Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030". Các mục tiêu cơ bản của Chương trình Chuyển đổi số đến năm 2030 bao gồm: phát triển Chính phủ số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động, (2) phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, và (3) phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số. Trong bối cảnh đó, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) đã thực hiện một cuốn sách chuyên khảo có tựa đề: Kinh tế Việt Nam trên con đường chuyển đổi số‖ nhằm kịp thời thể hiện trách nhiệm, vai trò tư vấn phản biện chính sách của UEH để đóng góp vào các giải pháp phát triển kinh tế số, chuyển đổi số của Việt Nam. Cuốn sách chuyên khảo Kinh tế Việt Nam trên con đường chuyển đổi số‖ bao gồm 41 bài viết từ các nhà khoa học của UEH. Các bài viết đã đánh giá thực trạng chuyển đổi số ở 03 nhóm lĩnh vực (1) Kinh tế - Quản lý nhà nước - Luật, (2) Quản trị - Kinh doanh - Thương mại - Marketing, và (3) Tài chính - Ngân hàng - Kế toán. Nội dung bao gồm phân tích đánh giá thực trạng, khả năng sử dụng nguồn lực, các ứng dụng chuyển đổi số, khoa học kỹ thuật để số hóa toàn bộ tài sản thông tin, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, sắp xếp lại các hoạt động để chuyển đổi từ môi trường hoạt động truyền thống sang môi trường số, đồng thời đưa ra những giải pháp cụ thể và khả thi để thực hiện chuyển đổi số trong các ngành kinh tế nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung. Các bài viết cũng đưa ra nhiều giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm phát triển chính phủ số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động, bao gồm các vấn đề về dịch vụ công trực tuyến, nền tảng dữ liệu cho các ngành kinh tế trọng điểm dựa trên dữ liệu của cơ quan nhà nước, hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước thông qua môi trường số, ….
Nội dung cuốn sách giới thiệu về các phương pháp quản trị trải nghiệm khách hàng hiệu quả để các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp có thể nắm bắt được những xu hướng mới nhất trong quản trị trải nghiệm khách hàng. Cuốn sách sẽ giới thiệu các chiến lược đột phá, những phương pháp thực thi hiệu quả và những câu chuyện thành công từ các doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực này.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, thương mại điện tử đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế toàn cầu. Sự xuất hiện và lan tỏa của thương mại điện tử không chỉ thay đổi cách thức kinh doanh, mà còn mở rộng khả năng tiếp cận sản phẩm và dịch vụ, giúp kết nối các thị trường và người tiêu dùng trên khắp thế giới. Thương mại điện tử mang đến cho chúng ta sự tiện lợi chưa từng có, khả năng tiếp cận thị trường không giới hạn và tạo động lực mới cho nền kinh tế. Bên cạnh những lợi ích rõ ràng, thương mại điện tử cũng đặt ra những vấn đề lớn cần được xem xét một cách nghiêm túc, đặc biệt là tác động của nó đối với môi trường tự nhiên. Tại giao điểm của tiến bộ công nghệ và nhu cầu phát triển bền vững, việc nghiên cứu và hiểu rõ tác động của thương mại điện tử đối với môi trường không chỉ mang tính cấp thiết mà còn là một yêu cầu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chính sách và phát triển chiến lược kinh doanh.
Cuốn sách chuyển thể nội dung báo cáo tổng kết năm 2025 theo hướng một ấn phẩm tổng quan, có cấu trúc logic, giúp độc giả nắm được bức tranh chung của ngành, các điểm nhấn nổi bật theo từng lĩnh vực, các thách thức cần xử lý và định hướng - nhiệm vụ trọng tâm cho năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030.
Cuốn sách cung cấp cho người đọc quá trình chuyển đổi số quốc gia, cùng những phân tích sâu sắc để đi tới đề xuất, kiến nghị về cơ chế, chính sách hợp lý và có tính khả thi cao trong một nhiều lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục đào tạo, thông tin truyền thông, kinh tế tổng hợp,…
Cuốn “Giáo trình Kế toán khách sạn và du lịch” được biên soạn nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành Quản trị khách sạn, du lịch, kế toán và quản trị kinh doanh. Giáo trình cung cấp kiến thức về nguyên tắc, chuẩn mực, quy định kế toán tài chính và kế toán quản trị áp dụng trong doanh nghiệp khách sạn – du lịch. Nội dung gồm 8 chương, trình bày từ tổng quan đến các nghiệp vụ cụ thể như kế toán tiền, hàng tồn kho, tài sản cố định, doanh thu, chi phí, lập dự toán và sử dụng thông tin kế toán để ra quyết định quản lý hiệu quả trong ngành dịch vụ này.
Giáo trình “Pháp lý đại cương” được biên soạn để phục vụ cho chương trình đào tạo đại học đang được triển khai ở Trường Đại học Ngoại thương. Đối tượng nghiên cứu của môn học “Pháp lý đại cương” là những vấn đề cơ bản nhất về Nhà nước và pháp luật; về pháp luật trong nước (pháp luật dân sự) và về pháp luật quốc tế (công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế).
Giáo trình gồm 4 chương. Nội dung các chương liên quan tới những kiến thức chung về Nhà nước và pháp luật, về bản chất và vai trò của pháp luật, về pháp luật xã hội chủ nghĩa, về pháp luật dân sự, về công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế. Giáo trình cũng đề cập tới những nguyên lý chung về ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự, về thời hiệu tố tụng, về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và áp dụng pháp luật nước ngoài trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài...
Giáo trình “Pháp lý đại cương” đề cập tới những vấn đề pháp lý chủ yếu nhất liên quan tới các môn học ở giai đoạn chuyên ngành. Những kiến thức có được từ môn học pháp lý đại cương góp phần làm phong phú thêm khối kiến thức về các môn học cơ bản, giúp cho sinh viên có hành trang cơ bản để tiến tới nghiên cứu các môn học “Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại” hoặc môn học “Pháp luật thương mại quốc tế, môn học “Pháp luật doanh nghiệp”... ở giai đoạn giáo dục chuyên ngành. Đó là những vấn đề pháp lý chủ yếu có liên quan tới các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động kinh doanh quốc tế nói riêng. Những vấn đề như vậy không thể chứa đựng hết trong khuôn khổ của một giáo trình, vì vậy giáo trình còn tồn tại những sai sót là khó tránh khỏi. Nhóm tác giả rất mong nhận được sự nhận xét, góp ý của bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Tư pháp quốc tế (TPQT) là một môn học bắt buộc 3 tín chỉ trong chương trình cử nhân Luật Thương mại quốc tế của Trường Đại học Ngoại thương. Trong các chương trình cử nhân luật ở các trường Đại học của Việt Nam, đây cũng là môn học bắt buộc.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa làm cho thế giới ngày càng “phẳng” hơn, các quan hệ quốc tế ngày nay trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật cộng với nỗ lực của các quốc gia trong việc thiết lập các khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các quan hệ quốc tế đã làm cho sự dịch chuyển của thể nhân, của hàng hóa, dịch vụ và dòng vốn trở nên dễ dàng và nhanh chóng. Trong bối cảnh đó, TPQT với tư cách là một ngành luật nghiên cứu các quan hệ tư quốc tế đã có những thay đổi lớn, với một loạt các lý thuyết mới, cách tiếp cận mới về lựa chọn pháp luật áp dụng, lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp và công nhận, cho thi hành quyết định dân sự nước ngoài, không chỉ ở các nước Civil Law, đặc biệt là châu Âu vốn được biết đến là khu vực mà ở đó TPQT phát triển rất mạnh mẽ, mà cả ở các nước thuộc hệ thống Common Law. Có thể kể tới: nguyên tắc về mối quan hệ gắn bó nhất, nguyên tắc gương soi (mirror principle), forum non conveniens, forum necessitatis, forum shopping, proper law…, Điều này đòi hỏi khoa học pháp lý về TPQT Việt Nam phải bắt kịp xu thế vận động đó.
Chính sự phát triển nhanh chóng về số lượng và đa dạng về thể loại của các quan hệ tư quốc tế đã đòi hỏi TPQT, với tư cách là một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ tư quốc tế, phải có những thay đổi để bắt kịp với các xu thế vận động đó. Kể từ khi Hiến pháp mới được thông qua năm 2013, một loạt các văn bản pháp luật của Việt Nam đã được sửa đổi, đặc biệt là các văn bản luật điều chỉnh các QHDS, kinh doanh, lao động và thương mại. Nếu như hoạt động lập pháp năm 2014 được đánh dấu bằng sự ra đời của ba đạo luật quan trọng là Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Hôn nhân và Gia đình, thì năm 2015 lại là một dấu mốc đặc biệt đối với TPQT Việt Nam với việc Quốc hội đã thông qua Bộ luật hàng hải, Bộ luật dân sự (BLDS) và Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Hoạt động lập pháp liên quan đến TPQT còn được tiếp tục trong năm 2016 với việc thông qua Luật Điều ước quốc tế và tất nhiên sẽ còn được tiếp diễn với việc xây dựng mới hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật khác, cũng như ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế điều chỉnh các quan hệ tư quốc tế. Chính sự ra đời của các văn bản mới này khiến cho TPQT với tư cách là một ngành luật nghiên cứu các quan hệ tư quốc tế cần phải được cập nhật.
Thấy được sự cần thiết đó, Hội đồng Khoa học của Trường Đại học Ngoại thương đã giao nhiệm vụ cho Nhóm biên soạn Giáo trình Tư pháp quốc tế với ý nghĩa là tài liệu học tập và nghiên cứu chính thức của sinh viên Trường Đại học Ngoại thương, chuyên ngành Luật Thương mại quốc tế. Giáo trình Tư pháp quốc tế cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các chuyên ngành khác của Trường để học môn Pháp luật đại cương.
TPQT chịu nhiều ảnh hưởng của các quan điểm học thuật và nhiều giải pháp của luật mang tính trừu tượng, hàn lâm, nên việc tìm hiểu và áp dụng các quy định đôi khi rất khó khăn và khó định lượng kết quả. Để khắc phục tình trạng này, Giáo trình được thiết kế nhằm mục đích giải quyết các vấn đề cụ thể, giúp cho sinh viên chuyên ngành Luật Thương mại quốc tế của Trường Đại học Ngoại thương tích lũy được những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Tên của các chương vẫn được đặt theo cách truyền thống để đảm bảo tính hàn lâm cần thiết của một giáo trình đại học, nhưng các chủ đề lớn trong từng chương sẽ được trình bày theo hướng thực tiễn hơn. Cuối mỗi chương sẽ có một danh mục tài liệu cũng như các câu hỏi và bài tập thực hành.
Với thời lượng 3 tín chỉ, nội dung của Giáo trình được đề cập trong hai Phần. Phần thứ nhất nghiên cứu các vấn đề chung của TPQT, với 4 Chương: Khái quát chung về TPQT (Chương 1), Xung đột pháp luật (Chương 2), Xung đột thẩm quyền xét xử (Chương 3) và Công nhận và cho thi hành quyết định dân sự nước ngoài (Chương 4). Phần thứ hai đề cập đến một số quan hệ cụ thể trong TPQT, như: Hôn nhân và gia đình (Chương 5), Thừa kế (Chương 6), Tài sản (Chương 7), Hợp đồng (Chương 8), Lao động (Chương 9), Nghĩa vụ ngoài hợp đồng (Chương 10), Đầu tư (Chương 11) và Phá sản (Chương 12).
Với cách tiếp cận như vậy, nhóm tác giả hy vọng Giáo trình sẽ không chỉ có ích cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành luật, việc giảng dạy của giáo viên, mà còn có thể phục vụ cho các chuyên gia, nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu về ngành luật rất đặc biệt này.
Giáo trình Tư pháp quốc tế do tập thể các tác giả sau đây biên soạn:
- TS Ngô Quốc Chiến, chủ biên, biên soạn Chương 1, Chương 2, Chương 3, Chương 4; Chương 6, Chương 8, Chương 11;
- ThS Lý Vân Anh biên soạn Chương 7 và Chương 10;
- ThS Đỗ Viết Anh Thái biên soạn Chương 12;
- ThS Đinh Thị Tâm biên soạn Chương 5.
- ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Linh biên soạn Chương 9.
Biển và đại dương có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển, sự tồn tại của nhân loại, của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Trong thế kỷ XXI - Thế kỷ biển và đại dương, các nước trên thế giới đã có những chiến lược phát triển biển mới, tạo thế mạnh trong cạnh tranh. Nhiều quốc gia đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực khai thác sử dụng tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia ven biển đã trở thành những quốc gia giàu có nhờ khai thác tiềm năng, thế mạnh từ biển. Nhiều quốc gia có biển đã ưu tiên thúc đẩy một số ngành nghề, sản phẩm chủ lực của biển. Việt Nam, với vị thế đặc thù, là “ban công” hướng ra biển Thái Bình Dương, có nhiều thuận lợi cho hoạt động giao thương và hội nhập kinh tế quốc tế. Từ thế đứng tự nhiên - lịch sử, cùng với vị thế của đất nước trên thế giới, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế trên biển, vùng ven biển và hải đảo, đưa nước ta trở thành “quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn”. Việt Nam đã có nhiều bước đi quan trọng cho phát triển kinh tế biển bao gồm xác định xây dựng
mô hình phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ quan trọng, là cơ sở khoa học để xây dựng các định hướng, chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế biển hướng tới phát triển bền vững với cốt lõi là tăng trưởng xanh.
Khu vực ven bờ tỉnh Quảng Ninh và các vùng phụ cận là khu vực cửa ngõ quan trọng nhất ở phía Đông Bắc của Việt Nam. Đây là khu vực có vùng bờ biển rộng, có hệ thống biển - hải đảo lớn ở phía Đông, có vị trí tiền đồn biên giới cả trên đất liền và trên biển phía Bắc vịnh Bắc Bộ tạo nên vị thế trọng yếu trong phát triển kinh tế, bảo vệ tài nguyên - môi trường biển gắn với đảm bảo an ninh,
chủ quyền quốc gia, nhất là không gian biển - đảo từ vùng ven bờ đến đường phân định ranh giới trên vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc. Bên cạnh đó, khu vực này còn có tiềm năng về tự nhiên, tài nguyên to lớn và mang tính đặc thù đối với phát triển kinh tế biển.
Trong quá trình phát triển kinh tế, sự phát triển nhanh, mạnh của kinh tế du lịch, nuôi trồng thủy hải sản, công nghiệp ven biển cũng gây nên những tổn thất về mặt tự nhiên như thu hẹp diện tích cư trú của sinh vật, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh. Sự phát triển của hệ thống cảng biển tạo ra những vấn đề nhạy cảm đối với môi trường. Sự hoạt động quá tải của hệ thống nhiều khu công nghiệp, khu đô thị lớn dọc theo dải ven biển đã tạo ra một khối lượng lớn nước thải công nghiệp mà hầu hết chưa qua xử lý được đổ thải vào sông đưa ra biển. Hiện tượng mực nước biển dâng cao gây mất đất, gia tăng
ngập lụt, xói lở dọc bờ biển, các khu vực cửa sông và trên các đảo, gây mặn hóa và gia tăng xâm nhập mặn, làm đảo lộn cân bằng tự nhiên, sinh thái ven bờ.
Khu vực ven bờ tỉnh Quảng Ninh và phụ cận được xác định là các huyện ven biển của tỉnh Quảng Ninh (gồm: thành phố Móng Cái, các huyện Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, huyện đảo Vân Đồn, thành phố Cẩm Phả, thành phố Hạ Long, thị xã Quảng Yên và huyện đảo Cô Tô) và các huyện ven biển của thành phố Hải Phòng có địa giới hành chính giáp với tỉnh Quảng Ninh (đảo Cát Hải,…).
Giày dép là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân 6,4%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020.
Theo số liệu của World Footwear Yearbook, năm 2020, Việt Nam xếp thứ hai thế giới về xuất khẩu giày dép với 12,1 tỷ đôi, chiếm 10,2% tổng số lượng giày dép xuất khẩu của thế giới, tăng 4,4 lần so với năm 2011. Trong đó, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu giày vải lớn nhất xét về giá trị. Về thị trường, mặt hàng giày dép của Việt Nam đã được xuất khẩu tới hơn 150 thị trường trên thế giới, trong đó, tập trung ở những thị trường chính như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Nhật Bản, Anh…
Với việc nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết và đi vào thực thi, cơ hội xuất khẩu giày dép sang các thị trường truyền thống và thị trường mới sẽ được mở rộng hơn nữa. Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) cũng nằm trong số đó. Chính thức thực thi từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 trong bối cảnh đặc biệt khi thế giới đang chống chọi với đại dịch COVID-19, với lộ trình cam kết cắt giảm và xóa bỏ thuế quan khá nhanh và sâu trong tối đa là 7 năm, EVFTA được kỳ vọng là đòn bẩy vững chắc giúp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng da giày của Việt Nam sang thị trường EU - một thị trường lớn với nhu cầu đa dạng và yêu cầu cao về chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa.