Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách là kết quả của quá trình tổng hợp, phân tích và đánh giá nhiều năm dựa trên nguồn dữ liệu từ Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, các báo cáo chuyên ngành du lịch của 28 tỉnh thành ven biển1, cùng hệ thống nghiên cứu trước đây về điều kiện tự nhiên, tài nguyên biển đảo, biến đổi khí hậu và các yếu tố tác động đến phát triển du lịch biển. Với bố cục chặt chẽ gồm các chương về cơ sở lý luận, thực trạng tài nguyên biển đảo, đặc điểm kinh tế - xã hội, cơ chế chính sách, thị trường khách du lịch, hệ thống sản phẩm đặc trưng, cuốn sách không chỉ khái quát tiềm năng, lợi thế mà còn chỉ ra những thách thức lớn đối với phát triển du lịch biển đảo Việt Nam.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sẽ góp phần lan tỏa nhận thức đúng đắn và thúc đẩy sự phát triển văn minh, bền vững của du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hà Nội dường như là thủ đô thiên nhiên của châu thổ sông Nhị, của miền Bắc Việt Nam. Các mạch núi Tây Bắc đều dồn về đây, các dòng sông cũng dồn về đây rồi toả ra thế “chúng thuỷ triều Đông”. Và có lẽ bởi vậy mà vùng“đất lành chim đậu” này cũng trở thành nơi hội tụ của các anh tài, các nghệ nhân từ khắp mọi miền đất nước. Từ mùa thu năm Canh Tuất (1010) đất kinh thành được phục hưng và bừng nở với Long phượng thành, với 61 rồi 36 phố phường, với thập tam trại và nhiều chợ búa ở cửa ô. Trí thức, thương nhân, thợ thủ công tụ hội về đây chen đua, cọ sát trí năng thủ xảo, tâm linh để dần dần kết tinh thành văn hiến, văn vật, thành tài hoa đất kinh kỳ. Nếu nhà văn Tô Hoài cho rằng Hồ Gươm - Kẻ Chợ tạo ra tiếng Hà Nội, do trăm nhà trăm vùng đua tiếng rồi dung hợp lại mà thành, không giống bất cứ một phương ngữ tiếng Việt nào thì “tài khéo đất rồng” là kết quả hội tụ và kết tinh cái sành sỏi, cái tế vi của người Hà Nội. Xung quanh Thăng Long - Đông Kinh - Kẻ Chợ mọc dần lên các làng chuyên doanh đặc sản: các làng nghề như gốm sứ Bát Tràng, vàng quỳ Kiêu Kỵ, làng nghề giấy vùng Bưởi, làng hoa Ngọc Hà, quất Nghi Tàm... Làng nghề trồng trọt, làng nghề thủ công cứ thế mà nổi danh cùng năm tháng. Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, nhiều nghề, làng nghề Hà Nội vẫn tồn tại, phát triển và để lại dấu ấn khó quên trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam. Thăng Long - Hà Nội ngày càng bộc lộ một diện mạo phong phú, một tiềm năng không nhỏ, một truyền thống nghề không thể để mai một với thời gian. Hà Nội có tiềm năng lớn về du lịch các làng nghề. Khách đến với Hà Nội không chỉ được chiêm ngưỡng các danh thắng, di tích lịch sử và các lễ hội mà còn được thưởng thức, ngắm nhìn cả một bảo tàng sống động về các sản phẩm đặc sắc, phong phú và đa dạng của các làng nghề đã được hình thành và tồn tại hàng ngàn năm lịch sử.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Thị Thu Dung (chủ biên) biên soạn và xuất bản cuốn sách Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Nội dung được kết cấu thành 2 phần gồm một số bài viết và bài nghiên cứu chuyên sâu, phản ánh những giá trị đặc sắc trong đời sống văn hóa cũng như đặc điểm ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số sinh sống tại tỉnh Điện Biên. Mỗi bài viết đều là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của các tác giả - những người tâm huyết với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Cuốn sách không chỉ cung cấp những tư liệu quý báu về ngôn ngữ, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Điện Biên, mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí của văn hóa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ hội nhập.
Người Sán Dìu có nhiều tên gọi khác nhau như: Sán Dìu, Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc...Tháng 3-1960, Tổng cục Thống kê Trung ương đã đưa vào danh mục thống kê tên gọi Sán Dìu và từ đó đến nay, Sán Dìu đã trở thành tên gọi chính thức và phổ biến của tộc người này.
Theo số liệu thống kê năm 2019, người Sán Dìu đang sinh sống tại Bắc Giang với dân số 33.846 người, tập trung tại các huyện Lục Ngạn 26.236 người, huyện Lục Nam 4.237 người, Lạng Giang 1.584 người, Yên Thế 721 người.
Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, cấp sắc Đại Phan ….hàng năm bà con tảo mộ ngày 3/3 Tết thanh minh, ngày 5/5 cúng tổ tiên, dằm tháng bảy lễ cơm mới…các món ăn truyền thống như: xôi đỏ, bánh rợm, bánh chưng, bánh đỗ xanh, bánh đường…
Phụ nữ Sán Dìu thường mặc váy và chiếc váy của người Sán Dìu là một trong những nét độc đáo mang tính riêng biệt của dân tộc. Váy màu nâu đỏ, không khâu, gồm 2 hoặc 4 mảnh đính trên 1 cạp, có dải yếm, xà tích. Phụ nữ Sán Dìu thường quấn xà cạp bằng vải màu trắng hoặc màu nâu. Đồng bào hay đi dép quai ngang và guốc gộc. Phụ nữ có sung màu trắng đeo trên vai được làm từ dây dù, cước được bện bằng đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Sán Dìu, thời gian hoàn thành xong khoảng 1-2 tháng. Ngày nay phụ nữ Sán Dìu cũng mặc quần, áo sơ mi và đi dép nhựa, giày da, giày vải như người Kinh. Trang sức của người Sán Dìu có vòng tay, vòng cổ, khuyên tai bạc, dao.
