Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cẩm nang xuất khẩu sang thị trường Trung Đông được biên soạn nhằm mang đến cho độc giả cái nhìn toàn diện và hệ thống về: đặc điểm kinh tế, thương mại và nhu cầu nhập khẩu của các quốc gia Trung Đông; cơ hội dành cho hàng hóa Việt Nam, cùng phân tích chi tiết các nhóm mặt hàng thế mạnh; quy định pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và những lưu ý quan trọng trong quá trình giao thương; định hướng chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận và phát triển bền vững thị trường.
Hy vọng, với những nội dung trong cuốn sách này, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm một “bản đồ chỉ đường” tin cậy, một “chiếc chìa khóa” mở cánh cửa thị trường Trung Đông, qua đó không chỉ nâng cao giá trị thương hiệu hàng hóa Việt Nam, mà còn góp phần khẳng định vị thế của nền kinh tế Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tư pháp quốc tế (TPQT) là một môn học bắt buộc 3 tín chỉ trong chương trình cử nhân Luật Thương mại quốc tế của Trường Đại học Ngoại thương. Trong các chương trình cử nhân luật ở các trường Đại học của Việt Nam, đây cũng là môn học bắt buộc.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa làm cho thế giới ngày càng “phẳng” hơn, các quan hệ quốc tế ngày nay trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật cộng với nỗ lực của các quốc gia trong việc thiết lập các khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các quan hệ quốc tế đã làm cho sự dịch chuyển của thể nhân, của hàng hóa, dịch vụ và dòng vốn trở nên dễ dàng và nhanh chóng. Trong bối cảnh đó, TPQT với tư cách là một ngành luật nghiên cứu các quan hệ tư quốc tế đã có những thay đổi lớn, với một loạt các lý thuyết mới, cách tiếp cận mới về lựa chọn pháp luật áp dụng, lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp và công nhận, cho thi hành quyết định dân sự nước ngoài, không chỉ ở các nước Civil Law, đặc biệt là châu Âu vốn được biết đến là khu vực mà ở đó TPQT phát triển rất mạnh mẽ, mà cả ở các nước thuộc hệ thống Common Law. Có thể kể tới: nguyên tắc về mối quan hệ gắn bó nhất, nguyên tắc gương soi (mirror principle), forum non conveniens, forum necessitatis, forum shopping, proper law…, Điều này đòi hỏi khoa học pháp lý về TPQT Việt Nam phải bắt kịp xu thế vận động đó.
Chính sự phát triển nhanh chóng về số lượng và đa dạng về thể loại của các quan hệ tư quốc tế đã đòi hỏi TPQT, với tư cách là một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ tư quốc tế, phải có những thay đổi để bắt kịp với các xu thế vận động đó. Kể từ khi Hiến pháp mới được thông qua năm 2013, một loạt các văn bản pháp luật của Việt Nam đã được sửa đổi, đặc biệt là các văn bản luật điều chỉnh các QHDS, kinh doanh, lao động và thương mại. Nếu như hoạt động lập pháp năm 2014 được đánh dấu bằng sự ra đời của ba đạo luật quan trọng là Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Hôn nhân và Gia đình, thì năm 2015 lại là một dấu mốc đặc biệt đối với TPQT Việt Nam với việc Quốc hội đã thông qua Bộ luật hàng hải, Bộ luật dân sự (BLDS) và Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Hoạt động lập pháp liên quan đến TPQT còn được tiếp tục trong năm 2016 với việc thông qua Luật Điều ước quốc tế và tất nhiên sẽ còn được tiếp diễn với việc xây dựng mới hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật khác, cũng như ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế điều chỉnh các quan hệ tư quốc tế. Chính sự ra đời của các văn bản mới này khiến cho TPQT với tư cách là một ngành luật nghiên cứu các quan hệ tư quốc tế cần phải được cập nhật.
Thấy được sự cần thiết đó, Hội đồng Khoa học của Trường Đại học Ngoại thương đã giao nhiệm vụ cho Nhóm biên soạn Giáo trình Tư pháp quốc tế với ý nghĩa là tài liệu học tập và nghiên cứu chính thức của sinh viên Trường Đại học Ngoại thương, chuyên ngành Luật Thương mại quốc tế. Giáo trình Tư pháp quốc tế cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các chuyên ngành khác của Trường để học môn Pháp luật đại cương.
TPQT chịu nhiều ảnh hưởng của các quan điểm học thuật và nhiều giải pháp của luật mang tính trừu tượng, hàn lâm, nên việc tìm hiểu và áp dụng các quy định đôi khi rất khó khăn và khó định lượng kết quả. Để khắc phục tình trạng này, Giáo trình được thiết kế nhằm mục đích giải quyết các vấn đề cụ thể, giúp cho sinh viên chuyên ngành Luật Thương mại quốc tế của Trường Đại học Ngoại thương tích lũy được những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Tên của các chương vẫn được đặt theo cách truyền thống để đảm bảo tính hàn lâm cần thiết của một giáo trình đại học, nhưng các chủ đề lớn trong từng chương sẽ được trình bày theo hướng thực tiễn hơn. Cuối mỗi chương sẽ có một danh mục tài liệu cũng như các câu hỏi và bài tập thực hành.
Với thời lượng 3 tín chỉ, nội dung của Giáo trình được đề cập trong hai Phần. Phần thứ nhất nghiên cứu các vấn đề chung của TPQT, với 4 Chương: Khái quát chung về TPQT (Chương 1), Xung đột pháp luật (Chương 2), Xung đột thẩm quyền xét xử (Chương 3) và Công nhận và cho thi hành quyết định dân sự nước ngoài (Chương 4). Phần thứ hai đề cập đến một số quan hệ cụ thể trong TPQT, như: Hôn nhân và gia đình (Chương 5), Thừa kế (Chương 6), Tài sản (Chương 7), Hợp đồng (Chương 8), Lao động (Chương 9), Nghĩa vụ ngoài hợp đồng (Chương 10), Đầu tư (Chương 11) và Phá sản (Chương 12).
Với cách tiếp cận như vậy, nhóm tác giả hy vọng Giáo trình sẽ không chỉ có ích cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành luật, việc giảng dạy của giáo viên, mà còn có thể phục vụ cho các chuyên gia, nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu về ngành luật rất đặc biệt này.
Giáo trình Tư pháp quốc tế do tập thể các tác giả sau đây biên soạn:
- TS Ngô Quốc Chiến, chủ biên, biên soạn Chương 1, Chương 2, Chương 3, Chương 4; Chương 6, Chương 8, Chương 11;
- ThS Lý Vân Anh biên soạn Chương 7 và Chương 10;
- ThS Đỗ Viết Anh Thái biên soạn Chương 12;
- ThS Đinh Thị Tâm biên soạn Chương 5.
- ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Linh biên soạn Chương 9.
Mục tiêu của việc giảng dạy môn Kinh tế học là nhằm giúp sinh viên tư duy như một nhà kinh tế. Điều này đòi hỏi không chỉ bao gồm các kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề mà còn cả kỹ năng sáng tạo, qua đó giúp xác định cách thức đặt câu hỏi, công cụ và những nguyên lý áp dụng vào từng vấn đề cụ thể, thông tin và dữ liệu phù hợp với những vấn đề đó, cũng như cách thức hiểu hay giải thích các kết quả ngoài dự kiến.
Nhằm thực hiện đổi mới công tác giảng dạy và học tập, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội chú trọng sử dụng phương pháp giảng dạy tình huống nhằm tăng cường tính thực tiễn của các học phần trong chương trình đào tạo.
Phương pháp giảng dạy tình huống có ba thành phần: (1) Nội dung tình huống; (2) Chuẩn bị của sinh viên; và (3) Thảo luận trên lớp. Phương pháp giảng dạy tình huống là giảng theo cách thảo luận, có sự chuẩn bị của sinh viên và sự tranh luận trên lớp để tìm ra giải pháp cho vấn đề trong tình huống đặt ra. Để thực hiện được phương pháp này thì thành phần Nội dung tình huống phải được thiết kế và đây được gọi là bài tập tình huống. Việc biên soạn cuốn sách Nghiên cứu các tình huống trong Kinh tế học bao gồm các tình huống được xây dựng bài bản, có hệ thống theo nội dung kiến thức của chương trình, có mục đích rõ ràng và đặc biệt có khả năng giúp sinh viên đạt được những yêu cầu kỹ năng nhận thức là rất cần thiết và cấp thiết.
Cuốn sách này có mục tiêu cung cấp ngữ cảnh cho phương pháp giảng dạy tình huống của các học phần kinh tế học, bao gồm Kinh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô, nhằm đóng góp vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gi Hà Nội. Cuốn sách được sử dụng làm phục vụ làm tài liệu đào tạo phục vụ giảng dạy của Trường Đại học Kinh tế và các trường thành viên khác của Đại học Quốc gia Hà Nội. Sản phẩm này cũng có thể cung cấp tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên, người nghiên cứu về kinh tế học và các độc giả quan tâm.
Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bổ sung kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên. Để hiện thực hóa mục tiêu này, nền kinh tế Việt Nam cần có đột phá mạnh mẽ, đặc biệt là phấn đấu đạt tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn 2026-2030.
Về mặt lý thuyết, nền kinh tế tăng trưởng hai con số là khi GDP quốc gia tăng từ 10% trở lên trong một năm. Đây là mức tăng trưởng rất cao, thường chỉ xuất hiện ở các nền kinh tế đang phát triển nhanh hoặc trong giai đoạn bùng nổ kinh tế. Thực tiễn thế giới đã chứng kiến những kỳ tích này, ví dụ như: Trung Quốc (giai đoạn 1980 - 2010, nhiều năm đạt tăng trưởng trên 10% nhờ công nghiệp hóa, xuất khẩu mạnh và thu hút đầu tư nước ngoài); Việt Nam (giai đoạn 1990 và đầu 2000, một số năm tiệm cận hai con số nhờ đổi mới và hội nhập); hay Ấn Độ (sau năm 2000 nhờ cải cách kinh tế và bùng nổ công nghệ thông tin).
Để đạt được điều kiện tăng trưởng này, các giải pháp thường dựa trên việc đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng xuất khẩu và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, tăng trưởng hai con số cũng đi kèm những thách thức lớn như lạm phát cao, ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng thu nhập và nguy cơ bong bóng tài chính.
Trong bối cảnh đó, Hội thảo quốc tế CIBM 2025 với chủ đề "Quản trị kinh doanh với Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số bền vững của Việt Nam" mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Việc đổi mới sáng tạo trong quản trị doanh nghiệp được xem là yếu tố then chốt để tạo ra những đột phá mạnh mẽ, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Hội thảo là diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp cùng chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, tìm kiếm các giải pháp quản trị tiên tiến, góp phần vào sự phát triển bền vững và thịnh vượng của Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Ban Tổ chức đã nhận được hơn 170 công trình nghiên cứu từ các nhà khoa học trong và ngoài nước. Tất cả các công trình đều được Ban biên tập chuyên môn bình duyệt và tuyển chọn kỹ lưỡng các bài chất lượng để đăng trên Kỷ yếu Hội thảo và Tạp chí Kinh tế và Kinh doanh.
Nội dung cuốn sách đi sâu vào việc đánh giá bằng phương pháp định lượng tác động của ứng dụng công nghệ số như phần mềm, tổ chức ứng dụng công nghệ số trong doanh nghiệp, kỹ năng công nghệ số của người lao động, các công nghệ số hiện đại, bảo mật và an toàn thông tin,... đến năng suất lao động của doanh nghiệp; đồng thời đưa ra các đánh giá tác động của kinh tế số tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tại Việt Nam; từ đó đề xuất giải pháp phát triển kinh tế số trong thời gian tới cho Việt Nam.
Cụ thể cuốn sách gồm 3 phần:
Phần 1. Tác động của công nghệ số tới năng suất lao động doanh nghiệp Việt Nam
Phần 2. Tác động của kinh tế số tới dịch chuyển cơ cấu kinh tế và năng suất lao động tại Việt Nam
Phần 3. Một số đề xuất về chuyển đổi số nhằm phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới
Cuốn sách sẽ hữu ích với các doanh nghiệp đang ứng dụng công nghệ số và thực hiện chuyển đổi số quá trình kinh doanh; các nhà quản lý tại các cơ quan chính phủ, bộ, ban, ngành đang thực thi chương trình chuyển đổi số, xây dựng chính phủ số tại trung ương và địa phương; các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên và các độc giả quan tâm tới quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam.