Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Warmly welcome to the 2025 International Conference on Digital Economy and Fintech Innovation (DEFI 2025)!
It is our great pleasure to present the program and proceedings of the 2025 Conference on Digital Economy and Fintech Innovation, held on December 20, in Danang, Vietnam. The conference is co-organized by Vietnam-Korea University of Information and Communication Technology (Vietnam) and Kyung Hee University with technical support from IEEE Circuits and Systems (CAS) Vietnam Chapter. The conference also is supported and accompanied by the research and training institutions belonging to the ASEAN Consortium for Innovation and Research (ACIR).
The DEFI conference was established as an international scientific conference with a prestigious brand in the scientific community not only in Vietnam but also around the world in the field of digital economy and fintech innovation. DEFI provides an international forum for researchers, engineers, and practitioners to exchange ideas, discuss research results, and present the latest innovations to drive advanced digital economy and fintech innovation, etc... The conference brings together a diverse community of scholars and professionals from academia and industry to explore emerging challenges and opportunities in integrating artificial intelligence and information technology to digital economy and fintech innovation.
All papers submitted to DEFI 2025 are reviewed closely and thoroughly by 02-05 reviewers with appropriate expertise, with professional advice from reputable scientists in the fields of digital economy and fintech innovation. The DEFI 2025 conference received 86 submissions, and 30 papers have been selected for this volume to present in poster at an acceptance rate of 35%. In addition, the conference has two keynotes from the leading researchers in the field such as Prof. Dr.-Ing. habil. Dr. h.c. Herwig Unger: University in Hagen, Germany; Dr. Sangwon Ko – Senior Research Fellow at the Korea Information Society Development Institute (KISDI). We believe the papers presented in this volume reflect the depth, diversity, and innovation of ongoing research in these areas and will inspire future collaboration and advancement.
We would like to express our gratitude to the Program Chairs, Organizing Chairs, Publicity Chairs for their work towards the conference. We sincerely thank all the members of the Program Committee for their valuable efforts in the review process, which helped us to guarantee the highest quality of the selected papers for the conference. We cordially thank all the authors, for their valuable contributions, and the other participants of the conference. Thanks also due to the numerous experts who contributed to making the event a success. In addition, we sincerely appreciate the financial sponsor Korea International Cooperation Agency (KOICA). The conference would not have been possible without their support.
We hope that you will find your participation rewarding and your stay in Danang enjoyable.
Tư pháp quốc tế (TPQT) là một môn học bắt buộc 3 tín chỉ trong chương trình cử nhân Luật Thương mại quốc tế của Trường Đại học Ngoại thương. Trong các chương trình cử nhân luật ở các trường Đại học của Việt Nam, đây cũng là môn học bắt buộc.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa làm cho thế giới ngày càng “phẳng” hơn, các quan hệ quốc tế ngày nay trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật cộng với nỗ lực của các quốc gia trong việc thiết lập các khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các quan hệ quốc tế đã làm cho sự dịch chuyển của thể nhân, của hàng hóa, dịch vụ và dòng vốn trở nên dễ dàng và nhanh chóng. Trong bối cảnh đó, TPQT với tư cách là một ngành luật nghiên cứu các quan hệ tư quốc tế đã có những thay đổi lớn, với một loạt các lý thuyết mới, cách tiếp cận mới về lựa chọn pháp luật áp dụng, lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp và công nhận, cho thi hành quyết định dân sự nước ngoài, không chỉ ở các nước Civil Law, đặc biệt là châu Âu vốn được biết đến là khu vực mà ở đó TPQT phát triển rất mạnh mẽ, mà cả ở các nước thuộc hệ thống Common Law. Có thể kể tới: nguyên tắc về mối quan hệ gắn bó nhất, nguyên tắc gương soi (mirror principle), forum non conveniens, forum necessitatis, forum shopping, proper law…, Điều này đòi hỏi khoa học pháp lý về TPQT Việt Nam phải bắt kịp xu thế vận động đó.
