Văn hóa - Xã hội
Nghiên cứu phục dựng một số lễ hội truyền thống của dân tộc Jrai tại tỉnh Gia Lai
TS. Trung Thị Thu Thủy
Cùng với xu thế chung, các tỉnh Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Gia Lai thời gian qua đã tiến hành phục dựng một số lễ hội truyền thống của các dân tộc tại chỗ như: lễ đâm trâu mừng chiến thắng, lễ cầu mưa, lễ dựng nhà Rông mới, lễ mừng năm mới… Tuy nhiên việc phục dựng lễ hội ở tỉnh Gia Lai còn dừng lại ở quy mô nhỏ, đơn lẻ của từng lễ hội, từng huyện với nguồn kinh phí đầu tư tổ chức còn khiêm tốn; Chưa tiến hành nghiên cứu và phục dựng mang tính hệ thống các lễ hội truyền thống của tộc người tại chỗ trên địa bàn tỉnh, trong đó có tộc người Jrai; Chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu phục dựng lễ hội nhằm cung cấp, xây dựng những luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phục dựng lễ hội của người Jrai trong bối cảnh hiện nay. Xuất phát từ thực tế đó, cuốn sách “Nghiên cứu phục dựng một số lễ hội truyền thống của dân tộc Jrai tại tỉnh Gia Lai” được xuất bản lần này là việc làm hữu ích trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, với mong muốn tái hiện lại diện mạo lễ hội đồng thời qua đó giúp người dân hiểu, trân trọng văn hóa cộng đồng, đồng thời cũng tăng cường sinh lực cho chính cộng đồng trong việc nhìn nhận bảo tồn văn hóa trước những xu thế mới.
2848 lượt xem
Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ (bản rút gọn)
TS. Nguyễn Thị Thanh Vân

Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.

104 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 3
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

199 lượt xem
Hanoi Architectural works
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Hanoi is a convergence of cultural thousand-year cream, a harmony of a great many of cultures. The secluded and quiet, thoughtful appearance of the shadow of Tran Quoc Pagoda reflecting in the West Lake; The pretty small roofs layer upon layer in the Old Quarter, the ancient mossy walls of the Cathedral, the portly majestic appearance of the dome of Opera House; the mannered pure Lotus next to the national great man located in the middle of the heart of the capital; The winding waves on the roof of the National Convention Center... that has become a symbol of the capital beauty. Here is the traditional oriental architectural manner of the houses, the roofs of communal houses in Hanoi. Here is European sources in the French architectures were designed and built by the very French architects. Here is the latest achievements of modern architectural science are artifacted by the very working hands and minds of the new people in new era. Each figure has represented a historic period of construction and development progress of Thang Long - Hanoi during the thousands of years. But, miraculously, all of these turn up simultaneously every morning when the city wakes up suddenly, and along with the people here create fresh new lives and honor the creative labored hands that has built up the beautiful architectures of the city.
1241 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững
TS. Trần Văn Miều

Cuốn sách “Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững” làm nổi bật vai trò chiến lược của biển và hải đảo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia. Tác phẩm cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn về quản lý, khai thác hợp lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong gìn giữ không gian sinh tồn và phát triển lâu dài của đất nước.

333 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 6 - Cha mẹ là tấm gương
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách gửi tới bạn đọc thông điệp: Cha mẹ là tấm gương phản chiếu rõ nét nhất của con cái. Vì vậy cha mẹ cần có lời nói hay và hành động tốt để làm gương và giáo dục con trẻ.

2600 lượt xem
Activities of Hanoi Folk Arts
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Throughout the 1,000-year history of Thang Long - Hanoi, folk activities such as Giong Temple, Co Loa Temple and Hai Ba Temple festivals have always been considered national events by Vietnamese feudal dynasties. At the same time, various types of folk art activities ranging from puppetry to Chèo (popular opera)... were inherited and actively developed. Imperial culture was initiated from folk culture and in turn contributed to improving and developing the later. The harmonious and close combination, parallel existence and intermixture of the two cultures has given Thang Long - Hanoi unique artists and a rich cultural diversity. Most of popular folk art activities in the Red River Delta were present in Thang Long - Hanoi. The vast countryside areas (called Kẻ Quê) surrounding urban areas (called Kẻ Chợ) were places to maintain and develop folk culture with unique and special folk-songs. Then from Kẻ Quê, these folk art activities penetrated into Kẻ Chợ to enrich the cultural life of Thang Long - Hanoi. Artists of Thang Long - Hanoi also brought in their own characteristics, resulting in Ca trù (popular folk music), Chầu Văn (spiritual form of music), Xẩm (songs of strolling blind musicians)and Chèo... being presented by artists of Thang Long - Hanoi, which had unique characteristics and identities and became ancient Đoài Chèo Area and Xẩm singing in Hanoi ancient streets...
2240 lượt xem
Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số
PGS.TS Trần Thị Việt Trung

Cuốn sách Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số dày dặn (hơn 400 trang), bao gồm 2 phần: - Phần I: Nghiên cứu về văn học các DTTS dưới góc độ thể loại; - Phần II: Phê bình tác giả, tác phẩm văn học DTTS. Đây thực sự là một cuốn sách vừa công phu, có tính lý luận, tính thực tiễn, tính khoa học lại vừa có chất tài hoa, nghệ sĩ của một nhà thơ làm lý luận phê bình văn học. Điểm nhấn của cuốn sách chính là phần tác giả viết về tình hình và đặc điểm của mảng nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS Việt Nam (Chương 3 - Phần I). Đây có lẽ là phần viết có tính mới, tính khoa học rõ rệt nhất và cũng là phần đóng góp mới, có giá trị của nhà nghiên cứu, phê bình Trần Thị Việt Trung - trong việc bổ sung, hoàn thiện bức tranh chung của đời sống lý luận phê bình văn học Việt Nam sau 1945. Bởi trong các công trình nghiên cứu về lý luận phê bình văn học Việt Nam nói chung hiện nay - hầu như mảng lý luận phê bình văn học DTTS còn rất ít được nhắc tới; hoặc có được nhắc tới (trong một số bài báo, bài nghiên cứu lẻ) thì cũng mới chỉ ở dạng điểm qua, thiếu tính hệ thống và chưa có cái nhìn toàn diện. Phần II của cuốn sách (phê bình tác giả, tác phẩm) với lối viết phê bình, lối dựng chân dung đầy sắc sảo, tài hoa đã thể hiện khá rõ chất “nữ tính” trong từng trang viết của tác giả. Dồn bao tình cảm, trí tuệ và sự đam mê của mình vào việc nghiên cứu văn học các DTTS - PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã mang đến cho bạn đọc cả nước nói chung, đồng bào các DTTS nói riêng những tác phẩm, những công trình nghiên cứu đầy công phu và tâm huyết của mình.

2252 lượt xem
100 điều nên biết về lịch sử Việt Nam
Hà Nguyễn

Với mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối liền bạn đọc về với lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn trân trọng giới thiệu cuốn sách 100 điều nên biết về lịch sử Việt Nam của tác giả Hà Nguyễn đến tay bạn đọc. Việt Nam là đất nước có lịch sử lập quốc sớm trong khu vực, được xác định vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên. Quốc gia - dân tộc Việt Nam đã trải qua tiến trình hàng nghìn năm không ngừng đấu tranh dựng nước và giữ nước, trải bao lần thống nhất và chia cắt, với những bước thăng trầm và khuất khúc, từ các không gian văn hóa - văn minh Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo gắn với các quốc gia cổ đại Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc, Champa ở miền Trung và Phù Nam ở miền Nam, kéo dài liên tục đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay.

2191 lượt xem
Hội phù đổng - Mật trận đánh thần kỳ trong truyền thuyết Việt Nam
Nguyễn Văn Huyên
Từ rất xa xưa, câu chuyện về Thánh Gióng, một cậu bé lên ba, sinh ra không biết nói, nhưng đã bật lên tiếng nói khi nghe tin có người của nhà Vua đi cầu hiền tài danh giặc cứu nước. Và câu nói đầu tiên của đời mình là xin mẹ mời sứ giả đến gặp. Rồi cậu lớn lên như thổi, cưỡi ngựa sắt đánh tan quân thù, giành độc lập cho đất nước. Câu chuyện này đã được ông bà, cha mẹ kể cho con cháu từ đời này qua đời khác, trở thành đề tài văn học với những áng thơ văn bất hủ, thành hình tượng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật và trở thành những bài đọc trong sách giáo khoa phổ thông. Câu chuyện đã gieo vào lòng các thế hệ người Việt Nam óc tưởng tượng cùng với biết bao bài học từ huyền thoại đó. Có lẽ không người Việt Nam nào không biết câu chuyện này. Thế nhưng, không phải người Việt Nam nào cũng biết tại một số làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ như các làng Phù Đổng, Phù Dực, Đổng Viên (huyện Gia Lâm), Vệ Linh, Dược Thượng (huyện Sóc Sơn, Hà Nội), người dân không những chỉ thờ Thánh Gióng mà còn tổ chức ngày hội làng với những diễn xướng và biểu tượng đầy kịch tính, vô cùng sáng tạo từ câu chuyện Thánh Gióng. Hội làng có sức thu hút và cảm thụ mãnh liệt với niềm thành kính và tín ngưỡng sâu đậm. Chính nhờ những ngày hội làng này, huyền thoại Thánh Gióng đã sống mãi với dân làng. Và hơn nữa, hội làng lại trở thành một nhu cầu văn hóa và tâm linh không thể thiếu được của nhân dân. Và với lý do đó, UNESCO đã công nhận hội Gióng ở đền Sóc và đền Phù Đổng là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Năm 1937 và 1938, nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huyên đã tham dự hội Gióng ở làng Phù Đổng. Ông đã xuất bản hai công trình trên cơ sở ghi chép lại tỉ mỉ ngày hội và đặc biệt tập trung vào miêu tả diễn xưởng và biểu tượng về một trận đánh thần kỳ trong ngày hội (xuất bản năm 1938). Những bài hát cổ và mới của Phường Ải Lao cũng được ghi lại (xuất bản năm 1941). Đặc biệt những bức ảnh đen trắng công bố trong 2 bài trên cho thấy những hình ảnh hội một cách chân thực nhất. Đây là những tư liệu đặc biệt quý, hiếm với di sản văn hóa độc đáo này. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc.
1313 lượt xem
Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam tập 1: Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

cuốn sách Di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam, tập 1: Các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Cuốn sách này nhằm nhận diện và cung cấp những kiến thức cơ bản về các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của các tỉnh/thành phố khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng và cung cấp thông tin về 10 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu ở mỗi tỉnh/thành phố. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương.

695 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)
TS. Trần Văn Miều

“Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” cung cấp những nội dung khái quát về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của rừng đối với môi trường, kinh tế và đời sống xã hội. Tài liệu tập trung giới thiệu các vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ, quản lý và khai thác rừng hợp lý gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, ấn phẩm góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích những hành động thiết thực nhằm gìn giữ và phát triển tài nguyên rừng lâu dài.

26 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản Rút gọn)
TS. Trần Văn Miều

“Bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” giới thiệu những nội dung cốt lõi về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên biển, hải đảo trong bối cảnh phát triển hiện nay. Ấn phẩm cung cấp các thông tin khái quát về thực trạng, thách thức và định hướng quản lý, khai thác hợp lý gắn với bảo tồn hệ sinh thái. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ tiếp cận, tài liệu góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hành động vì mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam.

27 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 4
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

198 lượt xem
Sa Pa - Sương và đá (Sa Pa - Fog and Rocks)
Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Lào Cai

Sa Pa nằm ở phía tây của tỉnh Lào Cai, phía bắc giáp huyện Bát Xát, phía nam giáp huyện Văn Bàn, phía đông giáp thành phố Lào Cai và huyện Bảo Thắng, phía tây giáp huyện Tam Đường và huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Lai Châu. Người địa phương gọi vùng đất này là Sa Pả (có nghĩa là bãi cát).

Mùa đông năm 1903, đoàn khảo sát trắc địa của quân đội Pháp phát hiện ra vẻ đẹp của cao nguyên Lồ Súi Tổng. Đến năm 1905, bản vẽ về cao nguyên Lồ Súi Tổng và đỉnh cao Phan Xi Păng đã được xác định. Kể từ đây, Cha Pa (tên gọi dưới thời Pháp) đã được biết đến với các tên gọi “trạm nghỉ dưỡng trên cao”, “kinh đô mùa hè ở Đông Dương”, “khu nghỉ mát điều dưỡng”. Sau 120 năm, vẻ đẹp của “nơi gặp gỡ đất trời” vẫn luôn hấp dẫn du khách muôn phương, vẫn là vùng đất gợi nhớ, gợi thương trong lòng người đến với Sa Pa.

