Văn hóa - Xã hội
Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Thủ đô Hà Nội là trung tâm của cả nước, nơi hội tụ tinh hoa văn hoá dân tộc. Ít có nơi nào lưu giữ được nhiều chứng tích lịch sử như thành phố Hà Nội. Nơi đây, mỗi địa danh, mỗi đường phố đều gắn với các sự tích, chiến công của ông cha. Những địa danh như Cổ Loa, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình... chứa đựng những dấu ấn, ghi nhớ những chặng đường lịch sử quan trọng, thể hiện ý chí bất khuất và tài năng của nhân dân Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Một nét kiến trúc Chùa Một Cột, tổng hòa không gian Văn Miếu - Quốc Tử Giám... đều góp phần làm rạng rỡ truyền thống lịch sử - văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là chứng tích vô giá của truyền thống ngàn năm văn vật, là viên ngọc quý, là cổ vật thiêng liêng của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Các di tích lịch sử - văn hóa Hà Nội là biểu tượng của sức sống nội tại, được dựng xây từ mồ hôi công sức và cả xương máu của lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng. Đó là những tảng đá nền kê chân cột để tạo dựng tòa nhà cao vững, vừa là bằng sắc để minh chứng cho quá khứ huy hoàng, vừa là di sản quý giá, là nét vàng son của phẩm chất đặc trưng cho con người Hà Nội, con người Việt Nam, vừa là linh hồn truyền tải những giá trị thiêng liêng của mảnh đất ngàn năm văn vật. Thăng Long - Hà Nội sắp bước qua tuổi ngàn năm. Thăng Long - Hà Nội có hàng ngàn di tích lịch sử - văn hóa. Các di tích lịch sử - văn hóa chính là một cây cầu kết nối Thăng Long xưa với Hà Nội nay, nối liền quá khứ - hiện tại - tương lai. Yêu Thăng Long - Hà Nội, trân trọng di sản của ông cha, trước hết và hơn hết là yêu, trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội.
4331 lượt xem
Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các tỉnh phía bắc
PSG. TS Hoàng Lương
Cuốn sách “Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam - các tỉnh phía Bắc” giúp người đọc nắm bắt một cách có hệ thống, toàn diện những nghi thức, nghi lễ và nội dung của các lễ hội, các hình thái tín ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam. Qua đó, có thể thấy rõ vai trò quan trọng của lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng để trân trọng, kế thừa phát huy những cái hay, nét đẹp của chúng góp phần xây dựng nền văn hóa các dân tộc Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nội dung cuốn sách gồm 3 phần: Phần I: Lý thuyết chung về lễ hội truyền thống các dân tộc ở Việt Nam. Phần II: Một số lễ hội tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam. Phần III: Những giá trị của lễ hội tiêu biểu các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam. Phần IV: Một số hình ảnh minh họa của lễ hội truyền thống.
2819 lượt xem
100 điều nên biết về lịch sử Việt Nam
Hà Nguyễn

Với mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối liền bạn đọc về với lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn trân trọng giới thiệu cuốn sách 100 điều nên biết về lịch sử Việt Nam của tác giả Hà Nguyễn đến tay bạn đọc. Việt Nam là đất nước có lịch sử lập quốc sớm trong khu vực, được xác định vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên. Quốc gia - dân tộc Việt Nam đã trải qua tiến trình hàng nghìn năm không ngừng đấu tranh dựng nước và giữ nước, trải bao lần thống nhất và chia cắt, với những bước thăng trầm và khuất khúc, từ các không gian văn hóa - văn minh Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo gắn với các quốc gia cổ đại Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc, Champa ở miền Trung và Phù Nam ở miền Nam, kéo dài liên tục đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay.

2764 lượt xem
Khu di tích hang Con Moong tính xác thực, tính toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa; Trung tâm Nghiên cứu lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa

Cuốn sách Khu di tích Hang Con Moong: tính toàn vẹn, xác thực và giá trị nổi bật toàn cầu do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa, thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thực hiện với sự tham gia biên soạn của PGS.TS. Nguyễn Khắc Sử, PGS.TS. Bùi Văn Liêm và TS. Nguyễn Văn Hải vừa hoàn thành, sau thành công của Hội thảo khoa học về Hang Con Moong tháng 7 năm 2025. Cuốn sách đã trình bày có hệ thống toàn bộ kết quả các lần khai quật, nghiên cứu di tích Hang Con Moong và phụ cận vốn được giới khảo cổ học trong và ngoài nước tiến hành trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua, trong đó có sự đóng góp trực tiếp của chính các tác giả cuốn sách này. Các tư liệu khai quật đã được phân tích chuyên sâu, làm rõ các đặc trưng nổi bật về di tích, di vật, xác định niên đại, các giai đoạn phát triển tiền sử Hang Con Moong và phụ cận trong bối cảnh rộng hơn.  

1085 lượt xem
So sánh Xú-pha-xít Lào với ca dao Việt Nam
PGS. TS Lý Hoài Thu, ThS Tạ Hồng Hạnh, TS Nguyễn Phương Liên
Người Lào có câu xú-pha-xít “Mạy huồm co po huồm xược” (Đay chung dây, cây chung khóm). Quan hệ Việt Nam - Lào như lá chung một cành, như hoa chung một bụi. Hai đất nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam Á, không chỉ liền kề nhau về địa lý mà còn có mối quan hệ bang giao hữu hảo lâu đời. Bởi vậy, bên cạnh những điểm khác nhau tất yếu, xuất phát từ bản sắc dân tộc, nền văn hóa hai nước nói chung, văn học dân gian hai nước nói riêng có những điểm tương đồng như là bản chất chung trong quá trình sáng tạo folklore nhân loại cũng như sự giống nhau do những điều kiện lịch sử, địa lý tự nhiên và những quan hệ giao lưu văn hoá mang lại. Nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau này thông qua việc so sánh xú-pha-xít Lào và ca dao Việt Nam sẽ góp phần khẳng định tính độc lập của mỗi dân tộc; đặc biệt, không chỉ giúp cho những người quan tâm hiểu biết thêm về xú-pha-xít Lào hay ca dao Việt Nam, hiểu rõ hơn những nét đẹp truyền thống trong tâm hồn và tính cách của chính mình và của người bạn láng giềng mà còn góp phần làm sáng tỏ sự giống nhau kỳ lạ, đến từng chi tiết của một bộ phận văn học dân gian giữa hai dân tộc. Trong giáo trình chính thống của ngành Văn học, các tác giả đề cập đến khái niệm trữ tình dân gian (để phân biệt với tự sự dân gian), có sử dụng cụm từ “ca dao, dân ca” đi liền với nhau. Trong đó, khi nhấn mạnh đến ba yếu tố cần chú ý để phân loại dân ca Việt Nam: 1 - Lời ca (câu hay bài) 2 - Giai điệu (giọng hoặc làn điệu) 3 - Hình thức sinh hoạt (hay lề lối hát) Có thể thấy, yếu tố thứ hai đặc trưng cho dân ca nhưng hai yếu tố còn lại thì có thể bắt gặp ở khái niệm được định danh là “ca dao” trong văn học dân gian Việt Nam. Thậm chí có thể thấy là lời những bài dân ca có cùng thi pháp với ca dao, hay có thể sử dụng bất kỳ câu ca dao nào làm lời cho một làn điệu dân ca ngẫu hứng (hát ru con, hò...). Cuốn sách còn chia riêng thể loại “Lời ăn tiếng nói của nhân dân” bao gồm tục ngữ và câu đố. Tuy nhiên, trong văn học dân gian Lào tồn tại hai khái niệm: xú-pha-xít có nội hàm bao gồm thành ngữ, tục ngữ, câu đố và cả ca dao (vì gồm nhiều câu dài, hoặc những tác phẩm được ghi lại thành lời, tách riêng khỏi các làn điệu...); lăm và khắp có nội hàm tương tự dân ca ở Việt Nam. Chính do sự khác biệt trong cách phân loại cũng như tính nguyên hợp trong các thể loại của folklore, trong cuốn sách này, chúng tôi sử dụng khái niệm “phương ngữ” (phương: mùi thơm, ở đây chỉ những câu nói tinh hoa của dân gian (Trữ tình dân gian: ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian), khác với cách hiểu phương ngữ là “từ/tiếng địa phương” hay thổ ngữ) song song với “ca dao” để so sánh với xú-pha-xít của Lào.
2811 lượt xem
Món ngon Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Nói đến hương và vị của món ăn Việt Nam, trước hết phải nói đến món ngon Hà Nội. Chính chiều dài lịch sử, bề dày văn hoá của mảnh đất rồng thiêng ngàn năm đã góp phần quan trọng hình thành khẩu vị của người Hà Nội. Hà Nội là nơi hội tụ của bốn phương, mang chứa tinh hoa hương vị, khẩu vị của mọi vùng, mọi xứ. Các món quà từ khắp nơi được mang về Hà Nội, được kiểm định, tôn vinh và gìn giữ trên chính mảnh đất này. Cái ngon ở Hà Nội dào dạt những hương vị hồn quê ấy. Mấy bìa đậu phụ Mơ mềm mại, ngọt mát; Một bát phở bò nghi ngút; Mấy cặp chả cá thơm lừng; Bát canh cá rô Đầm Sét; Chén rượu tim rắn ấm nồng; Đĩa giò Ước Lễ mềm đậm; Vài phong bánh cốm trong ngày cưới; Bánh cuốn Thanh Trì, bánh cốm Hàng Than, bánh tôm Hồ Tây, bánh chè lam Thạch Xá, bánh dợm Phú Nhi, bánh đa Sủi, bánh dày Quán Gánh... đượm chút gì rất tinh tế, ý vị trong thú ẩm thực đất Kinh kỳ. Tất cả tạo nên một phong vị rất riêng của ẩm thực đất Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến.
3508 lượt xem
Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) - Tập 2
PGS. TS. Nguyễn Thừa Hỷ

