Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách tập hợp 18 bài nghiên cứu nguồn lực sinh thái - văn hóa một các tỉnh, thành Đông Nam Bộ và một số tỉnh, thành Tây Nam Bộ (Cần Thơ, Long An, An Giang, Trà Vinh) được bố trí theo trình tự từ chung cả vùng đến riêng từng địa phương, từ Đông Nam Bộ đến Tây Nam Bộ, và từ địa phương đóng vai trò trung tâm vùng đến một số tỉnh xung quanh. Cuốn sách tập trung vào hai nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất là, nhận diện tổng thể nguồn lực sinh thái - văn hóa của một số địa phương và thiết chế văn hóa tiêu biểu ở Nam Bộ dưới góc nhìn văn hóa học; thứ hai là, xây dựng triết lý và thương hiệu văn hóa cho các địa phương nhằm góp phần định hình hướng phát triển bền vững trong tương lai.
Nguyên nhân sụp đổ của các triều đại phong kiến Việt Nam
Ngọc Lặc là huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy, Bá Thước; phía Nam giáp huyện Thọ Xuân, Thường Xuân; phía Tây giáp huyện Lang Chánh; phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Yên Định.
Ngọc Lặc từ xa xưa đã giữ một vị trí địa lý khá đặc biệt. Đối với nội tỉnh Thanh Hóa, Ngọc Lặc là vùng đất cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa vùng miền núi với các huyện đồng bằng của tỉnh. Đối với bên ngoài tỉnh, Ngọc Lặc có tính chất mở ra với các địa phương khác trong nước. Vị trí địa lý của Ngọc Lặc ngày càng phát huy giá trị của một vùng đất mang tính cởi mở tạo nên thế và lực cho huyện trong thời kỳ hợp tác và phát triển.
Ngọc Lặc có diện tích tự nhiên 49.092,4 ha; có 21 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm Thị trấn Ngọc Lặc (huyện lỵ) và 20 xã: Cao Ngọc, Cao Thịnh, Đồng Thịnh, Kiên Thọ, Lam Sơn, Lộc Thịnh, Minh Sơn, Minh Tiến, Mỹ Tân, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Ngọc Trung, Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Quang Trung, Thạch Lập, Thúy Sơn, Vân Am.
Ngọc Lặc là nơi có một lịch sử cư trú lâu đời của các dân tộc: Mường, Kinh (Việt), Dao, Thái. Tính đến ngày 31/12/2023, dân số của Ngọc Lặc là 35.137 hộ. Trong đó, người Mường có 25.295 hộ, chiếm hơn 70% dân số toàn huyện. Người Kinh có 9.209 hộ, chiếm 28% dân số toàn huyện. Người Dao, người Thái và các dân tộc khác chiếm khoảng gần 2% dân số toàn huyện.
Ở Ngọc Lặc, người Mường có mặt khắp nơi trong huyện, đông nhất là ở các xã: Thạch Lập, Nguyệt Ấn, Vân Am, Thúy Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Mỹ Tân, Cao Ngọc, Quang Trung, Đồng Thịnh, Lộc Thịnh, Ngọc Trung, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Minh Tiến, Phúc Thịnh, Phùng Giáo, Phùng Minh, Cao Thịnh và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Kinh có số dân đông ở các xã: Lam Sơn, Kiên Thọ, Minh Sơn, Ngọc Liên, Cao Thịnh, Minh Tiến và Thị trấn Ngọc Lặc. Người Dao tập trung tại làng Tân Thành thuộc xã Thạch Lập, làng Hạ Sơn thuộc thị trấn Ngọc Lặc và làng Phùng Sơn thuộc xã Phùng Giáo. Người Thái cư trú tại xã Phùng Minh, Phúc Thịnh.
