Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Tuyển tập Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) bao gồm 17 nghiên cứu được PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ thực hiện và công bố trong gần 50 năm. Các công trình này thuộc nhiều chủ đề, nội dung, lĩnh vực khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự thời gian công bố lần đầu. Qua tuyển tập này, bạn đọc có thể thấy rõ quá trình tìm hiểu, suy tư, cũng như những biến chuyển trong nhận thức và tư duy của tác giả về các vấn đề văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời thấy được những nỗ lực không ngừng và vượt bậc góp phần cung cấp một cách tiếp cận về phức hợp văn hóa Việt của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ.
Trong lần xuất bản năm 2026, hưởng ứng tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông tổ chức xuất bản tuyển tập dưới dạng sách điện tử và tách thành hai tập để thuận tiện cho việc tra cứu, tiếp cận và khai thác nội dung, qua đó tạo điều kiện để tác phẩm đến với đông đảo độc giả trong và ngoài nước.
Nhà xuất bản tôn trọng và giữ nguyên giá trị của các ấn bản gốc trong quá trình số hóa và xuất bản. Nội dung các bài viết được bảo đảm tính nguyên bản, phản ánh trung thực tư liệu và bối cảnh nghiên cứu của từng thời kỳ. Để hỗ trợ bạn đọc thuận tiện hơn trong quá trình tiếp cận và tra cứu, Nhà xuất bản có bổ sung chú thích, chỉnh lý kỹ thuật và hiệu chỉnh một số chi tiết nhỏ về hình thức trình bày cho phù hợp với quy chuẩn hiện nay; đồng thời giữ nguyên tên gọi các địa danh, đơn vị hành chính theo thời điểm khảo sát và công bố của tác giả nhằm bảo đảm tính lịch sử và giá trị tư liệu của công trình.
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình biên tập và xuất bản, ấn phẩm khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn đọc để các lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn. Hơn hết cả, chúng tôi trân trọng giới thiệu tới những người yêu quý, quan tâm đến lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam một công trình nghiên cứu tâm huyết và giàu giá trị tham khảo về văn hóa và hội nhập.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ -TRUYỀN THÔNG
Cuốn sách thuộc bộ sách Không gian văn hóa Việt Nam, được biên soạn theo hướng khoa học thường thức nhằm giới thiệu những nét đặc trưng về lịch sử và văn hóa của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định. Nội dung sách tập trung trình bày một cách hệ thống các yếu tố hình thành, quá trình phát triển và những giá trị văn hóa tiêu biểu của vùng đất Sài Gòn – Gia Định trong tổng thể văn hóa Việt Nam.
Tác giả sử dụng lối viết mang tính “văn hóa sử”, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách diễn đạt gần gũi, dễ hiểu. Các nội dung được sắp xếp theo từng thành tố văn hóa đặc trưng của vùng đất, từ điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành, con người, phong tục tập quán đến đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Sách cũng được minh họa bằng hình ảnh nhằm giúp người đọc tiếp cận kiến thức trực quan hơn.
Thông qua việc giới thiệu những đặc điểm nổi bật của tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định, cuốn sách góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa của vùng đất Nam Bộ nói chung và Sài Gòn – Gia Định nói riêng, đồng thời quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam.
Những vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn về vấn đề ảnh hưởng của thông tin tội phạm trên truyền hình đối với công chúng ở Việt Nam
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới
"Sóng căng đét – Ví khét lẹt" là ấn phẩm truyền thông của Cục Tần số Vô tuyến điện, được biên soạn nhằm phổ biến kiến thức về tần số vô tuyến điện, nâng cao nhận thức về việc sử dụng phổ tần và thiết bị vô tuyến đúng quy định, đồng thời truyền tải các thông tin chuyên ngành qua lối thể hiện gần gũi, sinh động và dễ tiếp cận với đông đảo bạn đọc.
Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”, và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.
Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.
Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập.
Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh.
Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được.
Năm 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.
Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.
Cuốn sách "Biến đổi sinh kế của người Mường ở vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình (mô hình tái định cư) (bản rút gọn)" được bố cục làm 5 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề tái định cư
Chương 2: Quá trình tái định cư Thủy điện Hòa Bình
Chương 3: Biến đổi sinh kế trong mô hình di vén: Xóm Ké
Chương 4: Biến đổi sinh kế trong mô hình lập làng mới: Xóm Lương Phong
Chương 5: Một số hoạt động hỗ trợ phát triển sau tái định cư
Tái định cư công trình thủy điện Hòa Bình đã diễn ra cách đây gần nửa thế kỷ, tạo ra một khoảng thời gian đủ dài để nghiên cứu này, với dữ liệu được thu thập và phân tích trong bối cảnh thực địa những khoảng thời gian trước năm 2017, mang tính tổng kết sâu sắc. Nhờ những thành công, hạn chế trong việc thi hành chính sách tái định cư bắt buộc đối với người Mường ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ), mà bài toán sinh kế cho người dân vùng tái định cư bắt buộc phải được coi trọng và tính toán hơn nữa.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sẽ góp phần cải thiện việc xây dựng và thực hành chính sách tái định cư, chính sách phát triển vùng miền núi ở Việt Nam.
Cuốn sách Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc gắn bảo tồn văn hóa tộc người với phát triển du lịch cộng đồng ở các địa bàn tiêu biểu như Mai Châu, Mộc Châu và Sa Pa. Dựa trên kết quả nghiên cứu và điền dã thực địa, sách đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa vùng cao.
Cuốn sách giới thiệu một cách khái quát và hệ thống về tiểu vùng văn hóa xứ Quảng, bao gồm khu vực Quảng Nam, Đà Nẵng và Quảng Ngãi. Tác phẩm được biên soạn theo hướng phổ biến kiến thức văn hóa, giúp người đọc tiếp cận những thành tựu nghiên cứu về văn hóa vùng từ góc nhìn địa – văn hóa một cách dễ hiểu và gần gũi.
Nội dung sách tập trung làm rõ quá trình hình thành và phát triển của xứ Quảng, những đặc trưng về con người, đời sống kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học nghệ thuật và các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu của vùng đất này. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh vai trò của nhiều thế hệ cư dân trên vùng đất Quảng trong việc tạo dựng nên bản sắc văn hóa riêng, giàu truyền thống nhưng cũng năng động, cởi mở và giàu sức sáng tạo.
Bên cạnh việc trình bày lịch sử văn hóa, sách còn giới thiệu hệ thống di sản văn hóa của xứ Quảng như các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình kiến trúc và những giá trị văn hóa đặc sắc đã góp phần tạo nên diện mạo riêng của vùng đất này trong tổng thể văn hóa Việt Nam.
Với văn phong giản dị, kết hợp giữa tri thức khoa học và cách kể chuyện văn hóa hấp dẫn, cùng hệ thống hình ảnh minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về bản sắc văn hóa xứ Quảng và vị trí của tiểu vùng này trong không gian văn hóa Việt Nam.
Nội dung sách phân tích một cách hệ thống các yếu tố cấu thành không gian văn hóa Duyên hải Nam Trung Bộ như môi trường sinh thái biển, quá trình khai phá và định cư, cơ cấu cộng đồng dân cư, hệ thống tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công và văn hóa biển đảo.
Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.
Qua câu chuyện kèm minh họa hấp dẫn, cuốn sách gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Hãy tự tin, phấn đấu vươn lên tạo ra những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống của mình và giúp ích cho cộng đồng, xã hội
Nghiên cứu về các Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vùng Đông Bắc nhằm tạo cơ sở cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích này trong mối liên hệ với nhau gắn với phát triển du lịch hiện nay. Đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế trong công tác quản lý các di tích này, từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong phát triển du lịch hiện nay. Cuốn sách Quản lý Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vùng Đông Bắc trong phát triển du lịch hiện nay góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị cao đẹp, trường tồn của di tích lịch sử cách mạng hào hùng, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp tới đông đảo nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế.
Cuốn sách giới thiệu kết quả khảo cứu 32 ngôi đình đã được các cấp có thẩm quyền xếp hạng di tích theo quy định của Luật Di sản Văn hóa ở tỉnh Bến Tre trước đây, bao gồm 06 đình được xếp hạng di tích Quốc gia, 01 đình thuộc quần thể di tích quốc gia đặc biệt và 25 đình là di tích cấp tỉnh. Mỗi ngôi đình được trình bày theo một cấu trúc khoa học, hướng đến việc làm nổi bật những giá trị cốt lõi nhất. Từ lịch sử khởi dựng, quá trình tồn tại và phát triển, quy mô kiến trúc, đến những tinh hoa trong nghệ thuật chạm khắc, giá trị của các hiện vật cổ, tín ngưỡng thờ phụng và diễn trình lễ hội truyền thống. Điểm đặc biệt là với cuốn sách này, tiếng nói Ban Khánh tiết, Ban Quản lý các đình làng trên địa bàn tỉnh đã được ghi nhận thông qua quá trình trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu và cho phép các tác giả tiếp cận để nghiên cứu, ghi nhận. Ý kiến chuyên môn quý báu của các nhà nghiên cứu, chuyên gia văn hóa, các nhà sử học trong và ngoài nước đã giúp các tác giả có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về giá trị của 32 ngôi đình được tập hợp trong cuốn sách này. Không dừng lại mô tả những giá trị về vật chất, cuốn sách còn đi sâu vào phân tích những giá trị phi vật thể - phần “hồn” vốn có của 32 ngôi đình có những đóng góp to lớn trong quá trình tạo dựng và vun đắp bản sắc văn hóa cho cộng đồng làng xã Bến Tre xưa. Qua đó, chúng ta càng thêm hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển của một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, nơi quá khứ và hiện tại giao thoa, tạo nên một Bến Tre đầy sức sống và bản sắc trong không gian phát triển mới của tỉnh Vĩnh Long bước vào kỷ nguyên vươn mình.
Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.
Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...