Văn hóa - Xã hội
Hanoi Famous People
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Thang Long - Hanoi is the sacred land of Vietnam, which boasts spirit accumulation for one thousand years. It is the place that has created and fostered a great number of heroic, famous people, who are strikingly brilliant mirrors throughout the history of the nation. Over the past one thousand years, since the country’s foundation, there has always been a large number of those who have contributed to the nation’s history. They are sparkling stars in the history of Thang Long - Hanoi. Hanoi famous people, who were born and grew up in the beloved 1,000-year-old land, contributed their intelligence and strength to build and protect the country. In addition, they played significant roles in the society with decisive contributions to the course of the national history. They engraved their names and homeland into the history with their reputation, achievements and merits in their devoted life-time to the nation. Thang Long - Hanoi is about to reach its 1,000th birthday with the opening of a new development period and powerful vitality of the land. On reviewing its typical representatives, famous people, we can see the people who, with their own mind and soul, energy and enthusiasm, significantly contributed to the creation of the noble and immortal Thang Long...
1532 lượt xem
Con đường tương lai
Nguyễn Xuân Tuấn

Cuốn sách ghi lại những suy nghĩ của tác giả về thời thế, cuộc sống trong từng giai đoạn khác nhau của lịch sử.

204 lượt xem
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đánh giá khả năng đề cử và xác định tiêu chí xây dựng hồ sơ di sản đề cử UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản Thế giới đối với di tích hang Con Mooong, xã Thành Vinh, tỉnh Thanh Hóa
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa; Trung tâm Nghiên cứu lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa

Hội thảo nhằm tham vấn ý kiến các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia, các nhà khoa học ở Trung ương, địa phương về khả năng đề cử và xác định Tiêu chí xây dựng hồ sơ Di sản Thế giới hang Con Moong và các di tích phụ cận, trước hết là cơ sở khoa học để giới thiệu với chuyên gia tư vấn quốc tế về tính khả thi của Hồ sơ khoa học di tích hang Con Moong và phụ cận.

Trên cơ sở kết quả Hội thảo, triển khai xây dựng hồ sơ di sản Thế giới hang Con Moong và phụ cận, cũng như Bảo vệ, tôn tạo, giữ gìn và phát huy tốt nhất các giá trị di tích góp phần quảng bá Di sản Việt Nam ra thế giới, góp phần phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Thanh Hóa trong xu thế chung hiện nay

594 lượt xem
Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn
Nguyễn Thừa Hỷ

Trong những thập kỷ gần đây, trên hành tinh của chúng ta, những thuật ngữ “văn hóa”, “văn minh”, “truyền thống”, “văn hóa truyền thống” đã trở thành những từ khóa phổ biến mang tính thời thượng, được nhiều người quan tâm và nhắc đến trong cuộc sống và các phương tiện truyền thông. Đó là một điều có ý nghĩa và có thể hiểu được. Có lẽ trong cuộc sống thường ngày, chúng ta bị cuốn hút vào vòng xoáy của những lo toan và ganh đua kinh tế, lợi danh, mà đã lãng quên đi hoặc không còn thời giờ để dành cho việc suy nghĩ và chăm sóc đời sống tinh thần. Cái hiện tại cũng đang đè nặng lên những hành xử, choán hết không gian suy tư của con người, không còn chỗ đứng cho những hồi tưởng quá khứ. Mặt khác, nhìn rộng ra trên phạm vi toàn cầu, chúng ta đang đối diện với một thách thức là những va chạm xung đột giữa các nền văn minh, văn hóa đang tồn tại, lúc âm ỉ, khi bột phát. Có lẽ, sở dĩ ý thức được như vậy, mà hiện nay nhân loại đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo và kêu gọi về vấn đề văn hóa. Liên Hợp quốc, tổ chức UNESCO đã phát động Thập kỷ văn hóa, tổ chức năm Đối thoại những nền văn minh, ra nhiều nghị quyết, tuyên ngôn về đa dạng, đa nguyên và khoan dung văn hóa. Văn hóa là một lực lượng tinh thần, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, là ngọn nguồn, xung lực của phát triển xã hội. Tuy nhiên, văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản kìm hãm và phá hoại lịch sử, đời sống con người với những hậu quả và tổn thất khó lường. Ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn và đấu tranh văn hóa. Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng. Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi văn hóa. Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về nền văn hóa Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết. Nền văn hóa truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ? Có lẽ đó là những câu hỏi trăn trở mà người viết cố gắng tiếp cận khi đề ra mục đích khiêm tốn cho cuốn sách “Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn”, mong đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc chung to lớn. Tuy nhiên, gói gọn trong một vài trăm trang sách cả một nền văn hóa có hàng nghìn năm tuổi và trải ra trên một không gian xã hội rộng lớn nhiều vùng miền với nhiều đặc trưng khác biệt, quả thực là một điều không dễ dàng, đúng hơn là quá khó thực hiện. Các bộ thông sử thường ghi chép rất ít những tư liệu đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sách hiến chương và hội điển cũng chỉ cho biết thêm về những điển chế quan phương của nhà nước. Do đó, việc khảo cứu không thể không tìm đến những nguồn tư liệu khác, như văn hóa dân gian, dân tộc học và nhất là nguồn tài liệu thực địa “mắt thấy tai nghe” của những người nước ngoài. Điều “may mắn” là tốc độ chuyển biến của văn hóa truyền thống Việt Nam rất chậm, những hiện tượng văn hóa xảy ra ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể cũng là những hình ảnh gần như trung thực của văn hóa, xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ trước, do đó có thể coi là tư liệu gốc, những thông tin đương đại. Những thông tin này đã được ghi chép trong một số lớn sách báo của những tác giả người Pháp có mặt hoặc đã sống ở Việt Nam lúc bấy giờ. Vì vậy, người đọc sẽ có thể hiểu được và thông cảm vì sao, hình như tác giả cuốn sách có vẻ thiên vị khi sử dụng những tư liệu cổ nhiều hơn kim, trích dẫn những tác giả nước ngoài nhiều hơn các tác giả trong nước. Thực ra, những dữ kiện về văn hóa truyền thống của các tác giả lớn như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên là những tư liệu cơ bản rất quý báu mà người viết cố gắng khai thác, tận dụng. Tuy nhiên, để tôn trọng tính đương thời nguyên dạng, những tư liệu đương đại - được hiểu là từ sau năm 1945 - của các tác giả trong nước và nước ngoài đã được sử dụng và trích dẫn ở mức độ hạn chế, trừ khi cần nêu lên những luận điểm kiến giải. Sau khi cung cấp những thông tin - đôi khi rất quen thuộc, bình thường đối với lớp người lớn tuổi, nhưng chưa chắc các bạn trẻ đã hiểu biết cặn kẽ, việc khó khăn hơn là tổng hợp, phân tích, đánh giá. Chúng tôi cố gắng thoát khỏi những định kiến giáo điều trong việc khen chê. Một hiện tượng có thể là tích cực về mặt này, ở thời điểm này, nhưng rất có thể lại trở thành tiêu cực ở khía cạnh khác, trong thời điểm khác và ngược lại. Bản thân một sự kiện văn hóa nhiều khi cũng mang tính hai mặt. Văn hóa Việt Nam truyền thống càng không phải là một khối đơn nguyên, thuần nhất, mà là một cấu trúc lai tạo, lưỡng nguyên đối trọng. Chúng tôi cho rằng việc có khen có chê không phải là một thái độ chiết trung thiếu ý kiến rõ ràng, mà là một phong cách tư duy phức hợp, khai mở, khoa học và biện chứng của những người làm công tác nghiên cứu hiện đại.

5080 lượt xem
So sánh Xú-pha-xít Lào với ca dao Việt Nam
PGS. TS Lý Hoài Thu, ThS Tạ Hồng Hạnh, TS Nguyễn Phương Liên
Người Lào có câu xú-pha-xít “Mạy huồm co po huồm xược” (Đay chung dây, cây chung khóm). Quan hệ Việt Nam - Lào như lá chung một cành, như hoa chung một bụi. Hai đất nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam Á, không chỉ liền kề nhau về địa lý mà còn có mối quan hệ bang giao hữu hảo lâu đời. Bởi vậy, bên cạnh những điểm khác nhau tất yếu, xuất phát từ bản sắc dân tộc, nền văn hóa hai nước nói chung, văn học dân gian hai nước nói riêng có những điểm tương đồng như là bản chất chung trong quá trình sáng tạo folklore nhân loại cũng như sự giống nhau do những điều kiện lịch sử, địa lý tự nhiên và những quan hệ giao lưu văn hoá mang lại. Nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau này thông qua việc so sánh xú-pha-xít Lào và ca dao Việt Nam sẽ góp phần khẳng định tính độc lập của mỗi dân tộc; đặc biệt, không chỉ giúp cho những người quan tâm hiểu biết thêm về xú-pha-xít Lào hay ca dao Việt Nam, hiểu rõ hơn những nét đẹp truyền thống trong tâm hồn và tính cách của chính mình và của người bạn láng giềng mà còn góp phần làm sáng tỏ sự giống nhau kỳ lạ, đến từng chi tiết của một bộ phận văn học dân gian giữa hai dân tộc. Trong giáo trình chính thống của ngành Văn học, các tác giả đề cập đến khái niệm trữ tình dân gian (để phân biệt với tự sự dân gian), có sử dụng cụm từ “ca dao, dân ca” đi liền với nhau. Trong đó, khi nhấn mạnh đến ba yếu tố cần chú ý để phân loại dân ca Việt Nam: 1 - Lời ca (câu hay bài) 2 - Giai điệu (giọng hoặc làn điệu) 3 - Hình thức sinh hoạt (hay lề lối hát) Có thể thấy, yếu tố thứ hai đặc trưng cho dân ca nhưng hai yếu tố còn lại thì có thể bắt gặp ở khái niệm được định danh là “ca dao” trong văn học dân gian Việt Nam. Thậm chí có thể thấy là lời những bài dân ca có cùng thi pháp với ca dao, hay có thể sử dụng bất kỳ câu ca dao nào làm lời cho một làn điệu dân ca ngẫu hứng (hát ru con, hò...). Cuốn sách còn chia riêng thể loại “Lời ăn tiếng nói của nhân dân” bao gồm tục ngữ và câu đố. Tuy nhiên, trong văn học dân gian Lào tồn tại hai khái niệm: xú-pha-xít có nội hàm bao gồm thành ngữ, tục ngữ, câu đố và cả ca dao (vì gồm nhiều câu dài, hoặc những tác phẩm được ghi lại thành lời, tách riêng khỏi các làn điệu...); lăm và khắp có nội hàm tương tự dân ca ở Việt Nam. Chính do sự khác biệt trong cách phân loại cũng như tính nguyên hợp trong các thể loại của folklore, trong cuốn sách này, chúng tôi sử dụng khái niệm “phương ngữ” (phương: mùi thơm, ở đây chỉ những câu nói tinh hoa của dân gian (Trữ tình dân gian: ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian), khác với cách hiểu phương ngữ là “từ/tiếng địa phương” hay thổ ngữ) song song với “ca dao” để so sánh với xú-pha-xít của Lào.
2589 lượt xem
Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)
TS. Trần Văn Miều

“Bảo vệ tài nguyên rừng theo hướng phát triển bền vững (Bản rút gọn)” cung cấp những nội dung khái quát về vai trò, giá trị và tầm quan trọng của rừng đối với môi trường, kinh tế và đời sống xã hội. Tài liệu tập trung giới thiệu các vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ, quản lý và khai thác rừng hợp lý gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Với cách trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, ấn phẩm góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích những hành động thiết thực nhằm gìn giữ và phát triển tài nguyên rừng lâu dài.

631 lượt xem
100 điều nên biết về lịch sử Việt Nam
Hà Nguyễn

Với mong muốn có thể làm một nhịp cầu nối liền bạn đọc về với lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tấn trân trọng giới thiệu cuốn sách 100 điều nên biết về lịch sử Việt Nam của tác giả Hà Nguyễn đến tay bạn đọc. Việt Nam là đất nước có lịch sử lập quốc sớm trong khu vực, được xác định vào khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên. Quốc gia - dân tộc Việt Nam đã trải qua tiến trình hàng nghìn năm không ngừng đấu tranh dựng nước và giữ nước, trải bao lần thống nhất và chia cắt, với những bước thăng trầm và khuất khúc, từ các không gian văn hóa - văn minh Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo gắn với các quốc gia cổ đại Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc, Champa ở miền Trung và Phù Nam ở miền Nam, kéo dài liên tục đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay.

2478 lượt xem
Sự chuyển biến cảu Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0
Bộ Thông tin và Truyền thông

Ngày 21/02/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 219/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo, trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan chủ trì, điều phối thực hiện Đề án. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với PGS.TS Nguyễn Phú Lợi biên soạn, xuất bản cuốn sách “Sự chuyển biến của tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0”.

Nội dung cuốn sách gồm 2 phần: 

Phần I: Sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0

Phần II: Sự chuyển biến của tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0 

Nội dung cuốn sách được biên soạn khá công phu, khái quát nên một bức tranh tương đối toàn diện về sự chuyển biến của tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0, góp phần vào việc hoạch định chính sách, phát huy các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. 

2766 lượt xem
Hanoi Festivals
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Traditional festivals are both typical cultural characteristic and indispensable need in the thoughts and daily activities of all Vietnamese. Festivals are considered by Vietnamese as a manifestation of their cultural behavior towards nature, the Gods and the community. Each person can find for oneself the freshness of youth, the inspiration of art, and the basic and native emotions as they voluntarily join the festivals. Festivals are also one of the motivating sources inspiring arts. Festivals demonstrate a mixture of different cultures evolved in all historical processes, while at the same time preserving, nurturing and developing various cultural traditions of the communities and the nation alike. Hanoi is an ancient city, which originated from a small village by the Nhi River. Surviving thousands of years of national development and fighting against invaders, the city of Thang Long - Hanoi has become a sacred land hosting a variety of cultural festivals. Hanoi festivals represent typical urban and rural features, which are overwhelmed with tradition and originality. As such, Hanoi festivals are both various, rich and attractive to a great extent. Hanoi boasts thousands of festivals throughout the year, spanning from the first to the last lunar month, and ranging from the Ba Vi mountain peak to the romantic West Lake. Over the time, these festivals have deeply rooted, converged and spread all the cultural values in the ancient and sacred land, and become an integral part of the one-thousand-year- old Thang Long - Hanoi.
2298 lượt xem
Phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên trung học cơ sở
Bùi Thị Thanh Diệu, Hoàng Thế Hải, Lê Quang Sơn, Hồ Thị Trúc Quỳnh, Phạm Tiến Sỹ, Ngô Thế Lâm

Nội dung chính của cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên; Chương 2: Thực trạng năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh của giáo viên trung học cơ sở; Chương 3: Chương trình phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên trung học cơ sở; Chương 4: Kết quả thực nghiệm chương trình phát triển năng lực nhận diện rối nhiễu tâm lý ở học sinh cho giáo viên trung học cơ sở. Những thông tin sẽ hữu ích cho giáo viên trong việc phát hiện sớm các rối nhiễu tâm lý ở học sinh, góp phần giúp cho quá trình hỗ trợ học sinh được hiệu quả. 

1191 lượt xem
Phát huy giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc
Bộ Thông tin và Truyền thông

Việt Nam được ví như “bảo tàng tín ngưỡng, tôn giáo thế giới”, đời sống tín ngưỡng của người dân đa dạng, phong phú. Sự đa dạng của tín ngưỡng dân tộc qua các loại hình tín ngưỡng như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Tín ngưỡng thờ vua Hùng, Tín ngưỡng thờ Mẫu, Tín ngưỡng phồn thực… Mặc dù các tín ngưỡng có nguồn gốc hình thành, phát triển khác nhau; nội dung, nghi lễ khác nhau nhưng không vì thế mà có sự xung đột, phá hoại lẫn nhau để phát triển riêng mình, ngược lại trong quan hệ, các tín ngưỡng luôn có sự gắn kết, giao thoa với nhau để cùng tồn tại, phát triển trong một quốc gia, dân tộc. Các tín ngưỡng dân tộc mang những đặc điểm cơ bản như đa thần, bình đẳng, dân chủ, giàu chất nhân văn, hỗn dung tôn giáo.
Những giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc đã góp phần tạo nên nét đẹp trong tinh hoa văn hóa dân tộc, truyền tải những giá trị nhân văn của dân tộc như đạo hiếu, uống nước nhớ nguồn, trách nhiệm với quê hương đất nước, tinh thần cố kết cộng đồng… Bên cạnh đó, tín ngưỡng dân tộc cũng đang bị lợi dụng ảnh hưởng tiêu cực đối với cộng đồng, làm suy giảm, mai một các giá trị nhân văn của các tín ngưỡng, lễ hội truyền thống. Nhiều vấn đề đặt ra từ sự tác động của một số xu hướng biến đổi tín ngưỡng đến đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền - Nguyễn Thị Hiệp biên soạn, xuất bản cuốn sách “Phát huy giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc”.
Từ việc nghiên cứu thực trạng xu hướng biến đổi của các tín ngưỡng dân tộc trước sự tác động của quá trình hội nhập, cách mạng công nghệ, công nghiệp hóa, đô thị hóa… Và những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát huy những giá trị nhân văn của các tín ngưỡng dân tộc trong điều kiện mới. Qua đó đề xuất nhóm giải pháp nhằm phát huy tốt hơn vai trò của các tín ngưỡng dân tộc trong tiến trình bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc trong điều kiện mới hiện nay.

2991 lượt xem
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế
Nhiều tác giả

Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ra đời nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Đây là ấn phẩm có ý nghĩa thiết thực, góp phần nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển của Khoa, đồng thời khẳng định những nỗ lực đổi mới trong giảng dạy, nghiên cứu các môn lý luận chính trị trước yêu cầu của thực tiễn hiện nay.

Kỷ yếu này tập hợp các bài viết của giảng viên trong Khoa và các nhà khoa học đến từ nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu. Nội dung các bài viết tập trung phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với việc giảng dạy các môn lý luận chính trị trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; đồng thời đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học hiện nay. Các bài viết trong Kỷ yếu đã được lựa chọn, phản biện theo quy trình chuyên môn, bảo đảm yêu cầu về chất lượng khoa học và giá trị tham khảo.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách tới bạn đọc!

107 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 2 - Giữ lời hứa
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách nhắc chúng ta khi đã hứa thì phải giữ đúng lời và gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Hứa mà không làm hoặc làm không đến nơi đến chốn sẽ làm mất đi niềm tin của mọi người đối với mình

4635 lượt xem
100 điều nên biết về phân mốc địa giới trên đất liền
Hà Nguyễn

Với cuốn sách 100 điều nên biết về phân mốc địa giới trên đất liền của tác giả Hà Nguyễn, Nhà xuất bản Thông tấn mong muốn có thể làm một nhịp cầu kết nối bạn đọc với những tri thức chung, những dấu ấn phân mốc và quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất liền Việt Nam.
Trải qua nhiều năm kiên trì liên tục đàm phán và thương lượng, Việt Nam đã ký kết với ba quốc gia láng giềng là Trung Quốc, Lào và Campuchia nhiều thỏa thuận và hiệp ước liên quan đến phân mốc địa giới trên đất liền. Những kết quả đàm phán và ký kết hiệp định đã từng bước xác định phạm vi và chế độ pháp lý của đường biên giới, hệ thống mốc quốc giới của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác và quản lý, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với các quốc gia láng giềng, giảm nguy cơ tranh chấp xung đột, giữ gìn hòa bình và ổn định của đất nước và trong khu vực.

2396 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 3 - Kiên trì vượt khó
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Người có thành công bắt đầu bằng việc kiên trì vượt qua những khó khăn, thử thách.

3561 lượt xem
Công trình kiến trúc Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Hà Nội là nơi hội tụ tinh hoa ngàn năm văn vật, là điểm giao hòa của muôn nẻo văn hóa. Dáng nét u tịch, trầm mặc của bóng chùa Trấn Quốc soi mình bên hồ Tây; Những mái nhà nhỏ xinh lớp lớp chồng diêm trong khu phố cổ; Bức tường rêu phong cổ kính của Nhà thờ Lớn; Vẻ uy nghi, đường bệ của mái vòm Nhà hát Lớn; Bông sen tinh khiết, thanh tao nằm cạnh bậc vĩ nhân của dân tộc giữa lòng Thủ đô; Những con sóng uốn lượn dập dềnh trên mái Trung tâm Hội nghị Quốc gia... đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp Thủ đô. Này đây dáng dấp kiến trúc cổ truyền Á Đông trong những nếp nhà, mái đình Hà Nội. Này đây mạch nguồn châu Âu trong những công trình kiến trúc Pháp được thiết kế và xây dựng bởi chính các kiến trúc sư người Pháp. Này đây những thành tựu mới nhất của khoa học kiến trúc hiện đại được tạo tác bởi chính bàn tay và khối óc những con người mới trong một thời đại mới. Mỗi dáng nét đại diện cho một thời kỳ lịch sử trong tiến trình hàng ngàn năm xây dựng và phát triển của Thăng Long - Hà Nội. Song, kỳ diệu thay, tất cả lại đồng thời hiện hữu trong mỗi sớm mai khi thành phố bừng tỉnh giấc, để cùng con người nơi đây dựng xây cuộc sống tươi mới, và tôn vinh những bàn tay lao động sáng tạo đã xây đắp lên những công trình kiến trúc tuyệt đẹp của Thủ đô.
3412 lượt xem