Các dân tộc ở Ngọc Lặc cư trú và sinh sống với nhau hòa hợp. Người Mường có mặt trên đất Ngọc Lặc từ rất lâu đời. Huyền thoại về vùng đất cho biết các Mường như Mường Rặc (nay thuộc xã Quang Trung, Ngọc Liên, và một phần xã Ngọc Sơn), Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Chẹ (nay thuộc xã Cao Ngọc, Mỹ Tân); Mường Lập, Mường Yến (nay thuộc xã Thạch Lập); Mường Tạ (nay thuộc xã Thúy Sơn và một phần của xã Thạch Lập); Mường Mèn (nay thuộc xã Minh Sơn, Minh Tiến); Mường Ngòn (nay thuộc xã Ngọc Khê); Mường Ứn; Mường Bằng (nay thuộc xã Kiên Thọ, Nguyệt Ấn); Mường Um (nay thuộc xã Vân Am) là các Mường cổ trong vùng. Từ đó, đã hình thành nên những lớp di sản văn hóa dân gian Mường phong phú, có nét sắc thái riêng, biểu hiện rõ nét trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục, lễ hội và nguồn tri thức dân gian, kiến tạo nên bản sắc vùng đất Ngọc Lặc với nền tảng văn hóa Mường sâu đậm. Và nét đặc trưng dễ nhận thấy nhất là không gian sinh sống của người Mường với kiến trúc ngôi nhà sàn truyền thống. Trên địa bàn huyện hiện có gần một nghìn ngôi nhà sàn, trong đó, tập trung nhiều nhất là làng Lập Thắng, xã Thạch Lập. Lập Thắng là làng văn hóa du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Mường.
Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, vùng đất Ngọc Lặc có địa thế chiến lược trọng yếu, là căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược. Vì thế Ngọc Lặc là vùng đất có mật độ cao về các di tích lịch sử, văn hóa: Đền thờ Trung túc vương Lê Lai, Đền Lai, Đền Lê Lâm, Đền Mỹ Lâm, Đền Cao, Đền Chẹ, Đền Cọn, Đền Riếng, Đền Bà Chúa Chầm, Thiền tự Trúc Lâm - Bàn Bù. Các di tích lịch sử, văn hóa này đều gắn với các lễ hội truyền thống có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng các dân tộc ở Ngọc Lặc và các vùng phụ cận.
Trên cơ sở tính đặc sắc của tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa, Ngọc Lặc có đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch: Du lịch cộng đồng, Du lịch sinh thái, Du lịch văn hóa, Du lịch tâm linh, Du lịch nghỉ dưỡng, Du lịch nông thôn, đưa du lịch trở thành một ngành, một thành phần kinh tế quan trọng của địa phương. Du lịch là ngành định hướng tài nguyên rất rõ nét, vì vậy, việc biên soạn sách Bách khoa thư Du lịch Ngọc Lặc có ý nghĩa quan trọng, nhận diện các giá trị văn hóa truyền thống và giá trị tự nhiên có thể khai thác phát triển thành sản phẩm du lịch, đồng thời quảng bá, giới thiệu về tài nguyên du lịch Ngọc Lặc, nhằm đưa các di tích lịch sử, văn hóa trở thành các điểm đến, cùng các giá trị văn hóa đặc sắc trở thành các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn đối với du khách khi đến Ngọc Lặc.
Reflects the proceedings and outcomes of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; key guiding thoughts and strategic orientations of the 14th Congress in the New Era; and affirms the faith and determination of the entire Party, people, and armed forces of Vietnam to successfully implement the Resolution of the 14th National Congress. This document has been meticulously and systematically compiled, featuring deep coverage of key external information themes. It aims to serve as a vital reference for external information work, actively promoting a image of Vietnam as peaceful, independent, self-reliant, cooperative, friendly, prosperous, and happy.
Nội dung cuốn sách giới thiệu những thông tin cơ bản về đất nước và con người Lào, về những đặc trưng của đất nước Triệu Voi thông qua các lĩnh vực lịch sử - quân sự, chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội,... cùng song hành trong thế tương quan so sánh với những đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam. Bên cạnh đó, cuốn sách còn đi sâu phân tích mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Việt Nam - Lào trong quá khứ, hiện tại và những triển vọng kết nối trên tất cả lĩnh vực. Qua đó giúp cho việc triển khai hiệu quả kế hoạch hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới và cũng là nhằm hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, đặc biệt là với đất nước Lào; nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào.
«Новый путь нации»: отражение хода и итогов XIV съезда Коммунистической партии Вьетнама; ключевых идей и стратегических ориентиров XIV съезда в Новую эпоху; утверждение веры и решимости всей партии, всего народа и всей армии Вьетнама в успешной реализации Резолюции XIV съезда. Материал собран тщательно и системно, в нем глубоко затронуты вопросы внешней информации в надежде на то, что это издание станет важным документом для работы в области внешнеинформационной деятельности, способствующим мощному распространению образа Вьетнама как страны мира, независимости, самостоятельности, сотрудничества, дружбы, развития, процветания и счастья.
Cuốn sách "Biến đổi sinh kế của người Mường ở vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình (mô hình tái định cư) (bản rút gọn)" được bố cục làm 5 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề tái định cư
Chương 2: Quá trình tái định cư Thủy điện Hòa Bình
Chương 3: Biến đổi sinh kế trong mô hình di vén: Xóm Ké
Chương 4: Biến đổi sinh kế trong mô hình lập làng mới: Xóm Lương Phong
Chương 5: Một số hoạt động hỗ trợ phát triển sau tái định cư
Tái định cư công trình thủy điện Hòa Bình đã diễn ra cách đây gần nửa thế kỷ, tạo ra một khoảng thời gian đủ dài để nghiên cứu này, với dữ liệu được thu thập và phân tích trong bối cảnh thực địa những khoảng thời gian trước năm 2017, mang tính tổng kết sâu sắc. Nhờ những thành công, hạn chế trong việc thi hành chính sách tái định cư bắt buộc đối với người Mường ở Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ), mà bài toán sinh kế cho người dân vùng tái định cư bắt buộc phải được coi trọng và tính toán hơn nữa.
Nhà xuất bản trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc, với hy vọng rằng cuốn sẽ góp phần cải thiện việc xây dựng và thực hành chính sách tái định cư, chính sách phát triển vùng miền núi ở Việt Nam.
Không gian văn hóa Việt Nam – Tiểu vùng văn hóa xứ Huế của tác giả Hà Nguyễn là công trình giới thiệu toàn diện về một trong những tiểu vùng văn hóa đặc sắc và tiêu biểu của Việt Nam. Cuốn sách khái quát quá trình hình thành và phát triển của văn hóa xứ Huế, làm rõ những yếu tố tạo nên bản sắc riêng của vùng đất cố đô, nơi hội tụ và kết tinh nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nội dung sách đề cập đến con người xứ Huế, đời sống vật chất, kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và hệ thống di sản văn hóa phong phú của vùng đất này. Đặc biệt, tác phẩm nhấn mạnh nét văn hóa cung đình và tính cách thanh lịch, tinh tế của Huế, những giá trị vẫn được bảo tồn và phát huy trong đời sống đương đại. Với cách trình bày khoa học, dễ hiểu cùng nhiều tư liệu minh họa, cuốn sách giúp người đọc hiểu sâu hơn về vị trí, vai trò và những đóng góp của xứ Huế trong không gian văn hóa Việt Nam.
Cuốn sách Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong phát triển du lịch cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc gắn bảo tồn văn hóa tộc người với phát triển du lịch cộng đồng ở các địa bàn tiêu biểu như Mai Châu, Mộc Châu và Sa Pa. Dựa trên kết quả nghiên cứu và điền dã thực địa, sách đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa vùng cao.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc như một trang vàng chói lọi. Với ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần dũng cảm, kiên cường, bộ đội ta đã giữ vững Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm, góp phần tạo nên thắng lợi trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, đồng thời giữ vững vùng giải phóng, nơi bố trí trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Là người lính thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, rồi sau này là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48 (Thạch Hãn), đã từng trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị những năm tháng đó, tôi vô cùng xúc động mỗi khi nghĩ đến đồng đội của mình - những người vào sinh, ra tử trên chiến trường, họ luôn phải đối diện với bom đạn, chết chóc, nhưng vẫn hiên ngang, bình thản và tự tin vào chiến thắng. Trong những đồng đội ấy - những người lính kiên cường chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972 đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong lòng tôi.
