Văn hóa - Xã hội
Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên
TS. Nguyễn Thu Dung

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Thị Thu Dung (chủ biên) biên soạn và xuất bản cuốn sách Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Nội dung được kết cấu thành 2 phần gồm một số bài viết và bài nghiên cứu chuyên sâu, phản ánh những giá trị đặc sắc trong đời sống văn hóa cũng như đặc điểm ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số sinh sống tại tỉnh Điện Biên. Mỗi bài viết đều là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của các tác giả - những người tâm huyết với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Cuốn sách không chỉ cung cấp những tư liệu quý báu về ngôn ngữ, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Điện Biên, mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò, vị trí của văn hóa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ hội nhập.

503 lượt xem
Các bức thư hay nhất thế giới - Kỷ niệm 50 năm cuộc thi viết thư quốc tế UPU (1971 - 2021)
Liên minh Bưu chính Thế giới

Liên minh Bưu chính Thế giới (gọi tắt là UPU) khởi xướng và tổ chức Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần đầu tiên vào năm 1971 dành cho các em thanh thiếu niên từ 10 - 15 tuổi với mục đích nhằm phát triển khả năng viết văn của thanh thiếu niên, làm phong phú thêm sự tinh tế trong tư duy, góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa các dân tộc và giúp các em hiểu biết thêm về bưu chính và vai trò của ngành Bưu chính trong cuộc sống và phát triển kinh tế, xã hội.
Mỗi năm UPU chọn ra một chủ đề của Cuộc thi gắn với các hoạt động mang tính văn hóa, kinh tế xã hội nổi bật chung của Liên hợp quốc hoặc các vấn đề lớn mang tính toàn cầu và cấp thiết. Thông qua các chủ đề này, các em học sinh không chỉ có dịp để phát triển tư duy và khả năng sáng tạo mà còn là dịp bày tỏ quan điểm và ý kiến của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan tới chủ đề của cuộc thi. Nhiều em đã có những bức thư làm sửng sốt người đọc vì tư duy và tình cảm sâu sắc vượt trên lứa tuổi của mình, mang tính nhân văn sâu sắc.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU (1971 - 2021), Văn phòng Quốc tế UPU đã phát hành ấn phẩm tập hợp 53 bức thư đạt giải Nhất Quốc tế tại các Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU và bình chọn ra bức thư hay nhất trong số đó (Best of The Best). Bức thư đạt giải Nhất Quốc tế Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 7 (năm 1978) với chủ đề “Bác bưu tá, người bạn tốt của tôi - The postman, my best friend” đã được lựa chọn là bức thư hay nhất. Chủ nhân của bức thư đó là Mi-kyong Ryu, bé gái 11 tuổi đến từ Hàn Quốc vào năm 1978. Chủ đề và nội dung bức thư gắn tới hình ảnh thân quen về người bưu tá, gợi cho chúng ta nhớ tới hình ảnh các nhân viên Bưu điện Việt Nam - một trong những lực lượng tuyến đầu miệt mài chuyển phát thư, bưu kiện, hàng hoá tới tận tay người dân trong bối cảnh đại dịch Covid ảnh hưởng tới toàn xã hội. Để tạo cơ hội cho các Nhà trường và các em học sinh trên cả nước tiếp cận phiên bản bức thư hay nhất (Best of The Best) của UPU, Bộ Thông tin và Truyền thông đã liên hệ được bản quyền, và giao Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tổ chức biên dịch, biên tập, xuất bản và phát hành cuốn sách “Các bức thư hay nhất thế giới” sang tiếng Việt. Cuốn sách hữu ích này không chỉ giới thiệu nguyên tác 53 bức thư như những viên ngọc sáng lấp lánh sắc màu mà còn đem đến cho người đọc những ý tưởng, cảm xúc chân thật, các chi tiết ấn tượng nhất của mỗi bức thư. Đọc những bức thư sinh động và lay động lòng người trong ấn phẩm nêu trên cũng là lúc chúng ta lắng lại để suy ngẫm, cảm nhận và liên tưởng về cuộc sống xoay quanh mỗi chủ đề của cuộc thi. Hy vọng, các em học sinh sẽ tìm thấy trong cuốn sách của mình những gợi mở, những liên hệ thú vị để hình thành cách thể hiện riêng, ghi dấu ấn riêng và sẽ có những bức thư hay khi tham gia những cuộc thi tới.

