMMISSION FOR PROPAGANDA, EDUCATION AND MASS MOBILIZATION

Reflects the proceedings and outcomes of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; key guiding thoughts and strategic orientations of the 14th Congress in the New Era; and affirms the faith and determination of the entire Party, people, and armed forces of Vietnam to successfully implement the Resolution of the 14th National Congress. This document has been meticulously and systematically compiled, featuring deep coverage of key external information themes. It aims to serve as a vital reference for external information work, actively promoting a image of Vietnam as peaceful, independent, self-reliant, cooperative, friendly, prosperous, and happy.

178 lượt xem
 НОВЫЙ ПУТЬ ДЛЯ НАЦИИ (ИНФОРМАЦИОННЫЕ МАТЕРИАЛЫ ДЛЯ ВНЕШНЕПОЛИТИЧЕСКОЙ ПРОПАГАНДЫ О XIV СЪЕЗДЕ КПВ –  ТОМ 3)
ЦЕНТРАЛЬНЫЙ ОТДЕЛ ПРОПАГАНДЫ, ВОСПИТАНИЯ И ПО РАБОТЕ С НАСЕЛЕНИЕМ

«Новый путь нации»: отражение хода и итогов XIV съезда Коммунистической партии Вьетнама; ключевых идей и стратегических ориентиров XIV съезда в Новую эпоху; утверждение веры и решимости всей партии, всего народа и всей армии Вьетнама в успешной реализации Резолюции XIV съезда. Материал собран тщательно и системно, в нем глубоко затронуты вопросы внешней информации в надежде на то, что это издание станет важным документом для работы в области внешнеинформационной деятельности, способствующим мощному распространению образа Вьетнама как страны мира, независимости, самостоятельности, сотрудничества, дружбы, развития, процветания и счастья.

162 lượt xem
Trường học Hà Nội xưa
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Trong tấm bia Tiến sĩ đầu tiên được dựng lên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám ghi chép tên tuổi, quê quán những Tiến sĩ Nho học thi đỗ trong khoa thi năm 1442, bài ký do Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung soạn có câu: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy, cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo xây dựng nhân tài”. Đây được xem như tuyên ngôn về giáo dục Nho học của các vương triều phong kiến Việt Nam nói riêng, của nền giáo dục đào tạo Việt Nam nói chung qua các thời kỳ lịch sử. Muốn có nhân tài để dựng nước và giữ nước thì phải giáo dục, đào tạo. Việc giáo dục, đào tạo nhân tài được thực hiện bởi các trường học, từ trường học của quốc gia, trường học ở địa phương, cho đến những ngôi trường tư thục do các thầy giáo tự lập ra để đào luyện con người. Thăng Long - Hà Nội nghìn năm qua nổi tiếng là mảnh đất thiêng của nền giáo dục Việt Nam. Nơi đây có Quốc Tử Giám Thăng Long - trường đại học sớm nhất và lớn nhất của quốc gia Đại Việt thời trung đại. Nơi đây có trường Đông Kinh nghĩa thục - ngọn cờ đầu của nền tân học Việt Nam thời cận đại. Nơi đây có nhiều ngôi trường tư thục nổi tiếng của các danh sĩ nối tiếp nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Văn hiến Thăng Long - Hà Nội thể hiện trước hết và hơn hết, là sự tụ hội, thăng hoa và tỏa rạng trong suốt nghìn năm qua, là nơi biểu tượng bền bỉ bậc nhất của nền học vấn: các ngôi trường học xưa trên đất Thăng Long - Hà Nội.
3246 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng
Hà Nguyễn

Cuốn sách giới thiệu một cách khái quát và hệ thống về tiểu vùng văn hóa xứ Quảng, bao gồm khu vực Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi. Tác phẩm được biên soạn theo hướng phổ biến kiến thức văn hóa, giúp người đọc tiếp cận những thành tựu nghiên cứu về văn hóa vùng từ góc nhìn địa – văn hóa một cách dễ hiểu và gần gũi.

Nội dung sách tập trung làm rõ quá trình hình thành và phát triển của xứ Quảng, những đặc trưng về con người, đời sống kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học nghệ thuật và các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu của vùng đất này. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh vai trò của nhiều thế hệ cư dân trên vùng đất Quảng trong việc tạo dựng nên bản sắc văn hóa riêng, giàu truyền thống nhưng cũng năng động, cởi mở và giàu sức sáng tạo.

Bên cạnh việc trình bày lịch sử văn hóa, sách còn giới thiệu hệ thống di sản văn hóa của xứ Quảng như các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình kiến trúc và những giá trị văn hóa đặc sắc đã góp phần tạo nên diện mạo riêng của vùng đất này trong tổng thể văn hóa Việt Nam.

Với văn phong giản dị, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách kể chuyện văn hóa hấp dẫn, cùng hệ thống hình ảnh minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa xứ Quảng và vị trí của tiểu vùng này trong không gian văn hóa Việt Nam.

