Văn hóa - Xã hội
Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam tập 1: Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

cuốn sách Di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam, tập 1: Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Cuốn sách này nhằm nhận diện và cung cấp những kiến thức cơ bản về các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của các tỉnh/thành phố khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng và cung cấp thông tin về 10 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở mỗi tỉnh/thành phố. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương.

646 lượt xem
Thực hành tính ngưỡng thờ mẫu tam phủ của người Việt - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Từ Thị Loan

Với những giá trị văn hóa, nghệ thuật và tâm linh đặc sắc như vậy, ngày 01/12/2016, “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Cuốn sách này là một cố gắng nhỏ bé nhằm chuyển tải những kiến thức, hiểu biết cơ bản nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, bản chất, giá trị, vai trò của thực hành tín ngưỡng này trong đời sống tâm linh người Việt. Đây thực sự là một di sản văn hóa độc đáo được trao truyền từ quá khứ qua nhiều thế hệ, cần được hiểu đúng và nhận thức đầy đủ nhằm giữ gìn và phát huy những mặt tích cực trong xã hội đương đại.

2475 lượt xem
100 điều nên biết về phân mốc địa giới trên đất liền
Hà Nguyễn

Với cuốn sách 100 điều nên biết về phân mốc địa giới trên đất liền của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu kết nối bạn đọc với những tri thức chung, những dấu ấn phân mốc và quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất liền Việt Nam.
Trải qua nhiều năm kiên trì liên tục đàm phán và thương lượng, Việt Nam đã ký kết với ba quốc gia láng giềng là Trung Quốc, Lào và Campuchia nhiều thỏa thuận và hiệp ước liên quan đến phân mốc địa giới trên đất liền. Những kết quả đàm phán và ký kết hiệp định đã từng bước xác định phạm vi và chế độ pháp lý của đường biên giới, hệ thống mốc quốc giới của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác và quản lý, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với các quốc gia láng giềng, giảm nguy cơ tranh chấp xung đột, giữ gìn hòa bình và ổn định của đất nước và trong khu vực.

2118 lượt xem
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã
TS. Nguyễn Mạnh Cường

Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã là cuốn sách tập trung giới thiệu vai trò và lợi ích của công nghệ số trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp và kinh tế hộ. Nội dung sách trình bày các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong tổ chức sản xuất, quản lý quy trình, truy xuất nguồn gốc, bảo quản và chế biến sản phẩm. Đồng thời, sách phân tích cách thức tận dụng nền tảng số, thương mại điện tử và mạng xã hội để mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm. Cuốn sách cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong quá trình chuyển đổi số ở hộ gia đình và hợp tác xã hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các mô hình, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực quản lý, tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho khu vực kinh tế nông thôn.

67 lượt xem
Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Thủ đô Hà Nội là trung tâm của cả nước, nơi hội tụ tinh hoa văn hoá dân tộc. Ít có nơi nào lưu giữ được nhiều chứng tích lịch sử như thành phố Hà Nội. Nơi đây, mỗi địa danh, mỗi đường phố đều gắn với các sự tích, chiến công của ông cha. Những địa danh như Cổ Loa, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình... chứa đựng những dấu ấn, ghi nhớ những chặng đường lịch sử quan trọng, thể hiện ý chí bất khuất và tài năng của nhân dân Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Một nét kiến trúc Chùa Một Cột, tổng hòa không gian Văn Miếu - Quốc Tử Giám... đều góp phần làm rạng rỡ truyền thống lịch sử - văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là chứng tích vô giá của truyền thống ngàn năm văn vật, là viên ngọc quý, là cổ vật thiêng liêng của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là biểu tượng của sức sống nội tại, được dựng xây từ mồ hôi công sức và cả xương máu của lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng. Đó là những tảng đá nền kê chân cột để tạo dựng tòa nhà cao vững, vừa là bằng sắc để minh chứng cho quá khứ huy hoàng, vừa là di sản quý giá, là nét vàng son của phẩm chất đặc trưng cho con người Hà Nội, con người Việt Nam, vừa là linh hồn truyền tải những giá trị thiêng liêng của mảnh đất ngàn năm văn vật. Thăng Long - Hà Nội sắp bước qua tuổi ngàn năm. Thăng Long - Hà Nội có hàng ngàn di tích lịch sử - văn hóa. Các di tích lịch sử - văn hóa chính là một cây cầu kết nối Thăng Long xưa với Hà Nội nay, nối liền quá khứ - hiện tại - tương lai. Yêu Thăng Long - Hà Nội, trân trọng di sản của ông cha, trước hết và hơn hết là yêu, trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
3672 lượt xem
Nghiên cứu dư luận xã hội
Khoa Xã hội học và phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, TS. Dương Thị Thu Hương
Dư luận xã hội là hiện tượng xã hội phức tạp, đa chiều cạnh, có thể tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau: tâm lý học; chính trị học, truyền thông, xã hội học... Cuốn sách “Nghiên cứu Dư luận xã hội” tập trung giới thiệu các kiến thức cơ bản về Dư luận xã hội, đặc biệt dành nhiều trang trình bày về các phương pháp, kỹ thuật và quy trình nghiên cứu Dư luận xã hội từ tiếp cận Xã hội học. Với kiến thức được trang bị, người học không chỉ có được nền tảng hiểu biết đầy đủ về Dư luận xã hội, các biện pháp quản lý Dư luận xã hội phù hợp, họ còn được trang bị kiến thức, kỹ năng tiến hành các nghiên cứu Dư luận xã hội bài bản, khoa học, hiệu quả. Cuốn sách là tài liệu giảng dạy chính thức cho bậc cử nhân ngành Xã hội học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng thời là sách tham khảo cho sinh viên và học viên cao học, NCS các ngành khác: báo chí, truyền thông, tuyên truyền, truyền thông chính sách, công tác xã hội tại Học viện cũng như tại nhiều cơ sở đào tạo sinh viên ngành Xã hội học và các ngành báo chí, truyền thông khác trên toàn quốc. Cuốn sách cũng giúp cho cán bộ nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực có thể tự tìm hiểu và vận dụng tiến hành nghiên cứu Dư luận xã hội theo đúng trình tự, đáp ứng yêu cầu chuẩn mực nghiên cứu, từ đó đem lại kết quả khách quan, đáng tin cậy, là cơ sở để xây dựng các chiến lược quản lý phát triển hiệu quả xã hội.
4244 lượt xem
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

897 lượt xem
100 điều nên biết về phân mốc trên biển Đông
Hà Nguyễn

Với cuốn sách nhỏ 100 điều nên biết về phân mốc trên Biển Đông của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối bạn đọc với những tri thức chung, những dấu ấn phân mốc và quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam. Tác giả đã nỗ lực kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học về biển đảo có liên quan, đối chiếu thẩm định và chuẩn hóa các thông tin để cung cấp cho bạn đọc những tri thức đáng tin cậy, có giá trị về chủ đề phân mốc trên Biển Đông.

2121 lượt xem
Con lật đật
Võ Văn Minh

Cuốn sách là những chia sẻ nhẹ nhàng và sâu sắc về giai đoạn tuổi học trò – khoảng thời gian đầy biến động trong tâm sinh lý, cảm xúc và suy nghĩ. Tác giả thấu hiểu những áp lực, bối rối, hoang mang mà người trẻ phải đối diện trong học tập, các mối quan hệ và định hướng tương lai. Với hình ảnh “con Lật đật” – biểu tượng của sự kiên cường và cân bằng – cuốn sách gửi gắm thông điệp tích cực, truyền cảm hứng sống, giúp người đọc vượt qua khó khăn, giữ vững niềm tin và cảm nhận hạnh phúc từ những điều giản dị trong cuộc sống.

1156 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 3
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

141 lượt xem
So sánh Xú-pha-xít Lào với ca dao Việt Nam
PGS. TS Lý Hoài Thu, ThS Tạ Hồng Hạnh, TS Nguyễn Phương Liên
Người Lào có câu xú-pha-xít “Mạy huồm co po huồm xược” (Đay chung dây, cây chung khóm). Quan hệ Việt Nam - Lào như lá chung một cành, như hoa chung một bụi. Hai đất nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam Á, không chỉ liền kề nhau về địa lý mà còn có mối quan hệ bang giao hữu hảo lâu đời. Bởi vậy, bên cạnh những điểm khác nhau tất yếu, xuất phát từ bản sắc dân tộc, nền văn hóa hai nước nói chung, văn học dân gian hai nước nói riêng có những điểm tương đồng như là bản chất chung trong quá trình sáng tạo folklore nhân loại cũng như sự giống nhau do những điều kiện lịch sử, địa lý tự nhiên và những quan hệ giao lưu văn hoá mang lại. Nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau này thông qua việc so sánh xú-pha-xít Lào và ca dao Việt Nam sẽ góp phần khẳng định tính độc lập của mỗi dân tộc; đặc biệt, không chỉ giúp cho những người quan tâm hiểu biết thêm về xú-pha-xít Lào hay ca dao Việt Nam, hiểu rõ hơn những nét đẹp truyền thống trong tâm hồn và tính cách của chính mình và của người bạn láng giềng mà còn góp phần làm sáng tỏ sự giống nhau kỳ lạ, đến từng chi tiết của một bộ phận văn học dân gian giữa hai dân tộc. Trong giáo trình chính thống của ngành Văn học, các tác giả đề cập đến khái niệm trữ tình dân gian (để phân biệt với tự sự dân gian), có sử dụng cụm từ “ca dao, dân ca” đi liền với nhau. Trong đó, khi nhấn mạnh đến ba yếu tố cần chú ý để phân loại dân ca Việt Nam: 1 - Lời ca (câu hay bài) 2 - Giai điệu (giọng hoặc làn điệu) 3 - Hình thức sinh hoạt (hay lề lối hát) Có thể thấy, yếu tố thứ hai đặc trưng cho dân ca nhưng hai yếu tố còn lại thì có thể bắt gặp ở khái niệm được định danh là “ca dao” trong văn học dân gian Việt Nam. Thậm chí có thể thấy là lời những bài dân ca có cùng thi pháp với ca dao, hay có thể sử dụng bất kỳ câu ca dao nào làm lời cho một làn điệu dân ca ngẫu hứng (hát ru con, hò...). Cuốn sách còn chia riêng thể loại “Lời ăn tiếng nói của nhân dân” bao gồm tục ngữ và câu đố. Tuy nhiên, trong văn học dân gian Lào tồn tại hai khái niệm: xú-pha-xít có nội hàm bao gồm thành ngữ, tục ngữ, câu đố và cả ca dao (vì gồm nhiều câu dài, hoặc những tác phẩm được ghi lại thành lời, tách riêng khỏi các làn điệu...); lăm và khắp có nội hàm tương tự dân ca ở Việt Nam. Chính do sự khác biệt trong cách phân loại cũng như tính nguyên hợp trong các thể loại của folklore, trong cuốn sách này, chúng tôi sử dụng khái niệm “phương ngữ” (phương: mùi thơm, ở đây chỉ những câu nói tinh hoa của dân gian (Trữ tình dân gian: ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian), khác với cách hiểu phương ngữ là “từ/tiếng địa phương” hay thổ ngữ) song song với “ca dao” để so sánh với xú-pha-xít của Lào.
2376 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 5
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