7124 lượt xem
Ấn Độ: Đất nước- Xã Hội - Văn Hóa
PGS. TS Nguyễn Thị Mai Liên, PGS. TS LÊ VĂN TOAN
Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ có nền tảng vững chắc từ lâu đời, khởi nguồn từ những mối liên hệ và giao lưu lịch sử sâu xa về văn hóa - tôn giáo - thương mại. Mối quan hệ đó không ngừng được phát huy và được nâng lên một tầm cao mới nhờ sự tạo dựng, vun đắp của hai vị lãnh tụ tiền bối, hai nhà văn hóa kiệt xuất là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Jawaharlal Nehru, cùng các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước. Thủ tướng J.Nehru cũng chính là một trong những vị khách đầu tiên đến thăm Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Tháng 02/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm và làm việc tại Ấn Độ. Kể từ đó, các chuyến thăm cấp cao giữa hai bên ngày càng được tăng cường. Hơn nửa thế kỷ qua, tuy tình hình của mỗi nước Việt Nam, Ấn Độ, tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động, cũng như sự đan xen phức tạp của các mối quan hệ quốc tế, nhưng quan hệ Việt Nam - Ấn Độ vẫn “trong sáng như bầu trời không một gợn mây”. Câu nói này của Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ những năm 1980 vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay và vẫn được các thế hệ lãnh đạo hai nước nhắc lại như một câu châm ngôn khi nói đến mối tình keo sơn, ngày càng phát triển giữa hai dân tộc. Năm 2017 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Ấn Độ khi hai nước kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (07/01/1972 - 07/01/2017) và 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược (tháng 7/2007 - 7/2017). Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã hợp với Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội Hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ tổ chức xuất bản Bộ sách về đất nước, con người Ấn Độ, gồm 8 cuốn: 1. Ấn Độ: Đất nước - Xã hội - Văn hóa. 2. Kinh tế Ấn Độ - Tiến trình tự lực, tự cường. 3. Người Ấn Độ - Sự thật về lý do tại sao thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ Ấn Độ. 4. Người Ấn Độ thích tranh luận. 5. Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, năng lượng. 6. Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực văn hóa. 7. Văn hóa chiến lược của Ấn Độ - Xây dựng chính sách an ninh quốc gia. 8. Việt Nam - Ấn Độ: Bối cảnh mới, tầm nhìn mới. Nội dung Bộ sách giới thiệu về lịch sử, văn hóa, kinh tế và con người Ấn Độ; làm nổi bật văn hóa chiến lược của Ấn Độ trong xây dựng chính sách an ninh quốc gia qua các thời kỳ lịch sử; đặc biệt là các công trình khoa học của các chuyên gia Việt Nam và Ấn Độ về mối quan hệ giữa hai quốc gia Việt Nam - Ấn Độ trên lĩnh vực văn hóa, kinh tế.
5890 lượt xem
Kỷ yếu đoàn công tác số 15 năm 2024
Ban Tuyên giáo Trung ương

Năm 2024, Đoàn công tác số 15 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong quá trình công tác, học tập và rèn luyện. Với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và sáng tạo, các thành viên trong đoàn không chỉ phát huy cao độ năng lực cá nhân mà còn góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, gắn bó. Những chuyến đi, những buổi làm việc, những kỷ niệm đáng nhớ trong suốt hành trình là minh chứng sống động cho tinh thần cống hiến, khát vọng vươn lên và tình đồng đội bền chặt. Kỷ yếu này là nơi lưu giữ lại những dấu mốc ý nghĩa, để mỗi thành viên khi nhìn lại đều cảm nhận được niềm tự hào và động lực tiếp tục phấn đấu trong chặng đường sắp tới.