Tuyển tập Văn hóa và hội nhập (Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam) bao gồm 17 nghiên cứu được PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ thực hiện và công bố trong gần 50 năm. Các công trình này thuộc nhiều chủ đề, nội dung, lĩnh vực khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự thời gian công bố lần đầu. Qua tuyển tập này, bạn đọc có thể thấy rõ quá trình tìm hiểu, suy tư, cũng như những biến chuyển trong nhận thức và tư duy của tác giả về các vấn đề văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời thấy được những nỗ lực không ngừng và vượt bậc góp phần cung cấp một cách tiếp cận về phức hợp văn hóa Việt của PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ.

Trong lần xuất bản năm 2026, hưởng ứng tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông tổ chức xuất bản tuyển tập dưới dạng sách điện tử và tách thành hai tập để thuận tiện cho việc tra cứu, tiếp cận và khai thác nội dung, qua đó tạo điều kiện để tác phẩm đến với đông đảo độc giả trong và ngoài nước.

Nhà xuất bản tôn trọng và giữ nguyên giá trị của các ấn bản gốc trong quá trình số hóa và xuất bản. Nội dung các bài viết được bảo đảm tính nguyên bản, phản ánh trung thực tư liệu và bối cảnh nghiên cứu của từng thời kỳ. Để hỗ trợ bạn đọc thuận tiện hơn trong quá trình tiếp cận và tra cứu, Nhà xuất bản có bổ sung chú thích, chỉnh lý kỹ thuật và hiệu chỉnh một số chi tiết nhỏ về hình thức trình bày cho phù hợp với quy chuẩn hiện nay; đồng thời giữ nguyên tên gọi các địa danh, đơn vị hành chính theo thời điểm khảo sát và công bố của tác giả nhằm bảo đảm tính lịch sử và giá trị tư liệu của công trình.

Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình biên tập và xuất bản, ấn phẩm khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự góp ý, chia sẻ của bạn đọc để các lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn. Hơn hết cả, chúng tôi trân trọng giới thiệu tới những người yêu quý, quan tâm đến lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam một công trình nghiên cứu tâm huyết và giàu giá trị tham khảo về văn hóa và hội nhập.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

NHÀ XUẤT BẢN

KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ -TRUYỀN THÔNG

284 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Huế
Hà Nguyễn

Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Huế của tác giả Hà Nguyễn là công trình giới thiệu toàn diện về một trong những tiểu vùng văn hóa đặc sắc và tiêu biểu của Việt Nam. Cuốn sách khái quát quá trình hình thành và phát triển của văn hóa xứ Huế, làm rõ những yếu tố tạo nên bản sắc riêng của vùng đất cố đô, nơi hội tụ và kết tinh nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nội dung sách đề cập đến con người xứ Huế, đời sống vật chất, kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và hệ thống di sản văn hóa phong phú của vùng đất này. Đặc biệt, tác phẩm nhấn mạnh nét văn hóa cung đình và tính cách thanh lịch, tinh tế của Huế, những giá trị vẫn được bảo tồn và phát huy trong đời sống đương đại. Với cách trình bày khoa học, dễ hiểu cùng nhiều tư liệu minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về vị trí, vai trò và những đóng góp của xứ Huế trong không gian văn hóa Việt Nam.

407 lượt xem
Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc
Trung tâm nghiên cứu phát triển Vùng

Ngọc Lặc là huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy, Bá Thước; phía Nam giáp huyện Thọ Xuân, Thường Xuân; phía Tây giáp huyện Lang Chánh; phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Yên Định.

Ngọc Lặc từ xa xưa đã giữ một vị trí địa lý khá đặc biệt. Đối với nội tỉnh Thanh Hóa, Ngọc Lặc là vùng đất cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa vùng miền núi với các huyện đồng bằng của tỉnh. Đối với bên ngoài tỉnh, Ngọc Lặc có tính chất mở ra với các địa phương khác trong nước. Vị trí địa lý của Ngọc Lặc ngày càng phát huy giá trị của một vùng đất mang tính cởi mở tạo nên thế và lực cho huyện trong thời kỳ hợp tác và phát triển.

Ngọc Lặc có diện tích tự nhiên 49.092,4 ha; có 21 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm Thị trấn Ngọc Lặc (huyện lỵ) và 20 xã: Cao Ngọc, Cao Thịnh, Đồng Thịnh, Kiên Thọ, Lam Sơn, Lộc Thịnh, Minh Sơn, Minh Tiến, Mỹ Tân, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Trung, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Quang Trung, Thạch Lập, Thúy Sơn, Vân Am.

Ngọc Lặc là nơi có một lịch sử cư trú lâu đời của các dân tộc: Mường, Kinh (Việt), Dao, Thái. Tính đến ngày 31/12/2023, dân số của Ngọc Lặc là 35.137 hộ. Trong đó, người Mường có 25.295 hộ, chiếm hơn 70% dân số toàn huyện. Người Kinh có 9.209 hộ, chiếm 28% dân số toàn huyện. Người Dao, người Thái và các dân tộc khác chiếm khoảng gần 2% dân số toàn huyện.

Ở Ngọc Lặc, người Mường có mặt khắp nơi trong huyện, đông nhất là ở các xã: Thạch Lập, Nguyệt Ấn, Vân Am, Thúy Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Mỹ Tân, Cao Ngọc, Quang Trung, Đồng Thịnh, Lộc Thịnh, Ngọc Trung, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Minh Tiến, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Cao Thịnh và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Kinh có số dân đông ở các xã: Lam Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Ngọc Liên, Cao Thịnh, Minh Tiến và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Dao tập trung tại làng Tân Thành thuộc xã Thạch Lập, làng Hạ Sơn thuộc thị trấn Ngọc Lặc và làng Phùng Sơn thuộc xã Phùng Giáo. Người Thái cư trú tại xã Phùng Minh, Phúc Thịnh.

Các dân tộc ở Ngọc Lặc cư trú và sinh sống với nhau hòa hợp. Người Mường có mặt trên đất Ngọc Lặc từ rất lâu đời. Huyền thoại về vùng đất cho biết các Mường như Mường Rặc (nay thuộc xã Quang Trung, Ngọc Liên, và một phần xã Ngọc Sơn), Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Chẹ (nay thuộc xã Cao Ngọc, Mỹ Tân); Mường Lập, Mường Yến (nay thuộc xã Thạch Lập); Mường Tạ (nay thuộc xã Thúy Sơn và một phần của xã Thạch Lập); Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Ngòn (nay thuộc xã Ngọc Khê); Mường Ứn; Mường Bằng (nay thuộc xã Kiên Thọ, Nguyệt Ấn); Mường Um (nay thuộc xã Vân Am) là các Mường cổ trong vùng. Từ đó, đã hình thành nên những lớp di sản văn hóa dân gian Mường phong phú, có nét sắc thái riêng, biểu hiện rõ nét trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục, lễ hội và nguồn tri thức dân gian, kiến tạo nên bản sắc vùng đất Ngọc Lặc với nền tảng văn hóa Mường sâu đậm. Và nét đặc trưng dễ nhận thấy nhất là không gian sinh sống của người Mường với kiến trúc ngôi nhà sàn truyền thống. Trên địa bàn huyện hiện có gần một nghìn ngôi nhà sàn, trong đó, tập trung nhiều nhất là làng Lập Thắng, xã Thạch Lập. Lập Thắng là làng văn hóa du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Mường.

Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, vùng đất Ngọc Lặc có địa thế chiến lược trọng yếu, là căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược. Vì thế Ngọc Lặc là vùng đất có mật độ cao về các di tích lịch sử, văn hóa: Đền thờ Trung túc vương Lê Lai, Đền Lai, Đền Lê Lâm, Đền Mỹ Lâm, Đền Cao, Đền Chẹ, Đền Cọn, Đền Riếng, Đền Bà Chúa Chầm, Thiền tự Trúc Lâm - Bàn Bù. Các di tích lịch sử, văn hóa này đều gắn với các lễ hội truyền thống có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng các dân tộc ở Ngọc Lặc và các vùng phụ cận.

Trên cơ sở tính đặc sắc của tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa, Ngọc Lặc có đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch: Du lịch cộng đồng, Du lịch sinh thái, Du lịch văn hóa, Du lịch tâm linh, Du lịch nghỉ dưỡng, Du lịch nông thôn, đưa du lịch trở thành một ngành, một thành phần kinh tế quan trọng của địa phương. Du lịch là ngành định hướng tài nguyên rất rõ nét, vì vậy, việc biên soạn sách Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc có ý nghĩa quan trọng, nhận diện các giá trị văn hóa truyền thống và giá trị tự nhiên có thể khai thác phát triển thành sản phẩm du lịch, đồng thời quảng bá, giới thiệu về tài nguyên du lịch Ngọc Lặc, nhằm đưa các di tích lịch sử, văn hóa trở thành các điểm đến, cùng các giá trị văn hóa đặc sắc trở thành các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn đối với du khách khi đến Ngọc Lặc.

2881 lượt xem
Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn
Hoàng Tuấn Cư, Đỗ Trí Tú

Lễ hội truyền thống là kết tinh của bản sắc văn hóa các dân tộc xứ Lạng, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với sự đa dạng của cộng đồng Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông…, Lạng Sơn hình thành một không gian văn hóa phong phú, trong đó lễ hội giữ vai trò trung tâm, phản ánh toàn diện đời sống xã hội và tinh thần của cư dân bản địa. Trước tác động của hiện đại hóa và công nghệ số, nhu cầu gìn giữ, nghiên cứu và phát huy lễ hội truyền thống càng trở nên cấp thiết, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và cội nguồn cộng đồng. Từ khảo sát thực tiễn và tư liệu nghiên cứu, cuốn sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn” được biên soạn nhằm giới thiệu những giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội người Tày trong bức tranh văn hóa Đông Bắc Việt Nam.

6107 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ
Hà Nguyễn

Cuốn sách “Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ” giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất Nghệ An – Hà Tĩnh, nơi giàu truyền thống lịch sử và cách mạng. Tác phẩm khắc họa sinh động đời sống văn hóa, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội và các loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu của người dân xứ Nghệ. Đặc biệt, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về những nét đẹp của dân ca ví, giặm cùng tinh thần hiếu học, cần cù và nghĩa tình của con người nơi đây. Với nội dung phong phú và giàu tính nghiên cứu, sách góp phần bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của xứ Nghệ. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến văn hóa và lịch sử Việt Nam.

562 lượt xem
Di sản Văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh Lào Cai - Intangible cultural heritages of the ethnic minorities in Lào Cai province
Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Lào Cai, Hà Văn Thắng (Chủ biên)

Được coi là vùng đất cổ, là cửa ngõ thông thương với vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào Cai độc đáo với cảnh quan tươi đẹp, núi non hùng vĩ, là nơi cư trú của nhiều dân tộc với 25 nhóm, ngành khác nhau, như: Mông, Dao, Tày, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Kinh… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, bằng tài năng sáng tạo của con người cùng với sự đa dạng về các thành phần dân tộc, Lào Cai đã có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú về loại hình, độc đáo về bản sắc tộc người, với một hệ thống: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; phong tục tập quán; tri thức dân gian… 

Từ khi được tái lập năm 1991, với bộn bề những khó khăn trong công cuộc tái thiết nền kinh tế, xã hội còn  lạc hậu của một tỉnh miền núi nhưng các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã sớm chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các dân tộc. 

Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 13 của Tỉnh ủy về phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; 

Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 8 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển văn hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành chương trình kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 25 nhóm, ngành dân tộc cư trú ở 500 thôn bản trên toàn tỉnh; lựa chọn và lập hồ sơ khoa học được 26 di sản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trong đó 02 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là: Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, GiáyNghi lễ Then của người Tày trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái”. 

Bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở hình thành và tạo nên giá trị cốt lõi để phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn độc đáo, góp phần đưa Lào Cai trở thành một địa phương được đông đảo bạn bè trong nước và ngoài nước biết đến, thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai. 

Trong những năm qua, Lào Cai luôn dẫn đầu các tỉnh phía Tây Bắc về số lượng khách du lịch. Năm 2019, lượng khách đến Lào Cai đạt gần 5 triệu lượt, doanh thu từ du lịch đạt 19.800 tỷ đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. 

Có thể nói, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc của tỉnh Lào Cai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ðể có được những kết quả này, ngoài sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp thực hiện chặt chẽ của các sở, ngành, còn có sự chung tay của cộng đồng các dân tộc, của các nghệ nhân dân gian, những người am hiểu sâu sắc về vốn văn hóa truyền thống của dân tộc. Di sản văn hóa sẽ mãi tồn tại và phát triển, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ hội nhập.

3955 lượt xem
Học, đọc sách và sáng tạo (Hay tư tưởng về phát triển con người)
TS. Vũ Thùy Dương, GS. TS. Nguyễn Như Ý, TS. Trần Chí Đạt, Võ Thế Quân

“Học, đọc sách và sáng tạo (Hay tư tưởng về phát triển con người)” là cuốn sách đề cao vai trò của học tập, đọc sách và sáng tạo trong quá trình hoàn thiện và phát triển con người. Tác phẩm khẳng định đọc sách là con đường hiệu quả để tiếp thu tri thức, mở rộng hiểu biết và rèn luyện tư duy. Không chỉ dừng lại ở việc học hỏi, cuốn sách còn nhấn mạnh tầm quan trọng của sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Với những luận điểm sâu sắc và giàu tính nhân văn, tác phẩm truyền cảm hứng cho mỗi người xây dựng thói quen học tập suốt đời. Đây là cuốn sách hữu ích dành cho những ai mong muốn phát triển bản thân và đóng góp tích cực cho xã hội.

426 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long
Hà Nguyễn

Cuốn sách “Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long” giúp người đọc khám phá những nét đặc sắc của vùng đất cực Nam Tổ quốc. Tác phẩm giới thiệu đời sống văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng của cư dân nơi đây. Qua đó, người đọc hiểu rõ hơn sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và Chăm trong vùng. Với nội dung phong phú và cách trình bày dễ hiểu, cuốn sách góp phần làm nổi bật bản sắc văn hóa độc đáo của Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai yêu thích và muốn tìm hiểu về văn hóa Việt Nam.

412 lượt xem
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã
TS. Nguyễn Mạnh Cường

Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã là cuốn sách tập trung giới thiệu vai trò và lợi ích của công nghệ số trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp và kinh tế hộ. Nội dung sách trình bày các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong tổ chức sản xuất, quản lý quy trình, truy xuất nguồn gốc, bảo quản và chế biến sản phẩm. Đồng thời, sách phân tích cách thức tận dụng nền tảng số, thương mại điện tử và mạng xã hội để mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm. Cuốn sách cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong quá trình chuyển đổi số ở hộ gia đình và hợp tác xã hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các mô hình, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực quản lý, tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho khu vực kinh tế nông thôn.

1014 lượt xem
Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số
PGS.TS Trần Thị Việt Trung

Cuốn sách Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số dày dặn (hơn 400 trang), bao gồm 2 phần: - Phần I: Nghiên cứu về văn học các DTTS dưới góc độ thể loại; - Phần II: Phê bình tác giả, tác phẩm văn học DTTS. Đây thực sự là một cuốn sách vừa công phu, có tính lý luận, tính thực tiễn, tính khoa học lại vừa có chất tài hoa, nghệ sĩ của một nhà thơ làm lý luận phê bình văn học. Điểm nhấn của cuốn sách chính là phần tác giả viết về tình hình và đặc điểm của mảng nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS Việt Nam (Chương 3 - Phần I). Đây có lẽ là phần viết có tính mới, tính khoa học rõ rệt nhất và cũng là phần đóng góp mới, có giá trị của nhà nghiên cứu, phê bình Trần Thị Việt Trung - trong việc bổ sung, hoàn thiện bức tranh chung của đời sống lý luận phê bình văn học Việt Nam sau 1945. Bởi trong các công trình nghiên cứu về lý luận phê bình văn học Việt Nam nói chung hiện nay - hầu như mảng lý luận phê bình văn học DTTS còn rất ít được nhắc tới; hoặc có được nhắc tới (trong một số bài báo, bài nghiên cứu lẻ) thì cũng mới chỉ ở dạng điểm qua, thiếu tính hệ thống và chưa có cái nhìn toàn diện. Phần II của cuốn sách (phê bình tác giả, tác phẩm) với lối viết phê bình, lối dựng chân dung đầy sắc sảo, tài hoa đã thể hiện khá rõ chất “nữ tính” trong từng trang viết của tác giả. Dồn bao tình cảm, trí tuệ và sự đam mê của mình vào việc nghiên cứu văn học các DTTS - PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã mang đến cho bạn đọc cả nước nói chung, đồng bào các DTTS nói riêng những tác phẩm, những công trình nghiên cứu đầy công phu và tâm huyết của mình.

2802 lượt xem