Văn hóa - Xã hội
Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045
Australian Embassy Vietnam-Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Trung tâm Việt- Úc(VAC) Vietnam Australia Centre

Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045

Việt Nam: 40 năm đổi mới và tầm nhìn 2045

4064 lượt xem
Đình làng tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Long (Phần I - Đình làng tiêu biểu ở Bến Tre)
TS. Phạm Văn Luân, ThS. Uông Thị Cẩm Vân, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách giới thiệu kết quả khảo cứu 32 ngôi đình đã được các cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích theo quy định của Luật Di sản Văn hóa ở tỉnh Bến Tre trước đây, bao gồm 06 đình được xếp hạng di tích Quốc gia, 01 đình thuộc quần thể di tích quốc gia đặc biệt và 25 đình là di tích cấp tỉnh. Mỗi ngôi đình được trình bày theo một cấu trúc khoa học, hướng đến việc làm nổi bật những giá trị cốt lõi nhất. Từ lịch sử khởi dựng, quá trình tồn tại và phát triển, quy mô kiến trúc, đến những tinh hoa trong nghệ thuật chạm khắc, giá trị của các hiện vật cổ, tín ngưỡng thờ phụng và diễn trình lễ hội truyền thống. Điểm đặc biệt là với cuốn sách này, tiếng nói Ban Khánh tiết, Ban Quản lý các đình làng trên địa bàn tỉnh đã được ghi nhận thông qua quá trình trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu và cho phép các tác giả tiếp cận để nghiên cứu, ghi nhận. Ý kiến chuyên môn quý báu của các nhà nghiên cứu, chuyên gia văn hóa, các nhà sử học trong và ngoài nước đã giúp các tác giả có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về giá trị của 32 ngôi đình được tập hợp trong cuốn sách này. Không dừng lại mô tả những giá trị về vật chất, cuốn sách còn đi sâu vào phân tích những giá trị phi vật thể - phần “hồn” vốn có của 32 ngôi đình có những đóng góp to lớn trong quá trình tạo dựng và vun đắp bản sắc văn hóa cho cộng đồng làng xã Bến Tre xưa. Qua đó, chúng ta càng thêm hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển của một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, nơi quá khứ và hiện tại giao thoa, tạo nên một Bến Tre đầy sức sống và bản sắc trong không gian phát triển mới của tỉnh Vĩnh Long bước vào kỷ nguyên vươn mình.

1051 lượt xem
A NEW JOURNEY FOR THE NATION (EXTERNAL INFORMATION MATERIAL ON THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE PARTY - VOLUME 3)
CENTRAL COMMISSION FOR PROPAGANDA, EDUCATION AND MASS MOBILIZATION

Reflects the proceedings and outcomes of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; key guiding thoughts and strategic orientations of the 14th Congress in the New Era; and affirms the faith and determination of the entire Party, people, and armed forces of Vietnam to successfully implement the Resolution of the 14th National Congress. This document has been meticulously and systematically compiled, featuring deep coverage of key external information themes. It aims to serve as a vital reference for external information work, actively promoting a image of Vietnam as peaceful, independent, self-reliant, cooperative, friendly, prosperous, and happy.

226 lượt xem
民族新征程(越南共产党第十四次全国代表大会对外宣传资料——第三卷)
中央宣教与民运部

越南共产党第十四次全国代表大会取得圆满成功。这是越南革命进程中具有重要意义的政治事件;大会召开之际,世界正经历时代性变革,机遇和有利条件与困难和挑战相互交织。经过40年革新,越南的国家基业、潜力、地位和国际威望已提升到新的高度。党的领导和执政作用、内容及方式不断创新和提升。大会秉持“团结—民主—纪律—突破—发展”的方针,极大激发战略自主、自立自强的意志和信心,奋力迈进民族奋发图强的新纪元,为和平、独立、民主、富强、繁荣、文明、幸福,坚定不移地走社会主义道路。

268 lượt xem
ບັນັນດາບົດົດເລື່ອື່ອງ ກຽ່ຽ່ ວກບັບັ ສາຍພວົວົ ພນັນັ ມິດິດິດຕະພາບ ຄວາມສາມກັກັ ຄ ີ ລະຫວາ່າ່ ງ ຫວຽດນາມ - ລາວ (Những câu chuyện về tình đoàn kết hữu nghị Việt - Lào)
ຮ່າຫງວຽນ

ປີ 2017 ເປັນປີທີ່ມີຄວາມຫມາຍສຳ¬ຄັນພິ¬ເສດໃນການພົວ¬ພັນດ້ານການທູດລະ¬ຫວ່າງ ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ ເມືອງສອງປະ¬ເທດລະນືກຄົບ¬ຮອບ 40 ປີ ແຫ່ງການເຊັນສົນ¬ທິ-ສັນ¬ຍາ ມີດຕະພາບ ແລະ ຮ່ວມມື ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ (18 ກໍ¬ລະ¬ກົດ ປີ 2017). ແລະ 55 ປີ ແຫ່ງການສະ¬ຖາ¬ປະ¬ນາຄວາມສຳ¬ພັນທາງການທູດຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ (05 ກັນ-ຍາປີ 1962 - 05 ກັນ¬ຍາປີ 2017). ໂດຍໄດ້ຮັບຄວາມເຫັນດີຈາກການນຳຂອງກະ-ຊວງຖະ¬ແຫຼງຂ່າວ ແລະ ການສ່ືສານ, ສຳ¬ນັກພິມຈຳ¬ຫນ່າຍຖະ¬ແຫຼງຂ່າ ແລະ ການສ່ືສານສົມ¬ທົບກັບຜູ້ຊ່ຽວ¬ຊານ ຈັດຕັ້ງການຮຽບ¬ຮຽງ ແລະ ພິມຈຳ¬ຫນ່າຍປືມ 11 ຫົວເພ່ືອເປັນການລະນືກ ການພົວ¬ພັນ ທາງການທູດຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ. ໃນປີ 2018, ໂດຍແນ¬ໃສ່ສືບ¬ຕໍ່ຢືນ¬ຢັນ ແລະ ໂຄ¬ສະ¬ນາຢ່າງ ກວ້າງ¬ຂວາງ ແລະ ເລິກ¬ເຊິ່ງກວ່າອີກກ່ຽວກັບ ການພົວ¬ພັນອັນຈົບ¬ງາມລະ¬ຫວ່າງ ສອງປະ¬ເທດ, ສອງຊາດ. ສຳໜັກພິມກະຊວງຖະແຫຼງຂ່າວ ແລະ ກາຈສື່ສານໄດ້ເລືອກປື້ມຈຳນວນ 8 ຫົວເພື່ອແປ ແລະ ພິມຈຳໜ່າຍເປັນພາສາລາວ, ນັ້ນກໍ່ຄື: 1- ບາດ¬ກ້າວຕ່າງໆໃນວັນ¬ນະ¬ຄະ¬ດີ ທີ່ຢັ້ງ¬ຢືນເຖິງຄວາມເປັນເອ¬ກະ¬ລາດຂອງບັນ-ດາ¬ເຜົ່າໃນ ລາວ ແລະ ຫວຽດ¬ນາມ. 2- ສາຍພົວ¬ພັນພິ¬ເສດ, ການຮ່ວມມືຮອບ¬ດ້ານ ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ ໃນໄລ¬ຍະປີ 1954-2017. 3- ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ: ສາຍພົວ¬ພັນທີ່ສະ¬ໜິດ¬ສະ¬ໜົມຕະ¬ຫຼອດໄລ¬ຍະເວ¬ລາຜ່ານມາ (ມີຫຼາຍຈຸດທີ່ຄ້າຍ¬ຄືກັນທາງດ້ານການ¬ເມືອງ, ປະ¬ຫວັດ¬ສາດ, ວັດ¬ທະ¬ນະ¬ທຳມາເເຕ່ບູ¬ຮານນະການຈົນເຖິງປັດ¬ຈຸ¬ບັນ). 4- 55 ປີ ສາຍພົວ¬ພັນທາງດ້ານການທູດລະ¬ຫວ່າງ ຫວຽດ¬ນາມ-ລາວ, ຫວນຄືນ ເເລະ ກ້າວເຂົ້າສູ່ອະ¬ນາ¬ຄົດໃນຕໍ່ໜ້າ. 5- ບັນ¬ດາບົດເລື່ອງກ່ຽວກັບສາຍພົວ¬ພັນ ຄວາມສາ¬ມັກ¬ຄີ ມິດ¬ຕະ¬ພາບ ລະ¬ຫວ່າງຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ. 6- ຄວາມຄ້າຍ¬ຄືກັນທາງດ້ານທິດສະດີ ວັດ¬ທະ¬ນະ¬ທຳທ້ອງ¬ຖິ່ນ ຫວຽດ¬ນາມ - ລາວ. 7- ປຽບ¬ທຽບ ຄຳສຸ¬ພາ¬ສິດລາວ ກັບຄຳພະຫຍາຫວຽດ¬ນາມ. 8- ຮຽນຮູ້ວັດ¬ທະ¬ນາທຳ - ປະ¬ຫວັດ¬ສາດລາວ. ເນື້ອໃນຂອງປື້ມເລົ່ານີ້ຈະສະ¬ເຫນີຂໍ້ມູນພື້ນ¬ຖານກ່ຽວກັບປະ¬ເທດຊາດ ແລະ ຄົນລາວ. ກ່ຽວກັບສີ່ງທີ່ເດັ່ນຕ່າງໆຂອງປະ¬ເທດລ້ານຊ້າງ ໂດຍຜ່ານຂົງ¬ເຂດປະ¬ຫວັດ¬ສາດ, ການ ທະຫານ. ການ¬ເມືອງ, ເສດ¬ຖະ¬ກິດ, ວັດ¬ທະ¬ນະທຳ-ສັງຄົມ. ໄປພ້ອມໃນທ່າສົມທຽບກັບ.

2380 lượt xem
Kỷ yếu phi công tiêm kích Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1974 - 2024)
Ban Liên lạc cựu chiến binh Không quân

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) và 70 năm truyền thống Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng (3/3/1955 - 3/3/2025), Ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân tổ chức biên soạn cuốn sách “Kỷ yếu phi công tiêm kích Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1974-2024” nhằm vinh danh 586 phi công tiêm kích đã và đang ngày đêm canh giữ bầu trời Tổ quốc, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, trường tồn trong thái bình.

Ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân trân trọng cảm ơn Thủ trưởng Bộ Tư lệnh và các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng Phòng không - Không quân; các cựu chiến binh; các thân nhân phi công tiêm kích đã hy sinh, từ trần; các tổ chức, cá nhân tài trợ; Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi về mọi mặt trong quá trình biên soạn, xuất bản cuốn sách!

Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, biên soạn, nhưng khó tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự góp ý của các đồng chí để cuốn sách được hoàn thiện hơn! Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với các đồng chí và bạn đọc!

BAN LIÊN LẠC
CỰU CHIẾN BINH KHÔNG QUÂN

1110 lượt xem
Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam
PGS. TS Phạm Duy Đức - PGS. TS Vũ Thị Phương Hậu (Đồng chủ biên)

Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam

5960 lượt xem
Quản lý văn hóa, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
PGS.TS. Huỳnh Quốc Thắng, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách là tài liệu nhằm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở bậc đại học, sau đại học trong lĩnh vực quản lý văn hóa. Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận văn hóa học, khoa học quản lý và thực tiễn quản lý văn hóa ở Việt Nam, cuốn sách hệ thống hóa những vấn đề nền tảng về quản lý văn hóa, làm rõ bản chất, mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp và các kỹ năng cần thiết của người làm công tác quản lý, đồng thời phân tích những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và chuyển đổi xã hội. Với cách tiếp cận gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn, đặc biệt qua các nghiên cứu trường hợp, tác phẩm cung cấp cơ sở khoa học, kinh nghiệm quản lý và định hướng vận dụng vào các lĩnh vực hoạt động văn hóa cụ thể. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị đối với giảng viên, sinh viên, học viên sau đại học, nhà nghiên cứu cũng như đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa trong quá trình hoạch định chính sách, tổ chức và phát triển đời sống văn hóa ở Việt Nam.

886 lượt xem
Việt Nam - Lào: Sự gắn bó xuyên thời gian (Những nét tương đồng về chính trị, lịch sử, văn hóa cổ đại cho đến nay)
TS Nguyễn Phương Liên

Nội dung cuốn sách giới thiệu những thông tin cơ bản về đất nước và con người Lào, về những đặc trưng của đất nước Triệu Voi thông qua các lĩnh vực lịch sử - quân sự, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội,... cùng song hành trong thế tương quan so sánh với những đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, cuốn sách còn đi sâu phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Việt Nam - Lào trong quá khứ, hiện tại và những triển vọng kết nối trên tất cả lĩnh vực. Qua đó giúp cho việc triển khai hiệu quả kế hoạch hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới và cũng là nhằm hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, đặc biệt là với đất nước Lào; nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào.

3057 lượt xem
Dẫn chương trình văn hóa nghệ thuật
TS. Trịnh Đăng Khoa, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách Dẫn chương trình văn hóa nghệ thuật được biên soạn nhằm hệ thống hóa các tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động này. Nội dung sách được trình bày khoa học, kết cấu rõ ràng qua ba chương chính: Chương 1 cung cấp những khái niệm nền tảng và hệ thống lý luận về chương trình văn hóa nghệ thuật và vai trò của người dẫn chương trình như một chủ thể kết nối nội dung và cảm xúc cho khán giả. Chương 2 đi sâu vào kỹ năng viết lời dẫn, phân tích ngôn ngữ nghệ thuật và cấu trúc lời dẫn phù hợp với từng loại hình chương trình. Chương 3 tập trung vào kỹ thuật diễn đạt lời dẫn thông qua các phương tiện ngôn ngữ nói, phi ngôn ngữ và công cụ hỗ trợ trực quan, đồng thời hướng dẫn thực hành kỹ năng dẫn chương trình trên sân khấu.
Sách không chỉ cung cấp kiến thức lý luận mà còn kèm theo các ví dụ minh họa cụ thể và bài tập ứng dụng, nhằm hỗ trợ người học rèn luyện kỹ năng một cách thực tiễn và hiệu quả. Đây là tài liệu học tập hữu ích cho sinh viên các chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, truyền thông, đồng thời là cẩm nang tham khảo dành cho các giảng viên, cán bộ tổ chức sự kiện, biên đạo và những người hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn văn hóa nghệ thuật. Với tinh thần gắn lý luận với thực tiễn, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng và phương pháp chuyên môn cho người dẫn chương trình, từ đó nâng cao chất lượng các chương trình văn hóa nghệ thuật - một thành tố quan trọng trong sự phát triển bền vững của đời sống văn hóa đương đại.

550 lượt xem
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
PGS.TS Trần Thị Minh Tuyết

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

2726 lượt xem
 НОВЫЙ ПУТЬ ДЛЯ НАЦИИ (ИНФОРМАЦИОННЫЕ МАТЕРИАЛЫ ДЛЯ ВНЕШНЕПОЛИТИЧЕСКОЙ ПРОПАГАНДЫ О XIV СЪЕЗДЕ КПВ –  ТОМ 3)
ЦЕНТРАЛЬНЫЙ ОТДЕЛ ПРОПАГАНДЫ, ВОСПИТАНИЯ И ПО РАБОТЕ С НАСЕЛЕНИЕМ

«Новый путь нации»: отражение хода и итогов XIV съезда Коммунистической партии Вьетнама; ключевых идей и стратегических ориентиров XIV съезда в Новую эпоху; утверждение веры и решимости всей партии, всего народа и всей армии Вьетнама в успешной реализации Резолюции XIV съезда. Материал собран тщательно и системно, в нем глубоко затронуты вопросы внешней информации в надежде на то, что это издание станет важным документом для работы в области внешнеинформационной деятельности, способствующим мощному распространению образа Вьетнама как страны мира, независимости, самостоятельности, сотрудничества, дружбы, развития, процветания и счастья.

208 lượt xem
Ảnh hưởng của thông tin tội phạm trên truyền hình đối với công chúng ở Việt Nam
Nguyễn Đăng Khang

Những vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn về vấn đề ảnh hưởng của thông tin tội phạm trên truyền hình đối với công chúng ở Việt Nam

1309 lượt xem
Schools in Ancient Hanoi
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
In the first doctorate stele built in Van Mieu-Quoc Tu Giam showing names, ages and hometowns of Confucian doctor laureates who passed the examination held in 1442, there was a narration compiled by Great Scholar Than Nhan Trung that includes the following sentence: “Talents are life-sustaining elements of the nation, so as long as these elements are properly treated, the nation will be powerful and prosperous, or else it might turn weak and fading, and that is the reason why all wise Emperors care for the encouragement of talents”. This has always been considered the manifesto of Confucian education of Vietnamese feudal dynasties in particular, and Vietnam’s education and training cause in general. In order to foster talents to build and preserve the nation, education and training is a must, which is effected by schools from national to local levels, either public or private facilities established by individual teachers to educate and train people. For thousands of years, Thang Long - Hanoi has been famous as the sacred land of Vietnam’s education, which houses Quoc Tu Giam Thang Long - the earliest and biggest university of Dai Viet in middle ages, Dong Kinh Nghia Thuc school - a leader of Vietnam’s new education in modern times, and many famous private schools owned by well-known scholars. The culture of Thang Long - Hanoi is demonstrated firstly and above all in the convergence, sublimation and emanation through the last one thousand years, as well as in the most durable symbol of education: the ancient schools in Thang Long - Hanoi.
1836 lượt xem
Khu di tích hang Con Moong tính xác thực, tính toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa; Trung tâm Nghiên cứu lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa

Cuốn sách Khu di tích Hang Con Moong: tính toàn vẹn, xác thực và giá trị nổi bật toàn cầu do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa, thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thực hiện với sự tham gia biên soạn của PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử, PGS.TS. Bùi Văn Liêm và TS. Nguyễn Văn Hải vừa hoàn thành, sau thành công của Hội thảo khoa học về Hang Con Moong tháng 7 năm 2025. Cuốn sách đã trình bày có hệ thống toàn bộ kết quả các lần khai quật, nghiên cứu di tích Hang Con Moong và phụ cận vốn được giới khảo cổ học trong và ngoài nước tiến hành trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua, trong đó có sự đóng góp trực tiếp của chính các tác giả cuốn sách này. Các tư liệu khai quật đã được phân tích chuyên sâu, làm rõ các đặc trưng nổi bật về di tích, di vật, xác định niên đại, các giai đoạn phát triển tiền sử Hang Con Moong và phụ cận trong bối cảnh rộng hơn.  

1243 lượt xem
So sánh Xú-pha-xít Lào với ca dao Việt Nam
PGS. TS Lý Hoài Thu, ThS Tạ Hồng Hạnh, TS Nguyễn Phương Liên
Người Lào có câu xú-pha-xít “Mạy huồm co po huồm xược” (Đay chung dây, cây chung khóm). Quan hệ Việt Nam - Lào như lá chung một cành, như hoa chung một bụi. Hai đất nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam Á, không chỉ liền kề nhau về địa lý mà còn có mối quan hệ bang giao hữu hảo lâu đời. Bởi vậy, bên cạnh những điểm khác nhau tất yếu, xuất phát từ bản sắc dân tộc, nền văn hóa hai nước nói chung, văn học dân gian hai nước nói riêng có những điểm tương đồng như là bản chất chung trong quá trình sáng tạo folklore nhân loại cũng như sự giống nhau do những điều kiện lịch sử, địa lý tự nhiên và những quan hệ giao lưu văn hoá mang lại. Nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau này thông qua việc so sánh xú-pha-xít Lào và ca dao Việt Nam sẽ góp phần khẳng định tính độc lập của mỗi dân tộc; đặc biệt, không chỉ giúp cho những người quan tâm hiểu biết thêm về xú-pha-xít Lào hay ca dao Việt Nam, hiểu rõ hơn những nét đẹp truyền thống trong tâm hồn và tính cách của chính mình và của người bạn láng giềng mà còn góp phần làm sáng tỏ sự giống nhau kỳ lạ, đến từng chi tiết của một bộ phận văn học dân gian giữa hai dân tộc. Trong giáo trình chính thống của ngành Văn học, các tác giả đề cập đến khái niệm trữ tình dân gian (để phân biệt với tự sự dân gian), có sử dụng cụm từ “ca dao, dân ca” đi liền với nhau. Trong đó, khi nhấn mạnh đến ba yếu tố cần chú ý để phân loại dân ca Việt Nam: 1 - Lời ca (câu hay bài) 2 - Giai điệu (giọng hoặc làn điệu) 3 - Hình thức sinh hoạt (hay lề lối hát) Có thể thấy, yếu tố thứ hai đặc trưng cho dân ca nhưng hai yếu tố còn lại thì có thể bắt gặp ở khái niệm được định danh là “ca dao” trong văn học dân gian Việt Nam. Thậm chí có thể thấy là lời những bài dân ca có cùng thi pháp với ca dao, hay có thể sử dụng bất kỳ câu ca dao nào làm lời cho một làn điệu dân ca ngẫu hứng (hát ru con, hò...). Cuốn sách còn chia riêng thể loại “Lời ăn tiếng nói của nhân dân” bao gồm tục ngữ và câu đố. Tuy nhiên, trong văn học dân gian Lào tồn tại hai khái niệm: xú-pha-xít có nội hàm bao gồm thành ngữ, tục ngữ, câu đố và cả ca dao (vì gồm nhiều câu dài, hoặc những tác phẩm được ghi lại thành lời, tách riêng khỏi các làn điệu...); lăm và khắp có nội hàm tương tự dân ca ở Việt Nam. Chính do sự khác biệt trong cách phân loại cũng như tính nguyên hợp trong các thể loại của folklore, trong cuốn sách này, chúng tôi sử dụng khái niệm “phương ngữ” (phương: mùi thơm, ở đây chỉ những câu nói tinh hoa của dân gian (Trữ tình dân gian: ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian), khác với cách hiểu phương ngữ là “từ/tiếng địa phương” hay thổ ngữ) song song với “ca dao” để so sánh với xú-pha-xít của Lào.
2894 lượt xem