1228 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Đông
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Đông, hay xứ Hải Đông, là tên gọi dân gian để chỉ tiểu vùng văn hóa nằm ở mạn phía đông của vùng đồng bằng sông Hồng, chủ yếu bao gồm tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng hiện nay. Lấy Thăng Long - Kẻ Chợ làm trung tâm, có thể chia 4 phần còn lại của đồng bằng Bắc Bộ - tam giác châu sông Hồng và sông Thái Bình thành “tứ trấn” (tứ chiếng): Hải Đông trấn (lộ, xứ) tức xứ Đông; Sơn Tây trấn (xứ) tức xứ Đoài; Sơn Nam trấn (xứ) tức xứ Nam; Kinh Bắc trấn (xứ) tức xứ Bắc. Còn miền núi phía Bắc và từ Thanh, Nghệ trở vào Nam thì đều là vùng ngoại vi đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Với cách phân chia như vậy, xứ Đông gần như nằm trọn trong lưu vực sông Thái Bình. Hệ thống sông Thái Bình bị chi phối mạnh bởi chế độ thủy triều nên đất đai ở xứ Đông không màu mỡ như ở xứ Nam. Nguồn sống chính của cư dân nơi đây chủ yếu dựa vào đánh bắt thủy hải sản kết hợp với sản xuất nông nghiệp. Thủ công nghiệp trong vùng cũng khá phát triển, đặc biệt tập trung quanh các khu vực kế cận thành phố Hải Dương, thành phố Hải Phòng với số lượng ngành nghề đa dạng, phong phú, như nghề làm vật dụng (chiếu, nón, lược, mũ, giầy dép), nề, mộc, chạm khắc, đan mây tre, chế biến lương thực thực phẩm, khắc ván in sách... Xứ Đông có vị chí chiến lược quan trọng. Từ Kiếp Bạc (thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) có 6 đường thủy bộ đi ra biển và tiến vào đất liền, kết nối với Thăng Long - Hà Nội. Cũng chính vì lý do đó nên hoạt động thương mại ở nơi đây diễn ra từ rất sớm. Buôn bán, trao đổi hàng hóa phát triển suốt một dải ven biển Hải Phòng và mở rộng ra khu vực lân cận, tạo thành những đầu mối giao thương không chỉ của thương nhân khắp mọi miền đất nước Việt Nam mà còn của khách buôn ngoại quốc đến từ Trung Quốc, Cao Ly (Triều Tiên), Ấn Độ... Văn hóa xứ Đông có sự hội tụ, hỗn dung giữa văn hóa nông nghiệp (đồng bằng) và văn hoá biển (vùng duyên hải, hải đảo). Quá trình đô thị hoá (nhất là từ thời Pháp thuộc với các trung tâm công nghiệp, khai mỏ...) làm phong phú, đa dạng hơn văn hóa nơi đây nhờ sự tiếp nhận những yếu tố mới ảnh hưởng từ bên ngoài. Cư dân xứ Đông khá phức tạp. Cộng đồng cư dân nơi đây là kết quả của nhiều đợt di cư trong lịch sử. Vào khoảng đầu thiên niên kỷ I, chính quyền đô hộ Đông Hán chuyển một bộ phận người dân từ miền trung du xuống ven biển làm muối và khai thác hải sản. Theo sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (dòng họ Vũ “tổ tiến sĩ” ở Mộ Trạch, Bình Giang, Hải Dương) thì Hải Đông là quê hương nguyên thủy của nhà Trần thuở hàn vi lưu lạc, sau mới dời về Tức Mặc - Thiên Trường (Nam Định). Tiếp đó, dân cư từ các vùng khác cũng đến khẩn hoang, lập làng. Cũng có trường hợp những người vượt biển từ phía bắc xuống, phía nam lên. Từ muôn nẻo, các nhóm cư dân kẻ trước người sau cùng tới mảnh đất này, cộng cư lâu dài, tạo thành một cộng đồng cư dân mới trong vùng.
3048 lượt xem
85 Chân dung Văn hóa, Văn chương Việt - Tập 1
GS. Phong Lê

Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”, và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội. 

Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp. 

Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập. 

Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh. 

Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được. 

m 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.

Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.

5969 lượt xem
85 Chân dung Văn hóa, Văn chương Việt - Tập 3
GS. Phong Lê

Hai bậc thầy, hai nhà phê bình lớn và cũng là bậc tiền bối của tôi ở Viện Văn học là Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại”,và Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”; một người chọn 79 nhà văn, một người chọn 45 nhà thơ cho sách của mình. Còn tôi, ở sách này, tôi chọn 85 nhà văn, nhà văn hóa là đối tượng tôi đã có hạnh phúc được đọc, được khảo sát, được chiêm nghiệm trong suốt hành trình nghề nghiệp, kể từ năm 1960 là năm tôi vào nghề, ở địa chỉ công tác là Viện Văn học - 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội.

 Con số 85 tác giả, xếp theo thứ tự năm sinh, với khởi đầu là một số tên tuổi làm nên những chuyển động lớn trong văn học thời trung đại, kể từ Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm... cho đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ...; còn số rất lớn là những tên tuổi làm nên gương mặt thế kỷ XX khi văn học Việt Nam chuyển vào quỹ đạo hiện đại. Do hứng thú riêng, do nhu cầu của công việc và do các giới hạn của khả năng nên tôi chỉ có thể đến với 85 “gương mặt”. Còn nhiều, rất nhiều tên tuổi khác cũng rất tiêu biểu, rất sáng giá, rất đáng tôn vinh đã được đề cập ở nhiều cuốn sách khác của các bậc thầy và đồng nghiệp. Mặt khác, dừng lại ở 5 gương mặt thuộc thế hệ 4X, tôi cũng đành phải để trống rất nhiều tên tuổi mới và trẻ, ở các thế hệ từ sau 5X là đội ngũ hiện đang đóng vai trò chủ lực làm nên gương mặt văn chương Việt thời Đổi mới và Hội nhập... Chọn cách viết chân dung cho 85 tác giả ở sách này tôi muốn đến với một mục tiêu khác, một cách tiếp cận khác với hai cuốn sách đã in: “Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại - thế kỷ XX“ và “Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử”; cả ba có ý nghĩa bổ sung cho nhau để làm nên một tổng kết cho 50 năm nghề và nghiệp.

 Một số tác giả trong sách này tôi có quá trình “theo đuổi” khá lâu; nếu tính từ bài viết đầu tiên thì có người là trên 50 năm như Nam Cao, hoặc trên 30 năm như Hồ Chí Minh - cả hai đều đã có công trình in riêng. Có tác giả, tôi có dịp viết đi viết lại nhiều lần. Nhưng khi đưa vào sách này, thì tất cả đều được viết mới, viết lại trong bối cảnh hơn ba thập niên mang tên Đổi mới và Hội nhập. 

Và, dẫu dài hoặc ngắn, qua 85 chân dung, tôi đều có chủ ý hoặc mong muốn khai thác cho được một hoặc vài khía cạnh có ý nghĩa, trước hết đối với bản thân mình, nhằm qua họ mà thấu hiểu những bài học nhân sinh và nghề nghiệp trước các yêu cầu và thử thách của hoàn cảnh. 

Tám mươi lăm, hoặc năm mươi, hoặc một trăm, hoặc hơn nữa để nói đến những gương mặt tiêu biểu của văn hóa, văn chương, học thuật Việt Nam - đó là điều tùy thuộc vào quan niệm và cách chọn của mỗi người. Đây chỉ là cách chọn phù hợp với vốn đọc, vốn nghĩ, vốn hiểu, sự yêu mến, và cả những bất cập cùng hạn chế của riêng tôi. Dễ hiểu là còn rất nhiều người xứng đáng mà tôi chưa có điều kiện viết, hoặc chưa viết được. 

m 2017, 85 chân dung văn hóa văn chương Việt đã được xuất bản và phát hành dưới dạng sách in, may mắn thay, ấn bản này được đông đảo độc giả đón nhận và phản hồi tích cực. Đến nay, năm 2025, tôi lại được Nhà xuất bản ngỏ lời xuất bản thành bộ sách 3 tập dưới dạng sách điện tử và sách nói. Mong muốn với sự hỗ trợ của công nghệ, những ấn bản “chuyển đổi số” sẽ vươn xa, đến nhanh và đến gần hơn với bạn đọc bốn phương.

Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã có rất nhiều động viên và giúp đỡ quý báu trong quá trình xuất bản “đứa con tinh thần” này.