Trước đây trong các dịp lễ Tết, hội hè hoặc đi chơi xa, đàn ông thường mặc hai áo, áo trong màu trắng, áo ngoài màu đen. Đó là loại áo 5 thân, cổ áo cài khuy bên phải, áo dài quá gối, ống tay hẹp. Ngày nay trong dân tộc Sán Dìu, nam giới mặc quần áo giống hệt người Kinh với các kiểu quần Âu, áo sơ mi nâu sòng, hồng đỏ, đi giày da, dép nhựa...
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, cùng mục tiêu góp phần lan tỏa tri thức, chia sẻ kinh nghiệm và định hướng phát triển cho lĩnh vực này, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Mạnh Cường biên soạn và xuất bản cuốn sách Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Cuốn sách là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, kết hợp giữa cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động từ các địa phương, phản ánh nỗ lực chung trong việc tìm kiếm mô hình phát triển kinh tế cộng đồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa của vùng miền.
“Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” cung cấp những nội dung khái quát về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của rừng đối với môi trường, kinh tế và đời sống xã hội. Tài liệu tập trung giới thiệu các vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ, quản lý và khai thác rừng hợp lý gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, ấn phẩm góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích những hành động thiết thực nhằm gìn giữ và phát triển tài nguyên rừng lâu dài.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Trần Ngọc Trác - Đặng Minh Tâm biên soạn, xuất bản cuốn sách Di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên - Một góc nhìn. Nội dung cuốn sách được kết cầu gồm 2 phần: Phần I: Khái quát một số dân tộc phổ biến ở Tây Nguyên Phần II: Di sản văn hóa các dân tộc Tây Nguyên Cuốn sách là kết quả của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trăn trở của các tác giả với những giá trị văn hóa độc đáo của vùng đất này. Bằng lối tiếp cận đa chiều - kết hợp giữa khảo cứu, quan sát thực địa và suy ngẫm cá nhân - tác giả đã mang đến cho bạn đọc một cái nhìn sâu sắc về di sản vật thể và phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập.
Nội dung cuốn sách Nghệ thuật Champa - Tượng Phật giáo sẽ giúp bạn đọc là các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên chuyên ngành văn hóa và những người yêu nghệ thuật cổ hiểu sâu hơn về ngôn ngữ tạo hình, biểu tượng tâm linh và tư tưởng thẩm mỹ của điêu khắc Phật giáo Champa. Hy vọng rằng, qua từng trang sách, độc giả không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của những pho tượng cổ mà còn thấy được tâm thức tôn nghiêm, niềm tin và khát vọng hướng thiện đã thấm sâu trong từng đường nét đá sa thạch Champa - một phần không thể tách rời của di sản văn hóa Việt Nam và nhân loại.
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) và 70 năm truyền thống Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng (3/3/1955 - 3/3/2025), Ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân tổ chức biên soạn cuốn sách “Kỷ yếu phi công tiêm kích Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1974-2024” nhằm vinh danh 586 phi công tiêm kích đã và đang ngày đêm canh giữ bầu trời Tổ quốc, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, trường tồn trong thái bình.
Ban liên lạc Cựu chiến binh Không quân trân trọng cảm ơn Thủ trưởng Bộ Tư lệnh và các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng Phòng không - Không quân; các cựu chiến binh; các thân nhân phi công tiêm kích đã hy sinh, từ trần; các tổ chức, cá nhân tài trợ; Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi về mọi mặt trong quá trình biên soạn, xuất bản cuốn sách!
Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, biên soạn, nhưng khó tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự góp ý của các đồng chí để cuốn sách được hoàn thiện hơn! Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với các đồng chí và bạn đọc!
BAN LIÊN LẠC
CỰU CHIẾN BINH KHÔNG QUÂN
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng Việt Nam” là cuốn sách chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm sáng tỏ vai trò, sứ mệnh và những chuẩn mực cốt lõi của nền báo chí cách mạng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác phẩm hệ thống một cách khoa học các quan điểm của Người về bản chất của báo chí cách mạng; yêu cầu về đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ nghiệp vụ của người làm báo; cũng như phương pháp, phong cách tuyên truyền gần dân, trọng dân, vì dân.
Cuốn sách cũng phân tích tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng đội ngũ nhà báo trung thực, giản dị, dũng cảm, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên hết. Thông qua việc luận giải những giá trị thời sự và định hướng vận dụng trong bối cảnh mới, tác phẩm giúp độc giả hiểu sâu hơn nền tảng tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam hiện nay, đồng thời gợi mở các giải pháp nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp và tính nhân văn của báo chí trong thời kỳ chuyển đổi số.
Nội dung sách phân tích một cách hệ thống các yếu tố cấu thành không gian văn hóa Duyên hải Nam Trung Bộ như môi trường sinh thái biển, quá trình khai phá và định cư, cơ cấu cộng đồng dân cư, hệ thống tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công và văn hóa biển đảo.
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới