Văn hóa - Xã hội
So sánh Xú-pha-xít Lào với ca dao Việt Nam
PGS. TS Lý Hoài Thu, ThS Tạ Hồng Hạnh, TS Nguyễn Phương Liên
Người Lào có câu xú-pha-xít “Mạy huồm co po huồm xược” (Đay chung dây, cây chung khóm). Quan hệ Việt Nam - Lào như lá chung một cành, như hoa chung một bụi. Hai đất nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc vùng Đông Nam Á, không chỉ liền kề nhau về địa lý mà còn có mối quan hệ bang giao hữu hảo lâu đời. Bởi vậy, bên cạnh những điểm khác nhau tất yếu, xuất phát từ bản sắc dân tộc, nền văn hóa hai nước nói chung, văn học dân gian hai nước nói riêng có những điểm tương đồng như là bản chất chung trong quá trình sáng tạo folklore nhân loại cũng như sự giống nhau do những điều kiện lịch sử, địa lý tự nhiên và những quan hệ giao lưu văn hoá mang lại. Nghiên cứu sự giống nhau và khác nhau này thông qua việc so sánh xú-pha-xít Lào và ca dao Việt Nam sẽ góp phần khẳng định tính độc lập của mỗi dân tộc; đặc biệt, không chỉ giúp cho những người quan tâm hiểu biết thêm về xú-pha-xít Lào hay ca dao Việt Nam, hiểu rõ hơn những nét đẹp truyền thống trong tâm hồn và tính cách của chính mình và của người bạn láng giềng mà còn góp phần làm sáng tỏ sự giống nhau kỳ lạ, đến từng chi tiết của một bộ phận văn học dân gian giữa hai dân tộc. Trong giáo trình chính thống của ngành Văn học, các tác giả đề cập đến khái niệm trữ tình dân gian (để phân biệt với tự sự dân gian), có sử dụng cụm từ “ca dao, dân ca” đi liền với nhau. Trong đó, khi nhấn mạnh đến ba yếu tố cần chú ý để phân loại dân ca Việt Nam: 1 - Lời ca (câu hay bài) 2 - Giai điệu (giọng hoặc làn điệu) 3 - Hình thức sinh hoạt (hay lề lối hát) Có thể thấy, yếu tố thứ hai đặc trưng cho dân ca nhưng hai yếu tố còn lại thì có thể bắt gặp ở khái niệm được định danh là “ca dao” trong văn học dân gian Việt Nam. Thậm chí có thể thấy là lời những bài dân ca có cùng thi pháp với ca dao, hay có thể sử dụng bất kỳ câu ca dao nào làm lời cho một làn điệu dân ca ngẫu hứng (hát ru con, hò...). Cuốn sách còn chia riêng thể loại “Lời ăn tiếng nói của nhân dân” bao gồm tục ngữ và câu đố. Tuy nhiên, trong văn học dân gian Lào tồn tại hai khái niệm: xú-pha-xít có nội hàm bao gồm thành ngữ, tục ngữ, câu đố và cả ca dao (vì gồm nhiều câu dài, hoặc những tác phẩm được ghi lại thành lời, tách riêng khỏi các làn điệu...); lăm và khắp có nội hàm tương tự dân ca ở Việt Nam. Chính do sự khác biệt trong cách phân loại cũng như tính nguyên hợp trong các thể loại của folklore, trong cuốn sách này, chúng tôi sử dụng khái niệm “phương ngữ” (phương: mùi thơm, ở đây chỉ những câu nói tinh hoa của dân gian (Trữ tình dân gian: ca dao, dân ca, thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian), khác với cách hiểu phương ngữ là “từ/tiếng địa phương” hay thổ ngữ) song song với “ca dao” để so sánh với xú-pha-xít của Lào.
2808 lượt xem
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới

6208 lượt xem
Nghiên cứu dư luận xã hội
Khoa Xã hội học và phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, TS. Dương Thị Thu Hương
Dư luận xã hội là hiện tượng xã hội phức tạp, đa chiều cạnh, có thể tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau: tâm lý học; chính trị học, truyền thông, xã hội học... Cuốn sách “Nghiên cứu Dư luận xã hội” tập trung giới thiệu các kiến thức cơ bản về Dư luận xã hội, đặc biệt dành nhiều trang trình bày về các phương pháp, kỹ thuật và quy trình nghiên cứu Dư luận xã hội từ tiếp cận Xã hội học. Với kiến thức được trang bị, người học không chỉ có được nền tảng hiểu biết đầy đủ về Dư luận xã hội, các biện pháp quản lý Dư luận xã hội phù hợp, họ còn được trang bị kiến thức, kỹ năng tiến hành các nghiên cứu Dư luận xã hội bài bản, khoa học, hiệu quả. Cuốn sách là tài liệu giảng dạy chính thức cho bậc cử nhân ngành Xã hội học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng thời là sách tham khảo cho sinh viên và học viên cao học, NCS các ngành khác: báo chí, truyền thông, tuyên truyền, truyền thông chính sách, công tác xã hội tại Học viện cũng như tại nhiều cơ sở đào tạo sinh viên ngành Xã hội học và các ngành báo chí, truyền thông khác trên toàn quốc. Cuốn sách cũng giúp cho cán bộ nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực có thể tự tìm hiểu và vận dụng tiến hành nghiên cứu Dư luận xã hội theo đúng trình tự, đáp ứng yêu cầu chuẩn mực nghiên cứu, từ đó đem lại kết quả khách quan, đáng tin cậy, là cơ sở để xây dựng các chiến lược quản lý phát triển hiệu quả xã hội.
5444 lượt xem
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
PGS.TS Trần Thị Minh Tuyết

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

2510 lượt xem
Sóng căng đét - Ví khét lẹt
Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tần số Vô tuyến điện

"Sóng căng đét – Ví khét lẹt" là ấn phẩm truyền thông của Cục Tần số Vô tuyến điện, được biên soạn nhằm phổ biến kiến thức về tần số vô tuyến điện, nâng cao nhận thức về việc sử dụng phổ tần và thiết bị vô tuyến đúng quy định, đồng thời truyền tải các thông tin chuyên ngành qua lối thể hiện gần gũi, sinh động và dễ tiếp cận với đông đảo bạn đọc.

1106 lượt xem
Di sản Văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh Lào Cai - Intangible cultural heritages of the ethnic minorities in Lào Cai province
Sở Văn hóa và Thể thao Tỉnh Lào Cai, Hà Văn Thắng (Chủ biên)

Được coi là vùng đất cổ, là cửa ngõ thông thương với vùng Tây Nam của Trung Quốc, Lào Cai độc đáo với cảnh quan tươi đẹp, núi non hùng vĩ, là nơi cư trú của nhiều dân tộc với 25 nhóm, ngành khác nhau, như: Mông, Dao, Tày, Giáy, Phù Lá, Hà Nhì, Kinh… Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, bằng tài năng sáng tạo của con người cùng với sự đa dạng về các thành phần dân tộc, Lào Cai đã có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú về loại hình, độc đáo về bản sắc tộc người, với một hệ thống: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; lễ hội truyền thống; phong tục tập quán; tri thức dân gian… 

Từ khi được tái lập năm 1991, với bộn bề những khó khăn trong công cuộc tái thiết nền kinh tế, xã hội còn  lạc hậu của một tỉnh miền núi nhưng các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã sớm chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống các dân tộc. 

Thực hiện Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 13 của Tỉnh ủy về phát triển thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; 

Kế hoạch số 126/KH-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 - 2015; Ðề án số 8 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển văn hóa, thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành chương trình kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 25 nhóm, ngành dân tộc cư trú ở 500 thôn bản trên toàn tỉnh; lựa chọn và lập hồ sơ khoa học được 26 di sản đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; trong đó 02 di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là: Nghi lễ và trò chơi kéo co Tày, GiáyNghi lễ Then của người Tày trong hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái”. 

Bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở hình thành và tạo nên giá trị cốt lõi để phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn độc đáo, góp phần đưa Lào Cai trở thành một địa phương được đông đảo bạn bè trong nước và ngoài nước biết đến, thu hút đông đảo du khách đến với Lào Cai. 

Trong những năm qua, Lào Cai luôn dẫn đầu các tỉnh phía Tây Bắc về số lượng khách du lịch. Năm 2019, lượng khách đến Lào Cai đạt gần 5 triệu lượt, doanh thu từ du lịch đạt 19.800 tỷ đồng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. 

Có thể nói, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc của tỉnh Lào Cai trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ðể có được những kết quả này, ngoài sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp thực hiện chặt chẽ của các sở, ngành, còn có sự chung tay của cộng đồng các dân tộc, của các nghệ nhân dân gian, những người am hiểu sâu sắc về vốn văn hóa truyền thống của dân tộc. Di sản văn hóa sẽ mãi tồn tại và phát triển, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ hội nhập.

3949 lượt xem
Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn
Nguyễn Thừa Hỷ

Trong những thập kỷ gần đây, trên hành tinh của chúng ta, những thuật ngữ “văn hóa”, “văn minh”, “truyền thống”, “văn hóa truyền thống” đã trở thành những từ khóa phổ biến mang tính thời thượng, được nhiều người quan tâm và nhắc đến trong cuộc sống và các phương tiện truyền thông. Đó là một điều có ý nghĩa và có thể hiểu được. Có lẽ trong cuộc sống thường ngày, chúng ta bị cuốn hút vào vòng xoáy của những lo toan và ganh đua kinh tế, lợi danh, mà đã lãng quên đi hoặc không còn thời giờ để dành cho việc suy nghĩ và chăm sóc đời sống tinh thần. Cái hiện tại cũng đang đè nặng lên những hành xử, choán hết không gian suy tư của con người, không còn chỗ đứng cho những hồi tưởng quá khứ. Mặt khác, nhìn rộng ra trên phạm vi toàn cầu, chúng ta đang đối diện với một thách thức là những va chạm xung đột giữa các nền văn minh, văn hóa đang tồn tại, lúc âm ỉ, khi bột phát. Có lẽ, sở dĩ ý thức được như vậy, mà hiện nay nhân loại đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo và kêu gọi về vấn đề văn hóa. Liên Hợp quốc, tổ chức UNESCO đã phát động Thập kỷ văn hóa, tổ chức năm Đối thoại những nền văn minh, ra nhiều nghị quyết, tuyên ngôn về đa dạng, đa nguyên và khoan dung văn hóa. Văn hóa là một lực lượng tinh thần, có thể chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, là ngọn nguồn, xung lực của phát triển xã hội. Tuy nhiên, văn hóa cũng có thể trở thành một lực cản kìm hãm và phá hoại lịch sử, đời sống con người với những hậu quả và tổn thất khó lường. Ở Việt Nam, trong vòng một thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều cuộc biến động, đổi thay, xáo trộn và đấu tranh văn hóa. Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, trước cơn lốc xoáy về tư tưởng, lối sống và hệ giá trị, chúng ta lại đang đứng giữa giao lộ của những ngã rẽ chưa có biển chỉ đường rõ ràng. Chúng ta đang được động viên, khích lệ, mà cũng đồng thời đang bị đe dọa, dối lừa bởi văn hóa. Trong một hoàn cảnh, tình huống đặc biệt như vậy, có lẽ một sự quay về, nhận diện và suy ngẫm nghiêm túc về nền văn hóa Việt Nam truyền thống sẽ là một điều bổ ích không thừa, nếu không muốn nói là cần thiết. Nền văn hóa truyền thống đã từng ngự trị hàng thiên niên kỷ trong một xã hội hầu như rất ít thay đổi, sau đó lại chịu những va đập và biến động lớn trong hơn một thế kỷ qua, đã có bộ mặt đích thực như thế nào, xu thế chuyển biến ra sao? Nó đã để lại cho chúng ta những giá trị gì cần phải kế thừa và những hệ lụy gì cần phải gạt bỏ? Có lẽ đó là những câu hỏi trăn trở mà người viết cố gắng tiếp cận khi đề ra mục đích khiêm tốn cho cuốn sách “Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn”, mong đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc chung to lớn. Tuy nhiên, gói gọn trong một vài trăm trang sách cả một nền văn hóa có hàng nghìn năm tuổi và trải ra trên một không gian xã hội rộng lớn nhiều vùng miền với nhiều đặc trưng khác biệt, quả thực là một điều không dễ dàng, đúng hơn là quá khó thực hiện. Các bộ thông sử thường ghi chép rất ít những tư liệu đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sách hiến chương và hội điển cũng chỉ cho biết thêm về những điển chế quan phương của nhà nước. Do đó, việc khảo cứu không thể không tìm đến những nguồn tư liệu khác, như văn hóa dân gian, dân tộc học và nhất là nguồn tài liệu thực địa “mắt thấy tai nghe” của những người nước ngoài. Điều “may mắn” là tốc độ chuyển biến của văn hóa truyền thống Việt Nam rất chậm, những hiện tượng văn hóa xảy ra ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể cũng là những hình ảnh gần như trung thực của văn hóa, xã hội Việt Nam trong nhiều thế kỷ trước, do đó có thể coi là tư liệu gốc, những thông tin đương đại. Những thông tin này đã được ghi chép trong một số lớn sách báo của những tác giả người Pháp có mặt hoặc đã sống ở Việt Nam lúc bấy giờ. Vì vậy, người đọc sẽ có thể hiểu được và thông cảm vì sao, hình như tác giả cuốn sách có vẻ thiên vị khi sử dụng những tư liệu cổ nhiều hơn kim, trích dẫn những tác giả nước ngoài nhiều hơn các tác giả trong nước. Thực ra, những dữ kiện về văn hóa truyền thống của các tác giả lớn như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên là những tư liệu cơ bản rất quý báu mà người viết cố gắng khai thác, tận dụng. Tuy nhiên, để tôn trọng tính đương thời nguyên dạng, những tư liệu đương đại - được hiểu là từ sau năm 1945 - của các tác giả trong nước và nước ngoài đã được sử dụng và trích dẫn ở mức độ hạn chế, trừ khi cần nêu lên những luận điểm kiến giải. Sau khi cung cấp những thông tin - đôi khi rất quen thuộc, bình thường đối với lớp người lớn tuổi, nhưng chưa chắc các bạn trẻ đã hiểu biết cặn kẽ, việc khó khăn hơn là tổng hợp, phân tích, đánh giá. Chúng tôi cố gắng thoát khỏi những định kiến giáo điều trong việc khen chê. Một hiện tượng có thể là tích cực về mặt này, ở thời điểm này, nhưng rất có thể lại trở thành tiêu cực ở khía cạnh khác, trong thời điểm khác và ngược lại. Bản thân một sự kiện văn hóa nhiều khi cũng mang tính hai mặt. Văn hóa Việt Nam truyền thống càng không phải là một khối đơn nguyên, thuần nhất, mà là một cấu trúc lai tạo, lưỡng nguyên đối trọng. Chúng tôi cho rằng việc có khen có chê không phải là một thái độ chiết trung thiếu ý kiến rõ ràng, mà là một phong cách tư duy phức hợp, khai mở, khoa học và biện chứng của những người làm công tác nghiên cứu hiện đại.

5396 lượt xem
Danh thắng Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Chúng ta có Hà Nội, một thành phố thật đẹp. Hà Nội đẹp vẻ đẹp của nét cổ kính, trầm mặc. Hà Nội đẹp vẻ đẹp hòa quyện dấu ấn lịch sử - văn hóa qua thời gian. Hà Nội đẹp vẻ đẹp con người thanh lịch. Hà Nội đẹp vẻ đẹp tâm hồn cao nhã... Trong những cuộc phiếm du riêng biệt ở Hà Nội, mỗi nét đổi thay của thành phố đều là những khám phá đầy hứng thú, mang phong vị rất riêng. Hà Nội có một sức quyến rũ kỳ lạ đối với người xa đến. Ở chốn xa xôi nào đó, nơi hang cùng xóm vắng hay rừng sâu núi thẳm, phương trời Tây hay phương trời Nam, chiều chiều vẫn có những người ngóng về một phương trời để cố trông cái ánh sáng mờ của Hà Nội chiếu lên nền mây, để mong mỏi một ngày được bước chân trên những đường phố cũ, thưởng ngoạn, khám phá những danh thắng của đất đế đô 1000 năm tuổi. Danh thắng Hà Nội đa dạng lắm, phong phú lắm! Một mái nhà cũ nghiêng nghiêng trong khu Phố Cổ giữa lòng Thủ đô, một dáng cầu màu son cong cong soi bóng nước Hồ Gươm, một tòa thủy đình trầm mặc điểm xuyết giữa khung cảnh non nước hữu tình bên núi Thầy, những mái đình, mái chùa thấp thoáng trên dải Hương Sơn... Đó đều là tuyệt tác của thiên nhiên và bàn tay con người, góp phần điểm tô, thêu dệt nên bức tranh hương sắc ngàn năm của Thăng Long - Hà Nội, để mỗi người đều mong ước ít nhất một lần được tận mắt ngắm nhìn, trải nghiệm!
3845 lượt xem
Học, đọc sách và sáng tạo (Hay tư tưởng về phát triển con người)
TS. Vũ Thùy Dương, GS. TS. Nguyễn Như Ý, TS. Trần Chí Đạt, Võ Thế Quân

“Học, đọc sách và sáng tạo (Hay tư tưởng về phát triển con người)” là cuốn sách đề cao vai trò của học tập, đọc sách và sáng tạo trong quá trình hoàn thiện và phát triển con người. Tác phẩm khẳng định đọc sách là con đường hiệu quả để tiếp thu tri thức, mở rộng hiểu biết và rèn luyện tư duy. Không chỉ dừng lại ở việc học hỏi, cuốn sách còn nhấn mạnh tầm quan trọng của sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Với những luận điểm sâu sắc và giàu tính nhân văn, tác phẩm truyền cảm hứng cho mỗi người xây dựng thói quen học tập suốt đời. Đây là cuốn sách hữu ích dành cho những ai mong muốn phát triển bản thân và đóng góp tích cực cho xã hội.

420 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 8
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

596 lượt xem
Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long
Hà Nguyễn

Cuốn sách “Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long” giúp người đọc khám phá những nét đặc sắc của vùng đất cực Nam Tổ quốc. Tác phẩm giới thiệu đời sống văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng của cư dân nơi đây. Qua đó, người đọc hiểu rõ hơn sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và Chăm trong vùng. Với nội dung phong phú và cách trình bày dễ hiểu, cuốn sách góp phần làm nổi bật bản sắc văn hóa độc đáo của Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai yêu thích và muốn tìm hiểu về văn hóa Việt Nam.

409 lượt xem
Dạy con thời @
Đào Thúy Hoàn
Cuốn sách này chỉ dành cho những người tâm huyết việc nuôi dạy trẻ, các bậc cha mẹ và người có trách nhiệm nuôi dạy trẻ em thực sự muốn lớp mầm non sau này lớn lên sẽ trở thành những người tốt, có bản lĩnh, tư duy tốt, có trí tuệ, độc lập, nhân đức, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và tập thể, không chỉ tự lo được cho bản thân mà phải có hiếu với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, có tình yêu thương nhân loại, có ý thức đóng góp cho đất nước, cộng đồng, xã hội và hòa bình thế giới. Cuốn sách này chỉ dành cho những người muốn con trẻ độc lập và mạnh mẽ như những cánh chim đại bàng không khuất phục trước dông bão cuộc đời. Cuốn sách này không dành cho những cha mẹ giao phó phần lớn việc chăm sóc con cho ông bà hay người giúp việc, không dành cho những cha mẹ thương con bằng cách làm hết mọi việc để con tập trung vào học mấy môn văn hóa, cũng không dành cho những cha mẹ muốn sắp xếp cuộc đời con bằng tiền bạc để sau này dùng tiền xin cho con vào chỗ ngon cho ổn định và càng không dành cho những cha mẹ chỉ mải việc của mình để con tự phát triển như cây cỏ tự nhiên. Khi bạn cầm trên tay cuốn sách này, bạn đã gia nhập vào cộng đồng những người thực sự quan tâm đến con cái, đến hạnh phúc gia đình mình, tương lai của gia đình, đất nước và xã hội. Xin chúc mừng bạn!
5404 lượt xem
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã
TS. Nguyễn Mạnh Cường

Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã là cuốn sách tập trung giới thiệu vai trò và lợi ích của công nghệ số trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp và kinh tế hộ. Nội dung sách trình bày các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong tổ chức sản xuất, quản lý quy trình, truy xuất nguồn gốc, bảo quản và chế biến sản phẩm. Đồng thời, sách phân tích cách thức tận dụng nền tảng số, thương mại điện tử và mạng xã hội để mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm. Cuốn sách cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong quá trình chuyển đổi số ở hộ gia đình và hợp tác xã hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các mô hình, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực quản lý, tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho khu vực kinh tế nông thôn.

1007 lượt xem
Phóng sự báo chí - Lý thuyết, kỹ năng và kinh nghiệm
TS. Nguyễn Quang Hòa
Bằng một cách nào đó, bạn đã có và bắt đầu đọc cuốn sách này, điều đó có nghĩa trong huyết quản của bạn đã có “máu” của một người viết phóng sự. Đây là cuốn sách được biên soạn để hỗ trợ việc giảng dạy môn Phóng sự báo chí cho sinh viên năm thứ ba, bên cạnh giáo trình của Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Ở thời điểm này, sinh viên đã được học lịch sử báo chí, cách viết tin, quá trình sáng tạo một tác phẩm báo chí, làm quen với một số thể loại báo chí khác như Tường thuật, Ghi nhanh. Học nghề báo không thể chỉ nghe, đọc tài liệu mà rất quan trọng phần trao đổi, hướng dẫn của những người giàu kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài cụ thể. Bởi vậy, cuốn sách này ngoài cung cấp những kiến thức cơ bản về thể loại Phóng sự báo chí như: Hoàn cảnh lịch sử ra đời và phát triển của phóng sự, các dạng phóng sự, các quan niệm khác nhau về thể loại phóng sự cũng như các đặc điểm của thể loại này; những tố chất cần có của người viết; sách còn dành nhiều trang đề cập tới cách vượt qua những khó khăn khi tác nghiệp trong thực tế và cách thể hiện để bài viết sinh động, cuốn hút; cả những vấp váp của tác giả và những đồng nghiệp để bạn đọc tham khảo, sau này tránh lặp lại.
5358 lượt xem
Tài sản số - Cơ hội, thách thức và tương lai rộng mở
Lê Ngọc Anh, Phạm Xuân Thỏa, Lê Anh Dũng

“Tài Sản Số – Cơ Hội, Thách Thức Và Tương Lai Rộng Mở” là cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ về tài sản số, từ tiền mã hóa, blockchain đến các xu hướng công nghệ đang định hình nền kinh tế số. Sách phân tích những cơ hội đầu tư, kinh doanh và đổi mới mà tài sản số mang lại, đồng thời chỉ ra các rủi ro, thách thức về pháp lý, bảo mật và biến động thị trường. Với góc nhìn cân bằng và thực tiễn, tác phẩm giúp người đọc chuẩn bị kiến thức để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của kỷ nguyên số. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến tương lai của tài chính và công nghệ.

526 lượt xem
Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ
TS. Nguyễn Thị Thanh Vân

Cuốn sách Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt ở Trung Bộ nghiên cứu một hiện tượng tín ngưỡng – văn hóa tiêu biểu, phản ánh quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, đồng thời làm rõ vai trò của Thiên Y A Na trong đời sống tâm linh và bản sắc văn hóa của cư dân Trung Bộ. Thông qua tư liệu điền dã và nguồn sử liệu phong phú, sách góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân gian và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.

1097 lượt xem