Sa Pa bốn mùa, mùa nào cũng đẹp. Một ngày ở Sa Pa hội tụ đủ bốn mùa. Vào buổi sáng, Sa Pa ẩn mình trong khói sương. Khi nắng lên, Sa Pa ấm áp đón gió xuân. Khi mặt trời đứng bóng, trời quang mây tạnh, khắp đó đây tràn ngập hương sắc mùa hè. Khi hoàng hôn buông xuống, Sa Pa gói mình trong se lạnh. Ban đêm, cả Sa Pa chìm trong giấc ngủ đông. Từ tháng Năm đến tháng Tám, Sa Pa có mưa nhiều, lượng mưa trung bình khoảng 1.800 - 2.200mm. Mùa hè ở Sa Pa nhiệt độ khoảng 20 - 250C vào ban ngày, 13 - 150C vào ban đêm. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ trung bình 3 - 70C, có những lúc xuống tới 00C. Sa Pa cũng là một trong những nơi hiếm có của Việt Nam có tuyết rơi.  Khi hoa đào nở khắp các bản làng là lúc mùa xuân đang về.

Nhắc đến Sa Pa, nhiều người sẽ liên tưởng đến hình ảnh của đỉnh Phan Xi Păng - "nóc nhà Đông Dương", của nhà thờ đá, phố núi ẩn hiện trong sương vào mỗi buổi sáng hay chiều muộn. Sương và đá đã làm nên sự kỳ vĩ và huyền thoại của Sa Pa, làm nên những điều chỉ riêng có ở Sa Pa.

Ở Sa Pa, các tộc người: Kinh, Mông, Dao, Tày, Giáy, Xá Phó (Phù Lá)... hội tụ, sinh sống từ lâu đời. Trong đó, người Mông chiếm trên 50% dân số. Các tộc người ở đây bao đời nay đều sống hòa ái với sương, với đá. Sự kiên cường, mạnh mẽ như đá, mềm mỏng, nhẹ nhàng như sương của họ đã làm nên một bức tranh sống động về Sa Pa, tạo nên một không gian văn hóa sâu, rộng. Không gian đó tiếp tục được mở ra đầy khoáng đạt với chiều dài của lịch sử, của di sản để kết nối quá khứ với tương lai.

Ở Sa Pa, sương và đá đã trở thành biểu tượng trong tâm thức của cộng đồng các dân tộc - là triết lý sống cương - nhu, triết lý về sự hài hòa, triết lý về sự tồn tại và hồi sinh. Có thể nói, sương và đá đã tạo nên một nốt “lặng”, làm nên cái “lặng lẽ” đặc trưng của Sa Pa. Tạo nên một Sa Pa với vẻ đẹp đầy bí ẩn. Nơi đây, con người lặng lẽ trong sương, trên đá để sinh tồn và phát triển.

Từ biểu tượng của sương và đá, cuốn sách mong muốn được kể một câu chuyện bằng hình ảnh về cảnh sắc và con người Sa Pa. Câu chuyện về vẻ đẹp huyền ảo của Sa Pa ẩn hiện trong sương; về vẻ đẹp “lặng lẽ” của Sa Pa trong sương, trên đá; về những con người sống với đá, với sương; về những bản tình ca được viết nên từ sương và đá; và những khát vọng được viết nên từ vùng đất của đá và sương.

Hy vọng cuốn sách sẽ chạm được đến cảm xúc của đông đảo độc giả. Có thể chỉ là sự rung động với hạt nắng nhỏ đang nằm trong một giọt sương long lanh, là những cánh đào đỏ thắm trên hàng rào đá xinh xắn bao quanh căn nhà trình tường của người Mông. Đi vào trong câu chuyện của “Sa Pa - sương và đá”, độc giả được trở về với thiên nhiên để cảm nhận sự bao dung, hiền hòa của thiên nhiên mà thêm yêu quê hương, xứ sở, được đắm mình trong dòng chảy văn hóa để thêm yêu những con người và những cuộc đời trên đá, trong sương.

1955 lượt xem
Cẩm nang thủ tục hành chính trên môi trường số
TS. Phạm Ngọc Huyền

Cẩm nang thủ tục hành chính trên môi trường số là cuốn sách cung cấp hướng dẫn tổng quan và thực tiễn về việc thực hiện các thủ tục hành chính trong bối cảnh chuyển đổi số. Nội dung sách làm rõ quy trình, phương thức và các nền tảng số đang được áp dụng trong giải quyết thủ tục hành chính, hướng tới nguyên tắc công khai, minh bạch và thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp. Cuốn cẩm nang giúp người đọc hiểu rõ quyền, nghĩa vụ cũng như cách thức tra cứu, nộp hồ sơ, theo dõi và nhận kết quả trực tuyến. Đồng thời, sách phân tích những thay đổi trong tư duy quản lý nhà nước khi chuyển từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Qua đó, cuốn sách góp phần nâng cao kỹ năng số, hỗ trợ người dân và cán bộ thực thi hiệu quả các thủ tục hành chính trong giai đoạn hiện nay.

169 lượt xem