Chính sự phát triển nhanh chóng về số lượng và đa dạng về thể loại của các quan hệ tư quốc tế đã đòi hỏi TPQT, với tư cách là một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ tư quốc tế, phải có những thay đổi để bắt kịp với các xu thế vận động đó. Kể từ khi Hiến pháp mới được thông qua năm 2013, một loạt các văn bản pháp luật của Việt Nam đã được sửa đổi, đặc biệt là các văn bản luật điều chỉnh các QHDS, kinh doanh, lao động và thương mại. Nếu như hoạt động lập pháp năm 2014 được đánh dấu bằng sự ra đời của ba đạo luật quan trọng là Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Hôn nhân và Gia đình, thì năm 2015 lại là một dấu mốc đặc biệt đối với TPQT Việt Nam với việc Quốc hội đã thông qua Bộ luật hàng hải, Bộ luật dân sự (BLDS) và Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Hoạt động lập pháp liên quan đến TPQT còn được tiếp tục trong năm 2016 với việc thông qua Luật Điều ước quốc tế và tất nhiên sẽ còn được tiếp diễn với việc xây dựng mới hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật khác, cũng như ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế điều chỉnh các quan hệ tư quốc tế. Chính sự ra đời của các văn bản mới này khiến cho TPQT với tư cách là một ngành luật nghiên cứu các quan hệ tư quốc tế cần phải được cập nhật.
Thấy được sự cần thiết đó, Hội đồng Khoa học của Trường Đại học Ngoại thương đã giao nhiệm vụ cho Nhóm biên soạn Giáo trình Tư pháp quốc tế với ý nghĩa là tài liệu học tập và nghiên cứu chính thức của sinh viên Trường Đại học Ngoại thương, chuyên ngành Luật Thương mại quốc tế. Giáo trình Tư pháp quốc tế cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các chuyên ngành khác của Trường để học môn Pháp luật đại cương.
TPQT chịu nhiều ảnh hưởng của các quan điểm học thuật và nhiều giải pháp của luật mang tính trừu tượng, hàn lâm, nên việc tìm hiểu và áp dụng các quy định đôi khi rất khó khăn và khó định lượng kết quả. Để khắc phục tình trạng này, Giáo trình được thiết kế nhằm mục đích giải quyết các vấn đề cụ thể, giúp cho sinh viên chuyên ngành Luật Thương mại quốc tế của Trường Đại học Ngoại thương tích lũy được những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Tên của các chương vẫn được đặt theo cách truyền thống để đảm bảo tính hàn lâm cần thiết của một giáo trình đại học, nhưng các chủ đề lớn trong từng chương sẽ được trình bày theo hướng thực tiễn hơn. Cuối mỗi chương sẽ có một danh mục tài liệu cũng như các câu hỏi và bài tập thực hành.
Với thời lượng 3 tín chỉ, nội dung của Giáo trình được đề cập trong hai Phần. Phần thứ nhất nghiên cứu các vấn đề chung của TPQT, với 4 Chương: Khái quát chung về TPQT (Chương 1), Xung đột pháp luật (Chương 2), Xung đột thẩm quyền xét xử (Chương 3) và Công nhận và cho thi hành quyết định dân sự nước ngoài (Chương 4). Phần thứ hai đề cập đến một số quan hệ cụ thể trong TPQT, như: Hôn nhân và gia đình (Chương 5), Thừa kế (Chương 6), Tài sản (Chương 7), Hợp đồng (Chương 8), Lao động (Chương 9), Nghĩa vụ ngoài hợp đồng (Chương 10), Đầu tư (Chương 11) và Phá sản (Chương 12).
Với cách tiếp cận như vậy, nhóm tác giả hy vọng Giáo trình sẽ không chỉ có ích cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành luật, việc giảng dạy của giáo viên, mà còn có thể phục vụ cho các chuyên gia, nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu về ngành luật rất đặc biệt này.
Giáo trình Tư pháp quốc tế do tập thể các tác giả sau đây biên soạn:
- TS Ngô Quốc Chiến, chủ biên, biên soạn Chương 1, Chương 2, Chương 3, Chương 4; Chương 6, Chương 8, Chương 11;
- ThS Lý Vân Anh biên soạn Chương 7 và Chương 10;
- ThS Đỗ Viết Anh Thái biên soạn Chương 12;
- ThS Đinh Thị Tâm biên soạn Chương 5.
- ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Linh biên soạn Chương 9.
Nội dung cuốn sách này nhằm mục tiêu cung cấp những bằng chứng khoa học và thực tiễn về các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của DNNVV do phụ nữ làm chủ nói chung và trong một số ngành xuất khẩu tiềm năng nói riêng, phát hiện ra các rào cản và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV do phụ nữ làm chủ. Qua đó, tác phẩm này cũng góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của phụ nữ, tăng cường trao quyền kinh tế cho phụ nữ và đưa vấn đề bình đẳng giới vào chương trình quốc gia của Việt Nam theo các nội dung hoạt động của UN Women.
Cuốn sách "Nguyên lý Kiểm toán" được biên soạn nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy trong bối cảnh hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam ngày càng hoàn thiện, hội nhập quốc tế. Giáo trình cung cấp những kiến thức nền tảng về kiểm toán, bao gồm lý luận cơ bản, phương pháp và thủ tục kiểm toán, là môn học bắt buộc với sinh viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán và tự chọn với các chuyên ngành khác. Sách được biên soạn công phu bởi các giảng viên Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Ngoại thương, là tài liệu học tập và tham khảo hữu ích cho sinh viên và các nhà quản lý.
Cẩm nang xuất khẩu sang thị trường Trung Đông được biên soạn nhằm mang đến cho độc giả cái nhìn toàn diện và hệ thống về: đặc điểm kinh tế, thương mại và nhu cầu nhập khẩu của các quốc gia Trung Đông; cơ hội dành cho hàng hóa Việt Nam, cùng phân tích chi tiết các nhóm mặt hàng thế mạnh; quy định pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và những lưu ý quan trọng trong quá trình giao thương; định hướng chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận và phát triển bền vững thị trường.
Hy vọng, với những nội dung trong cuốn sách này, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm một “bản đồ chỉ đường” tin cậy, một “chiếc chìa khóa” mở cánh cửa thị trường Trung Đông, qua đó không chỉ nâng cao giá trị thương hiệu hàng hóa Việt Nam, mà còn góp phần khẳng định vị thế của nền kinh tế Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Biển và đại dương có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển, sự tồn tại của nhân loại, của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Trong thế kỷ XXI - Thế kỷ biển và đại dương, các nước trên thế giới đã có những chiến lược phát triển biển mới, tạo thế mạnh trong cạnh tranh. Nhiều quốc gia đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực khai thác sử dụng tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia ven biển đã trở thành những quốc gia giàu có nhờ khai thác tiềm năng, thế mạnh từ biển. Nhiều quốc gia có biển đã ưu tiên thúc đẩy một số ngành nghề, sản phẩm chủ lực của biển. Việt Nam, với vị thế đặc thù, là “ban công” hướng ra biển Thái Bình Dương, có nhiều thuận lợi cho hoạt động giao thương và hội nhập kinh tế quốc tế. Từ thế đứng tự nhiên - lịch sử, cùng với vị thế của đất nước trên thế giới, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế trên biển, vùng ven biển và hải đảo, đưa nước ta trở thành “quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn”. Việt Nam đã có nhiều bước đi quan trọng cho phát triển kinh tế biển bao gồm xác định xây dựng
mô hình phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ quan trọng, là cơ sở khoa học để xây dựng các định hướng, chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế biển hướng tới phát triển bền vững với cốt lõi là tăng trưởng xanh.
Khu vực ven bờ tỉnh Quảng Ninh và các vùng phụ cận là khu vực cửa ngõ quan trọng nhất ở phía Đông Bắc của Việt Nam. Đây là khu vực có vùng bờ biển rộng, có hệ thống biển - hải đảo lớn ở phía Đông, có vị trí tiền đồn biên giới cả trên đất liền và trên biển phía Bắc vịnh Bắc Bộ tạo nên vị thế trọng yếu trong phát triển kinh tế, bảo vệ tài nguyên - môi trường biển gắn với đảm bảo an ninh,
chủ quyền quốc gia, nhất là không gian biển - đảo từ vùng ven bờ đến đường phân định ranh giới trên vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc. Bên cạnh đó, khu vực này còn có tiềm năng về tự nhiên, tài nguyên to lớn và mang tính đặc thù đối với phát triển kinh tế biển.
Trong quá trình phát triển kinh tế, sự phát triển nhanh, mạnh của kinh tế du lịch, nuôi trồng thủy hải sản, công nghiệp ven biển cũng gây nên những tổn thất về mặt tự nhiên như thu hẹp diện tích cư trú của sinh vật, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh. Sự phát triển của hệ thống cảng biển tạo ra những vấn đề nhạy cảm đối với môi trường. Sự hoạt động quá tải của hệ thống nhiều khu công nghiệp, khu đô thị lớn dọc theo dải ven biển đã tạo ra một khối lượng lớn nước thải công nghiệp mà hầu hết chưa qua xử lý được đổ thải vào sông đưa ra biển. Hiện tượng mực nước biển dâng cao gây mất đất, gia tăng
ngập lụt, xói lở dọc bờ biển, các khu vực cửa sông và trên các đảo, gây mặn hóa và gia tăng xâm nhập mặn, làm đảo lộn cân bằng tự nhiên, sinh thái ven bờ.
Khu vực ven bờ tỉnh Quảng Ninh và phụ cận được xác định là các huyện ven biển của tỉnh Quảng Ninh (gồm: thành phố Móng Cái, các huyện Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, huyện đảo Vân Đồn, thành phố Cẩm Phả, thành phố Hạ Long, thị xã Quảng Yên và huyện đảo Cô Tô) và các huyện ven biển của thành phố Hải Phòng có địa giới hành chính giáp với tỉnh Quảng Ninh (đảo Cát Hải,…).
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, thương mại điện tử đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế toàn cầu. Sự xuất hiện và lan tỏa của thương mại điện tử không chỉ thay đổi cách thức kinh doanh, mà còn mở rộng khả năng tiếp cận sản phẩm và dịch vụ, giúp kết nối các thị trường và người tiêu dùng trên khắp thế giới. Thương mại điện tử mang đến cho chúng ta sự tiện lợi chưa từng có, khả năng tiếp cận thị trường không giới hạn và tạo động lực mới cho nền kinh tế. Bên cạnh những lợi ích rõ ràng, thương mại điện tử cũng đặt ra những vấn đề lớn cần được xem xét một cách nghiêm túc, đặc biệt là tác động của nó đối với môi trường tự nhiên. Tại giao điểm của tiến bộ công nghệ và nhu cầu phát triển bền vững, việc nghiên cứu và hiểu rõ tác động của thương mại điện tử đối với môi trường không chỉ mang tính cấp thiết mà còn là một yêu cầu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chính sách và phát triển chiến lược kinh doanh.
Sau gần bốn thập kỷ thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, trong đó thương mại quốc tế trở thành một trong những động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế. Tuy nhiên, bối cảnh thương mại toàn cầu hiện nay đang thay đổi sâu sắc dưới tác động của bốn xu hướng lớn: gia tăng phân mảnh địa – chính trị và cạnh tranh giữa các cường quốc; sự phát triển mạnh mẽ của thương mại số trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về phát triển bền vững; và quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu theo hướng ưu tiên an ninh, khả năng chống chịu và minh bạch.
Những biến động này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam phải tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới cho thương mại quốc tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào chi phí sang dựa vào năng suất, đổi mới sáng tạo và nâng cao giá trị gia tăng. Đây cũng là sự cụ thể hóa các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
Báo cáo Thương mại Quốc tế Việt Nam 2025 tập trung phân tích bốn động lực tăng trưởng mới gồm: (i) các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới; (ii) thương mại số và chuyển đổi số; (iii) thương mại bền vững gắn với chuyển đổi xanh; và (iv) sự tái cấu trúc của chuỗi giá trị toàn cầu. Báo cáo tiếp cận thương mại quốc tế theo hướng đa chiều, coi đây là quá trình tương tác giữa thể chế, công nghệ, năng lực doanh nghiệp và bối cảnh toàn cầu.
Báo cáo được cấu trúc thành 5 chương, từ phân tích bối cảnh và các động lực tăng trưởng mới, đến đánh giá vai trò của FTA, công nghệ số và thương mại bền vững, qua đó đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trọng tâm của báo cáo là nhấn mạnh sự phối hợp giữa Nhà nước kiến tạo – doanh nghiệp trung tâm – trường đại học kết nối nhằm chuyển hóa các cơ hội hội nhập thành lợi thế phát triển nội sinh.
Với cách tiếp cận đó, Báo cáo hướng tới cung cấp cơ sở phân tích cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và giới nghiên cứu, đồng thời góp phần định hình tầm nhìn trung và dài hạn về thương mại quốc tế như một trụ cột quan trọng của phát triển bền vững và hội nhập chủ động của Việt Nam.