618 lượt xem
Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam
PGS. TS Phạm Duy Đức - PGS. TS Vũ Thị Phương Hậu (Đồng chủ biên)

Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam

5928 lượt xem
Tiếp tục đổi mới lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới (Sách chuyên khảo)
Nguyễn Viết Thảo

Tiếp tục đổi mới lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới (Sách chuyên khảo)

1965 lượt xem
Hanoi Architectural works
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Hanoi is a convergence of cultural thousand-year cream, a harmony of a great many of cultures. The secluded and quiet, thoughtful appearance of the shadow of Tran Quoc Pagoda reflecting in the West Lake; The pretty small roofs layer upon layer in the Old Quarter, the ancient mossy walls of the Cathedral, the portly majestic appearance of the dome of Opera House; the mannered pure Lotus next to the national great man located in the middle of the heart of the capital; The winding waves on the roof of the National Convention Center... that has become a symbol of the capital beauty. Here is the traditional oriental architectural manner of the houses, the roofs of communal houses in Hanoi. Here is European sources in the French architectures were designed and built by the very French architects. Here is the latest achievements of modern architectural science are artifacted by the very working hands and minds of the new people in new era. Each figure has represented a historic period of construction and development progress of Thang Long - Hanoi during the thousands of years. But, miraculously, all of these turn up simultaneously every morning when the city wakes up suddenly, and along with the people here create fresh new lives and honor the creative labored hands that has built up the beautiful architectures of the city.
1502 lượt xem
Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn
Nguyễn Thừa Hỷ

Trong những thập kỷ gần đây, trên hành tinh của chúng ta, những thuật ngữ “văn hóa”, “văn minh”, “truyền thống”, “văn hóa truyền thống” đã trở thành những từ khóa phổ biến mang tính thời thượng, được nhiều người quan tâm và nhắc đến trong cuộc sống và các phương tiện truyền thông. Đó là một điều có ý nghĩa và có thể hiểu được. Có lẽ trong cuộc sống thường ngày, chúng ta bị cuốn hút vào vòng xoáy của những lo toan và ganh đua kinh tế, lợi danh, mà đã lãng quên đi hoặc không còn thời giờ để dành cho việc suy nghĩ và chăm sóc đời sống tinh thần. Cái hiện tại cũng đang đè nặng lên những hành xử, choán hết không gian suy tư của con người, không còn chỗ đứng cho những hồi tưởng quá khứ. Mặt khác, nhìn rộng ra trên phạm vi toàn cầu, chúng ta đang đối diện với một thách thức là những va chạm xung đột giữa các nền văn minh, văn hóa đang tồn tại, lúc âm ỉ, khi bột phát. Có lẽ, sở dĩ ý thức được như vậy, mà hiện nay nhân loại đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo và kêu gọi về vấn đề văn hóa. Liên Hợp quốc, tổ chức UNESCO đã phát động Thập kỷ văn hóa, tổ chức năm Đối thoại những nền văn minh, ra nhiều nghị quyết, tuyên ngôn về đa dạng, đa nguyên và khoan dung văn hóa. Văn hóa là một lực lượng tinh thần, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, là ngọn nguồn, xung lực của phát triển xã hội. Tuy nhiên, văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản kìm hãm và phá hoại lịch sử, đời sống con người với những hậu quả và tổn thất khó lường. Ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn và đấu tranh văn hóa. Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng. Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi văn hóa. Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về nền văn hóa Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết. Nền văn hóa truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ? Có lẽ đó là những câu hỏi trăn trở mà người viết cố gắng tiếp cận khi đề ra mục đích khiêm tốn cho cuốn sách “Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn”, mong đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc chung to lớn. Tuy nhiên, gói gọn trong một vài trăm trang sách cả một nền văn hóa có hàng nghìn năm tuổi và trải ra trên một không gian xã hội rộng lớn nhiều vùng miền với nhiều đặc trưng khác biệt, quả thực là một điều không dễ dàng, đúng hơn là quá khó thực hiện. Các bộ thông sử thường ghi chép rất ít những tư liệu đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sách hiến chương và hội điển cũng chỉ cho biết thêm về những điển chế quan phương của nhà nước. Do đó, việc khảo cứu không thể không tìm đến những nguồn tư liệu khác, như văn hóa dân gian, dân tộc học và nhất là nguồn tài liệu thực địa “mắt thấy tai nghe” của những người nước ngoài. Điều “may mắn” là tốc độ chuyển biến của văn hóa truyền thống Việt Nam rất chậm, những hiện tượng văn hóa xảy ra ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể cũng là những hình ảnh gần như trung thực của văn hóa, xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ trước, do đó có thể coi là tư liệu gốc, những thông tin đương đại. Những thông tin này đã được ghi chép trong một số lớn sách báo của những tác giả người Pháp có mặt hoặc đã sống ở Việt Nam lúc bấy giờ. Vì vậy, người đọc sẽ có thể hiểu được và thông cảm vì sao, hình như tác giả cuốn sách có vẻ thiên vị khi sử dụng những tư liệu cổ nhiều hơn kim, trích dẫn những tác giả nước ngoài nhiều hơn các tác giả trong nước. Thực ra, những dữ kiện về văn hóa truyền thống của các tác giả lớn như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên là những tư liệu cơ bản rất quý báu mà người viết cố gắng khai thác, tận dụng. Tuy nhiên, để tôn trọng tính đương thời nguyên dạng, những tư liệu đương đại - được hiểu là từ sau năm 1945 - của các tác giả trong nước và nước ngoài đã được sử dụng và trích dẫn ở mức độ hạn chế, trừ khi cần nêu lên những luận điểm kiến giải. Sau khi cung cấp những thông tin - đôi khi rất quen thuộc, bình thường đối với lớp người lớn tuổi, nhưng chưa chắc các bạn trẻ đã hiểu biết cặn kẽ, việc khó khăn hơn là tổng hợp, phân tích, đánh giá. Chúng tôi cố gắng thoát khỏi những định kiến giáo điều trong việc khen chê. Một hiện tượng có thể là tích cực về mặt này, ở thời điểm này, nhưng rất có thể lại trở thành tiêu cực ở khía cạnh khác, trong thời điểm khác và ngược lại. Bản thân một sự kiện văn hóa nhiều khi cũng mang tính hai mặt. Văn hóa Việt Nam truyền thống càng không phải là một khối đơn nguyên, thuần nhất, mà là một cấu trúc lai tạo, lưỡng nguyên đối trọng. Chúng tôi cho rằng việc có khen có chê không phải là một thái độ chiết trung thiếu ý kiến rõ ràng, mà là một phong cách tư duy phức hợp, khai mở, khoa học và biện chứng của những người làm công tác nghiên cứu hiện đại.

5495 lượt xem
Quản lý văn hóa, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
PGS.TS. Huỳnh Quốc Thắng, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách là tài liệu nhằm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở bậc đại học, sau đại học trong lĩnh vực quản lý văn hóa. Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận văn hóa học, khoa học quản lý và thực tiễn quản lý văn hóa ở Việt Nam, cuốn sách hệ thống hóa những vấn đề nền tảng về quản lý văn hóa, làm rõ bản chất, mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp và các kỹ năng cần thiết của người làm công tác quản lý, đồng thời phân tích những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và chuyển đổi xã hội. Với cách tiếp cận gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn, đặc biệt qua các nghiên cứu trường hợp, tác phẩm cung cấp cơ sở khoa học, kinh nghiệm quản lý và định hướng vận dụng vào các lĩnh vực hoạt động văn hóa cụ thể. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị đối với giảng viên, sinh viên, học viên sau đại học, nhà nghiên cứu cũng như đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa trong quá trình hoạch định chính sách, tổ chức và phát triển đời sống văn hóa ở Việt Nam.

837 lượt xem
Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Thủ đô Hà Nội là trung tâm của cả nước, nơi hội tụ tinh hoa văn hoá dân tộc. Ít có nơi nào lưu giữ được nhiều chứng tích lịch sử như thành phố Hà Nội. Nơi đây, mỗi địa danh, mỗi đường phố đều gắn với các sự tích, chiến công của ông cha. Những địa danh như Cổ Loa, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình... chứa đựng những dấu ấn, ghi nhớ những chặng đường lịch sử quan trọng, thể hiện ý chí bất khuất và tài năng của nhân dân Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Một nét kiến trúc Chùa Một Cột, tổng hòa không gian Văn Miếu - Quốc Tử Giám... đều góp phần làm rạng rỡ truyền thống lịch sử - văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là chứng tích vô giá của truyền thống ngàn năm văn vật, là viên ngọc quý, là cổ vật thiêng liêng của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là biểu tượng của sức sống nội tại, được dựng xây từ mồ hôi công sức và cả xương máu của lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng. Đó là những tảng đá nền kê chân cột để tạo dựng tòa nhà cao vững, vừa là bằng sắc để minh chứng cho quá khứ huy hoàng, vừa là di sản quý giá, là nét vàng son của phẩm chất đặc trưng cho con người Hà Nội, con người Việt Nam, vừa là linh hồn truyền tải những giá trị thiêng liêng của mảnh đất ngàn năm văn vật. Thăng Long - Hà Nội sắp bước qua tuổi ngàn năm. Thăng Long - Hà Nội có hàng ngàn di tích lịch sử - văn hóa. Các di tích lịch sử - văn hóa chính là một cây cầu kết nối Thăng Long xưa với Hà Nội nay, nối liền quá khứ - hiện tại - tương lai. Yêu Thăng Long - Hà Nội, trân trọng di sản của ông cha, trước hết và hơn hết là yêu, trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
4430 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững
TS. Trần Văn Miều

Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.

952 lượt xem
Nền dân chủ nhân dân toàn quá trình của Trung Quốc (中国的全过程人民民主)
Lâm Kiến Hoa và nhiều tác giả 林建华 等著

Nền dân chủ nhân dân toàn quá trình của Trung Quốc (中国的全过程人民民主)

Nền dân chủ nhân dân toàn quá trình của Trung Quốc (中国的全过程人民民主)

6557 lượt xem