137 lượt xem
Hội phù đổng - Mật trận đánh thần kỳ trong truyền thuyết Việt Nam
Nguyễn Văn Huyên
Từ rất xa xưa, câu chuyện về Thánh Gióng, một cậu bé lên ba, sinh ra không biết nói, nhưng đã bật lên tiếng nói khi nghe tin có người của nhà Vua đi cầu hiền tài danh giặc cứu nước. Và câu nói đầu tiên của đời mình là xin mẹ mời sứ giả đến gặp. Rồi cậu lớn lên như thổi, cưỡi ngựa sắt đánh tan quân thù, giành độc lập cho đất nước. Câu chuyện này đã được ông bà, cha mẹ kể cho con cháu từ đời này qua đời khác, trở thành đề tài văn học với những áng thơ văn bất hủ, thành hình tượng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật và trở thành những bài đọc trong sách giáo khoa phổ thông. Câu chuyện đã gieo vào lòng các thế hệ người Việt Nam óc tưởng tượng cùng với biết bao bài học từ huyền thoại đó. Có lẽ không người Việt Nam nào không biết câu chuyện này. Thế nhưng, không phải người Việt Nam nào cũng biết tại một số làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ như các làng Phù Đổng, Phù Dực, Đổng Viên (huyện Gia Lâm), Vệ Linh, Dược Thượng (huyện Sóc Sơn, Hà Nội), người dân không những chỉ thờ Thánh Gióng mà còn tổ chức ngày hội làng với những diễn xướng và biểu tượng đầy kịch tính, vô cùng sáng tạo từ câu chuyện Thánh Gióng. Hội làng có sức thu hút và cảm thụ mãnh liệt với niềm thành kính và tín ngưỡng sâu đậm. Chính nhờ những ngày hội làng này, huyền thoại Thánh Gióng đã sống mãi với dân làng. Và hơn nữa, hội làng lại trở thành một nhu cầu văn hóa và tâm linh không thể thiếu được của nhân dân. Và với lý do đó, UNESCO đã công nhận hội Gióng ở đền Sóc và đền Phù Đổng là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Năm 1937 và 1938, nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huyên đã tham dự hội Gióng ở làng Phù Đổng. Ông đã xuất bản hai công trình trên cơ sở ghi chép lại tỉ mỉ ngày hội và đặc biệt tập trung vào miêu tả diễn xưởng và biểu tượng về một trận đánh thần kỳ trong ngày hội (xuất bản năm 1938). Những bài hát cổ và mới của Phường Ải Lao cũng được ghi lại (xuất bản năm 1941). Đặc biệt những bức ảnh đen trắng công bố trong 2 bài trên cho thấy những hình ảnh hội một cách chân thực nhất. Đây là những tư liệu đặc biệt quý, hiếm với di sản văn hóa độc đáo này. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc.
1300 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững
TS. Trần Văn Miều

Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.

286 lượt xem
Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ
TS. Nguyễn Thị Thanh Vân

Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.

260 lượt xem
Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa
Khoa ngôn ngữ học - Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội, Hội ngôn ngữ học Hà Nội
Giáo sư Tiến sĩ Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Tài Cẩn, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2000, là một học giả uyên bác, nhà ngôn ngữ học lớn của nền ngữ học Việt Nam có ảnh hưởng sâu rộng trong giới ngôn ngữ học nước nhà. Ngoài hơn 10 ấn phẩm chính và hơn 100 bài báo khoa học có giá trị về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam công bố ở trong nước và quốc tế, GS Nguyễn Tài Cẩn còn là tác giả của hàng trăm bài thơ chữ Hán rất được khen ngợi, song di sản quý giá nhất mà ông để lại cho đời là những gợi mở từ tư tưởng học thuật của ông để tìm ra con đường đi hợp lí nhất trong cách tiếp cận các lĩnh vực khoa học nhân văn đối với việc nghiên cứu tiếng Việt, nghiên cứu Hán Nôm, nghiên cứu lịch sử văn học, nghiên cứu văn hóa dân gian và nghiên cứu tư liệu Truyện Kiều. Có thể nói, ngày nay với tầm ảnh hưởng trong nước và quốc tế cố GS Nguyễn Tài Cẩn (1926 - 2011) vẫn luôn luôn hiện diện trên con đường đang đi của giới ngôn ngữ học, giới Việt ngữ học, giới nghiên cứu Hán Nôm, giới nghiên cứu lịch sử văn học và giới Kiều học nước nhà. Hội Ngôn ngữ học Hà Nội và Khoa Ngôn ngữ học (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã phối hợp tổ chức thành công Hội thảo Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa. Đây là một tài liệu quý, tập hợp nhiều bài báo khoa học ghi nhận những cống hiến xuất sắc của GS Nguyễn Tài Cẩn đối với nền ngữ học nước nhà cũng như đề cập đến những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa nói chung, tiếng Việt và văn hóa Việt Nam nói riêng. Cuốn sách Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa là sự nỗ lực cố gắng của Hội Ngôn ngữ học Hà Nội và Khoa Ngôn ngữ học đã tổ chức biên soạn tài liệu hội thảo. Hy vọng cuốn sách sẽ mang lại nhiều thông tin quí giá cho bạn đọc trong và ngoài nước.
1852 lượt xem