5864 lượt xem
Học điều hay làm việc tốt mỗi ngày. Quyển 2 - Giữ lời hứa
Thu Hằng, Phạm Tuấn

Qua câu chuyện và minh họa hấp dẫn, cuốn sách nhắc chúng ta khi đã hứa thì phải giữ đúng lời và gửi tới các bạn trẻ thông điệp: Hứa mà không làm hoặc làm không đến nơi đến chốn sẽ làm mất đi niềm tin của mọi người đối với mình

5117 lượt xem
Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc (bản rút gọn)
TS. Nguyễn Mạnh Cường

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, cùng mục tiêu góp phần lan tỏa tri thức, chia sẻ kinh nghiệm và định hướng phát triển cho lĩnh vực này, Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông phối hợp với TS. Nguyễn Mạnh Cường biên soạn và xuất bản cuốn sách Xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với phát triển văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Cuốn sách là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu, kết hợp giữa cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động từ các địa phương, phản ánh nỗ lực chung trong việc tìm kiếm mô hình phát triển kinh tế cộng đồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa của vùng miền.

359 lượt xem
Danh Thắng Hà Nội (Test)
Hà Nguyễn

Hà Nội có một sức quyến rũ kỳ lạ đối với người xa đến. Ở chốn xa xôi nào đó, nơi hang cùng xóm vắng hay rừng sâu núi thẳm, phương trời Tây hay phương trời Nam, chiều chiều vẫn có những người ngóng về một phương trời để cố trông cái ánh sáng mờ của Hà Nội chiếu lên nền mây, để mong mỏi một ngày được bước chân trên những đường phố cũ, thưởng ngoạn, khám phá những danh thắng của đất đế đô 1000 năm tuổi.

1549 lượt xem
Phóng sự báo chí - Lý thuyết, kỹ năng và kinh nghiệm
TS. Nguyễn Quang Hòa
Bằng một cách nào đó, bạn đã có và bắt đầu đọc cuốn sách này, điều đó có nghĩa trong huyết quản của bạn đã có “máu” của một người viết phóng sự. Đây là cuốn sách được biên soạn để hỗ trợ việc giảng dạy môn Phóng sự báo chí cho sinh viên năm thứ ba, bên cạnh giáo trình của Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Ở thời điểm này, sinh viên đã được học lịch sử báo chí, cách viết tin, quá trình sáng tạo một tác phẩm báo chí, làm quen với một số thể loại báo chí khác như Tường thuật, Ghi nhanh. Học nghề báo không thể chỉ nghe, đọc tài liệu mà rất quan trọng phần trao đổi, hướng dẫn của những người giàu kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài cụ thể. Bởi vậy, cuốn sách này ngoài cung cấp những kiến thức cơ bản về thể loại Phóng sự báo chí như: Hoàn cảnh lịch sử ra đời và phát triển của phóng sự, các dạng phóng sự, các quan niệm khác nhau về thể loại phóng sự cũng như các đặc điểm của thể loại này; những tố chất cần có của người viết; sách còn dành nhiều trang đề cập tới cách vượt qua những khó khăn khi tác nghiệp trong thực tế và cách thể hiện để bài viết sinh động, cuốn hút; cả những vấp váp của tác giả và những đồng nghiệp để bạn đọc tham khảo, sau này tránh lặp lại.
5096 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 9
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

628 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 8
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sĩ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

483 lượt xem
Kho tàng vè xứ Nghệ tập 7
Ninh Viết Giao

Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, một người con của tỉnh Thanh,
nhưng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sưu tầm, nghiên
cứu, khẳng định và tôn vinh văn hoá dân gian xứ Nghệ.

Kho tàng vè xứ Nghệ được xuất bản lần đầu trong hai năm (từ
1999 - 2000). Ngay sau khi xuất bản, bộ tác phẩm đã nhanh chóng
có sức lan toả trong công chúng; trở thành tài liệu quan trọng để tra
cứu, nghiên cứu văn hoá dân gian xứ Nghệ; là chất men tuyệt vời
để các nghệ sỹ, nghệ nhân,... sáng tác nên những tác phẩm dân gian
Nghệ Tĩnh đặc sắc; đặc biệt là sự bảo lưu, phát triển, vinh danh Di
sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh,...

537 lượt xem
Văn hóa và Con người Việt Nam hiện nay - Mấy suy nghĩ từ thực tiễn
GS.TS Định Xuân Dũng
Lịch sử của nhân loại nói chung và lịch sử của dân tộc Việt Nam nói riêng đã chứng minh rằng, văn hóa luôn gắn liền với cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội. Văn hóa không chỉ là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn là một nhân tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững của đất nước, của dân tộc. Văn hóa là một trong bốn trụ cột của phát triển bền vững, có mối quan hệ chặt chẽ và có vị trí, vai trò ngang hàng với kinh tế, chính trị và môi trường (hiểu theo nghĩa rộng, trong đó, xã hội là một thành tố quan trọng). Trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố văn hóa và con người Việt Nam luôn được phát huy, tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành và bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Ngày nay, những nhân tố đó tiếp tục đóng vai trò là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Qua 30 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng ta về văn hóa đã có bước phát triển quan trọng, trở thành cơ sở khoa học chỉ đạo thực tiễn xây dựng phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Từ năm 1986, tiếp tục kế thừa, phát triển, mở rộng quan điểm về văn hóa của các giai đoạn trước, Đảng ta đi tới quan điểm giản dị nhưng sâu sắc: Văn hóa là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người, thể hiện trình độ phát triển chung của đất nước, là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống; Văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển. Đó là tầm nhìn sâu, mới, toàn diện, bao quát hơn về vai trò của văn hóa, tạo điều kiện để văn hóa phát triển đa dạng, phong phú, gắn bó mật thiết với mọi mặt đời sống. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đó là nền văn hóa đa dạng, phong phú, có khả năng chiếm lĩnh các mặt khác nhau của đời sống xã hội. Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận rằng, văn hóa đã và đang bộc lộ những hạn chế, yếu kém và mặt trái của nền kinh tế thị trường đang tác động tiêu cực tới sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam. Một trong những biểu hiện rõ rệt của xu hướng này là sự suy giảm về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của không ít người, thậm chí, một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất… Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xin giới thiệu tới bạn đọc tác phẩm Văn hóa và con người Việt Nam hiện nay - Mấy suy nghĩ từ thực tiễn của GS, TS Đinh Xuân Dũng. Mỗi bài viết trong tác phẩm là một sự tìm tòi, là trăn trở và suy ngẫm của tác giả về những vấn đề nóng bỏng, mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc trong đời sống văn hóa, văn học, nghệ thuật nước nhà hôm nay. Với tư liệu phong phú, dẫn chứng sinh động, lối hành văn giản dị mà khúc chiết, sâu sắc, tác phẩm đã khẳng định: phát triển văn hóa phải luôn đi cùng sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Có thể nói, tác phẩm thực sự là một tài liệu có giá trị về lý luận, thiết thực trong việc nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam đương đại.
1755 lượt xem
Nghiên cứu dư luận xã hội
Khoa Xã hội học và phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, TS. Dương Thị Thu Hương
Dư luận xã hội là hiện tượng xã hội phức tạp, đa chiều cạnh, có thể tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau: tâm lý học; chính trị học, truyền thông, xã hội học... Cuốn sách “Nghiên cứu Dư luận xã hội” tập trung giới thiệu các kiến thức cơ bản về Dư luận xã hội, đặc biệt dành nhiều trang trình bày về các phương pháp, kỹ thuật và quy trình nghiên cứu Dư luận xã hội từ tiếp cận Xã hội học. Với kiến thức được trang bị, người học không chỉ có được nền tảng hiểu biết đầy đủ về Dư luận xã hội, các biện pháp quản lý Dư luận xã hội phù hợp, họ còn được trang bị kiến thức, kỹ năng tiến hành các nghiên cứu Dư luận xã hội bài bản, khoa học, hiệu quả. Cuốn sách là tài liệu giảng dạy chính thức cho bậc cử nhân ngành Xã hội học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng thời là sách tham khảo cho sinh viên và học viên cao học, NCS các ngành khác: báo chí, truyền thông, tuyên truyền, truyền thông chính sách, công tác xã hội tại Học viện cũng như tại nhiều cơ sở đào tạo sinh viên ngành Xã hội học và các ngành báo chí, truyền thông khác trên toàn quốc. Cuốn sách cũng giúp cho cán bộ nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực có thể tự tìm hiểu và vận dụng tiến hành nghiên cứu Dư luận xã hội theo đúng trình tự, đáp ứng yêu cầu chuẩn mực nghiên cứu, từ đó đem lại kết quả khách quan, đáng tin cậy, là cơ sở để xây dựng các chiến lược quản lý phát triển hiệu quả xã hội.
5180 lượt xem