Trong Chiến dịch Quảng Trị 1972 nói chung, cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị nói riêng, quân và dân Quân khu Thủ đô (trước đây) đã có những đóng góp vô giá. Những năm tháng đó, lớp lớp thanh niên Hà Nội - Hà Tây không ngại hy sinh, gian khổ sẵn sàng xung phong ra tiền tuyến với tinh thần “Ba sẵn sàng” và chí khí “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” chỉ mong Bắc – Nam sớm được sum họp một nhà. Thật khó có thể liệt kê, đong đếm hết được những tình cảm và đóng góp của quân và dân Thủ đô Hà Nội vì miền Nam ruột thịt trong những ngày tháng khó khăn ấy. Trong số hơn bốn nghìn chiến sỹ đã ngã xuống ở Mặt trận Thành cổ Quảng Trị năm 1972, riêng cán bộ, chiến sỹ người Hà Nội (bao gồm cả Hà Nội và Hà Tây trước đây) đã hy sinh 518 người, đứng đầu danh sách liệt sỹ của 30 tỉnh - thành phố trong cả nước có con, em chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Ngày 23/6/2015, Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội đã ra
Quyết định số 2872/QĐ-UBND về việc thành lập Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội. Với mục đích nghĩa tình đồng đội, tri ân liệt sỹ, phát huy truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”... ngay sau khi thành lập, Hội đã nhận được sự cổ vũ, giúp đỡ của các cấp ủy, chính quyền và đáp ứng nguyện vọng của hàng nghìn cựu chiến binh (CCB) đang sinh sống trên địa bàn Hà Nội. Cho đến nay, Hội đã tổ chức được 15 chi hội ở các quận, huyện, thị xã với số lượng trên 1.400 hội viên. Trong năm 2024, hướng tới kỷ niệm 10 năm thành lập Hội, đồng thời thiết thực kỷ niệm các Ngày lễ lớn của Quân đội và Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị thành phố Hà Nội đã chủ trương xuất bản cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Đây là một việc làm rất có ý nghĩa nhằm tri ân các anh hùng liệt sỹ, nâng cao niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mỗi hội viên Hội Truyền thống Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị trong việc giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và lực lượng vũ trang (LLVT) Thủ đô trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong tình hình mới.
Cuốn sách Ký ức về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 được kết cấu làm 2 phần. Phần 1 gồm các bài viết của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, các tướng lĩnh (những người đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu) và những ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài quân đội về cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.
Phần 2 là ký ức về 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Phần này chủ yếu tập hợp những bài viết của hội viên 15 chi hội. Với dung lượng gần 500 trang và hơn 70 bài viết dưới các thể loại, cuốn sách thực sự là một tư liệu quý giá. Thông qua những câu chuyện của những người trong cuộc, để lại cho người đọc những cảm xúc chân thật về những con người một thời không tiếc tuổi xuân và tính mạng của mình cho nền độc lập tự do của dân tộc. Qua những trang viết mộc mạc đơn sơ của những người lính trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ Thị xã - Thành cổ Quảng Trị năm 1972, người đọc nhận thấy khát vọng cống hiến của một thế hệ sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sự dũng cảm, hy sinh của các chiến sỹ năm xưa vẫn là nguồn cảm hứng mãnh liệt, thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay sống có lý tưởng, hoài bão, mang hết sức lực, tài năng cống hiến cho hòa bình, phát triển của Thủ đô Hà Nội và đất nước.
"Sóng căng đét – Ví khét lẹt" là ấn phẩm truyền thông của Cục Tần số Vô tuyến điện, được biên soạn nhằm phổ biến kiến thức về tần số vô tuyến điện, nâng cao nhận thức về việc sử dụng phổ tần và thiết bị vô tuyến đúng quy định, đồng thời truyền tải các thông tin chuyên ngành qua lối thể hiện gần gũi, sinh động và dễ tiếp cận với đông đảo bạn đọc.
Cuốn sách giới thiệu những di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bằng sông Hồng nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam. Những di sản này thuộc bảy loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, bao gồm lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, ngữ văn dân gian, và tiếng nói, chữ viết. Việc thu thập thông tin cho cuốn sách này chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của các dự án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam” của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương