Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca là những "viên ngọc quý", giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tiếng nói của dân tộc, phản ánh sinh hoạt của nhân dân, biểu hiện những tâm tư, tình cảm, ý nghĩ, kinh nghiệm của nhân dân trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, đấu tranh xã hội, xây dựng đất nước… Cuốn sách tập hợp những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao về chủ đề thiên nhiên, đất nước, con người, ở đó chúng ta thấy được vẻ đẹp, tình yêu quê hương đất nước, mối quan hệ giữa con người với con người, với xã hội, những kinh nghiệm sống phong phú và tính cách con người Việt Nam...
Bộ sách tô màu “HỌA TIẾT TRÊN CỬU ĐỈNH – Tập 2: NHÂN ĐỈNH” được biên soạn với mong muốn góp phần đưa di sản đến gần hơn với các bạn học sinh, sinh viên, các nhà thiết kế và công chúng thông qua một hình thức tiếp cận trực quan, sinh động và giàu tính tương tác.
Ở tập 2, cuốn sách giới thiệu về tranh nét từ các họa tiết đúc nổi bằng đồng trên Cao Đỉnh, chuyển hóa những giá trị tạo hình của di sản thành không gian sáng tạo mở dành cho mọi lứa tuổi. Khác với việc thưởng thức di sản bằng quan sát đơn thuần, hoạt động tô màu cho phép người tham gia trực tiếp tương tác với hình tượng nghệ thuật, từ đó cảm nhận sâu hơn về đường nét, bố cục và ngôn ngữ tạo hình của các họa tiết mà người xưa đã để lại
trên Bảo vật quốc gia Cửu Đỉnh (2012) trong Hoàng thành Huế. Mỗi lựa chọn màu sắc là một cách thể hiện, diễn giải, cảm nhận riêng; mỗi bức tranh hoàn thiện từ việc tô màu hay sáng tạo nghệ thuật là sự gặp gỡ giữa giá trị truyền thống và cảm nhận thẩm mỹ đương đại của người thực hiện.
Bộ sách tô màu “HỌA TIẾT TRÊN CỬU ĐỈNH – Tập 1: CAO ĐỈNH” được biên soạn với mong muốn góp phần đưa di sản đến gần hơn với các bạn học sinh, sinh viên, các nhà thiết kế và công chúng thông qua một hình thức tiếp cận trực quan, sinh động và giàu tính tương tác.
Ở tập 1, cuốn sách giới thiệu về tranh nét từ các họa tiết đúc nổi bằng đồng trên Cao Đỉnh, chuyển hóa những giá trị tạo hình của di sản thành không gian sáng tạo mở dành cho mọi lứa tuổi. Khác với việc thưởng thức di sản bằng quan sát đơn thuần, hoạt động tô màu cho phép người tham gia trực tiếp tương tác với hình tượng nghệ thuật, từ đó cảm nhận sâu hơn về đường nét, bố cục và ngôn ngữ tạo hình của các họa tiết mà người xưa đã để lại trên Bảo vật quốc gia Cửu Đỉnh (2012) trong Hoàng thành Huế. Mỗi lựa chọn màu sắc là một cách thể hiện, diễn giải, cảm nhận riêng; mỗi bức tranh hoàn thiện từ việc tô màu hay sáng tạo nghệ thuật là sự gặp gỡ giữa giá trị truyền thống và cảm nhận thẩm mỹ đương đại của người thực hiện.
Cuốn sách "Văn học, Nghệ thuật Nghệ An (1975-2025): Thành tựu và những vấn đề đặt ra" là một công trình nghiên cứu quy mô, phác họa trọn vẹn bức tranh 50 năm vận động và phát triển của văn nghệ xứ Nghệ kể từ mốc son thống nhất đất nước. Qua hệ thống các bài viết chuyên sâu về văn học, âm nhạc, mỹ thuật và di sản dân ca ví, giặm, tác phẩm không chỉ tôn vinh những thành tựu rực rỡ cùng tầm vóc của các thế hệ văn nghệ sĩ mà còn thẳng thắn nhìn nhận những thách thức, định hướng trong thời kỳ hội nhập. Đây là nguồn tư liệu quý giá, giúp độc giả thấu cảm sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa độc đáo và sức sáng tạo bền bỉ của con người mảnh đất "địa linh nhân kiệt" trên hành trình kết nối truyền thống với hơi thở đương đại.
Cuốn sách “Không gian văn hóa Việt Nam: Tiểu vùng văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long” giúp người đọc khám phá những nét đặc sắc của vùng đất cực Nam Tổ quốc. Tác phẩm giới thiệu đời sống văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng của cư dân nơi đây. Qua đó, người đọc hiểu rõ hơn sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và Chăm trong vùng. Với nội dung phong phú và cách trình bày dễ hiểu, cuốn sách góp phần làm nổi bật bản sắc văn hóa độc đáo của Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai yêu thích và muốn tìm hiểu về văn hóa Việt Nam.
Từ đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam bước vào thời kỳ hiện đại. Quá trình hiện đại hóa diễn ra với nhiều cấp độ và
qua nhiều giai đoạn khác nhau. Nếu đứng về góc độ phân kỳ văn học mà xét thì mốc lớn 1945 chấm dứt gần một trăm năm nô lệ dưới chế độ thực dân Pháp, khai sinh ra nhà nước dân chủ cộng hòa do nhân dân làm chủ được xem là chuyển động lịch sử lớn nhất của thế kỷ và cũng là của mọi hoạt động sáng tạo tinh thần trong đó có văn học. Từ 1945 cho đến hết thế kỷ XX, hơn nửa thế kỷ có hai giai đoạn lớn: thời kỳ 1945-1975 diễn ra hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống thực dân Pháp và chống Mỹ xâm lược. Từ 1975 cho đến năm 2000 là thời kỳ đổi mới của đất nước và cũng là của văn chương bao gồm hai giai đoạn nhỏ: tiền đổi mới 1975-1986 và đổi mới toàn diện 1986-2000. Trở lại với gần nửa thế kỷ đầu của văn học cũng có thể chia thành hai giai đoạn 1900-1930 và 1930-1945. Ba mươi năm đầu thế kỷ là thời kỳ hệ tư tưởng phong kiến suy thoái và được thay thế bằng những tư tưởng dân chủ tiến bộ. Ảnh hưởng của phương Tây, nhất là những tư tưởng của cách mạng tư sản Pháp về bình đẳng, bác ái, tự do đã tác động đến tầng lớp tri thức và văn nghệ sĩ. Văn học Pháp ảnh hưởng trực tiếp đến văn học Việt Nam và góp phần hình thành nhiều thể loại và tạo thêm nhiều cái mới cho văn học.
"Trung Học Phổ Thông Cẩm Bình - Năm Mươi Lăm Năm Ấy..." là một ấn phẩm đặc biệt và giàu tính nhân văn, được biên soạn nhân dịp kỷ niệm 55 năm ngày thành lập trường (1971 - 2026).
Hơn cả một cuốn kỷ yếu, đây là một công trình tư liệu lịch sử quý giá, một bài học giáo dục sâu sắc về đạo lý "Uống nước nhớ nguồn". Cuốn sách là món quà tinh thần vô giá dành cho các thế hệ giáo viên, học sinh Trường THPT Cẩm Bình, cũng như những độc giả yêu thích tìm hiểu về lịch sử, truyền thống cách mạng và giáo dục của quê hương Hà Tĩnh.
TRĂNG MUỘN là tập thơ ghi dấu hành trình sáng tác của tác giả Phạm Ngọc Điền. Trải qua những năm tháng chiến tranh, cuộc sống mưu sinh và sự gắn bó với quê hương, tác giả đã gửi vào từng trang thơ những cảm xúc suy tư được chắt lọc từ chính những trải nghiệm âm thầm mà sâu sắc của một tâm hồn yêu thơ... Qua những vần thơ giản dị, tác giả gửi gắm nhiều cung bậc cảm xúc về tình yêu quê hương, gia đình, bè bạn; ký ức về một thời đã qua; đến những trăn trở, suy ngẫm về nhân tình thế thái, về kiếp nhân sinh và niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của cuộc sống...
Bộ Lịch sử văn học Việt Nam được biên soạn nhằm đáp ứng yêu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về văn học Việt Nam của đông đảo bạn đọc và các nhà chuyên môn. Tổng Chủ biên là Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Hà Minh Đức, cùng với sự tham gia cộng tác của rất nhiều nhà khoa học trong giới văn học ở các viện nghiên cứu chuyên ngành và các trường Đại học trong cả nước.
Dựa trên kết quả phân kỳ lịch sử văn học, bộ Lịch sử văn học Việt Nam dự kiến gồm 10 tập. Tùy dung lượng, có tập sẽ chia thành nhiều quyển. Với mục tiêu tổng kết thực tiễn lịch sử văn học Việt Nam, bộ sách là công trình khoa học có chất lượng, có tính hệ thống và quan điểm khoa học hiện đại, góp phần khẳng định vị thế, vai trò của văn học Việt Nam với tư cách một lĩnh vực khoa học chuyên ngành và trong tương quan liên ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung.
Trong đó tập trung nhận thức, đánh giá và định giá các hiện tượng văn học, các giai đoạn văn học một cách khách quan, thỏa đáng đặt trong bối cảnh dân tộc, khu vực và quốc tế. Công trình là bức tranh đa dạng và phong phú với những đường nét riêng chung, mang tính tổng kết mười thế kỷ văn học với giá trị khoa học và thực tiễn lớn, hỗ trợ cho việc nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc ở các viện nghiên cứu và cho việc giảng dạy văn học sử Việt Nam ở các trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, các trường đại học sư phạm và trung học, đồng thời đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của đông đảo bạn đọc.
Bộ Lịch sử văn học Việt Nam lần này được sắp xếp theo các thời kỳ lịch sử của văn học, từ văn học dân gian đến văn học thành văn ở các giai đoạn thuộc thời kỳ trung đại, cận đại, hiện đại với những đỉnh cao của các phong cách sáng tạo. Sách có cấu trúc như sau:
Tập I: Lịch sử văn học Việt Nam: Văn học dân gian
Tập II: Lịch sử văn học Việt Nam (từ thế kỷ X - hết thế kỷ XIV)
Tập III: Lịch sử văn học Việt Nam (thế kỷ XV)
Tập IV: Lịch sử văn học Việt Nam (từ thế kỷ XVI - thế kỷ XVII)
Tập V: Lịch sử văn học Việt Nam (từ thế kỷ XVIII - nửa đầu thế
kỷ XIX)
Tập VI: Lịch sử văn học Việt Nam (nửa sau thế kỷ XIX)
Tập VII: Lịch sử văn học Việt Nam (1900-1930)
Tập VIII: Lịch sử văn học Việt Nam (1930-1945)
Tập IX: Lịch sử văn học Việt Nam (1945-1975)
Tập X: Lịch sử văn học Việt Nam (1976-2000)
Mỗi một tập trong bộ Lịch sử văn học Việt Nam có một hoặc đồng tác giả chủ biên, được biên soạn theo phương châm cập nhật, chất lượng và cố gắng bám sát tiến trình các giai đoạn phát triển của Lịch sử văn học Việt Nam. Mỗi tập do một tập thể biên soạn là các nhà nghiên cứu có uy tín trong giới văn học trong nước cũng như trên trường quốc tế.
"Chuyện làng Đông Bích và tôi" là chiếc vé khứ hồi đưa bạn tìm về những gì trong trẻo, bình dị nhất của hồn quê Việt. Qua 24 tản văn đậm vị xứ Nghệ, một Đông Bích cằn cỗi bỗng hóa nên thơ với cây đa chín chánh, giếng Nẩy và mạch nguồn đạo Học ngàn đời. Nhưng chạm lòng người nhất chính là những số phận lam lũ như cố Ngợi, cụ Lạn, chị Lạng... dẫu đi qua bao éo le vẫn lấp lánh tấm chân tình. Viết bằng giọng văn thủ thỉ, rù rì như rút ra từ máu thịt, tác giả đã trả xong "món nợ ân tình" đầy ấm áp với nơi chôn nhau cắt rốn. Cuốn sách như một nốt lặng bình yên, khiến bất kỳ ai lật mở cũng phải thổn thức và thêm trân quý hai tiếng "quê nhà".
Tiếp cận cuốn sách bạn đọc có những hình dung về bức tranh kiến trúc Thăng Long - Hà Nội, hiểu được quá trình hình thành diện mạo kiến trúc Thăng Long từ những tụ cư bên sông Hồng tới Đại La, định đô Thăng Long và diện mạo ban đầu, Thăng Long thời Lý - Trần - Hồ, Thăng Long thời Lê - Mạc - Tây Sơn, Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn; những xây dựng đầu tiên của Pháp ở Hà Nội, chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai, cấu trúc không gian đô thị thời Pháp thuộc. Bên cạnh đó là diện mạo kiến trúc Hà Nội từ hoà bình trở lại đến những năm đổi mới, những hình ảnh quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội năm 2011 và điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Vùng Thủ đô; kiến trúc Hà Nội thời kỳ mới hội nhập, thời kỳ của kỹ thuật công nghệ mới và biến động của kinh tế - xã hội, kiến trúc Hà Nội nhìn về phía trước.
Khi đọc xong bản thảo Lênh đênh bốn biển, tập 2 trong bộ tiểu thuyết về con người vĩ đại Hồ Chí Minh có tên Nước non vạn dặm, tôi nhận thấy rằng nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã dựng lên được con đường mà một vĩ nhân của dân tộc đã đi. Cũng chính lẽ đó mà nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã đi qua được chặng đường quan trọng nhất của bộ tiểu thuyết Nước non vạn dặm. Khi đọc đến trang cuối cùng của tập 2 Lênh đênh bốn biển, trong tôi vang lên bài thơ của nhà thơ danh tiếng Ko Un, người Hàn Quốc:
Con đường ra đi là con đường trở thành nhà sư
Con đường trở về mới là con đường để trở thành Đức Phật
Nhưng người chỉ có thể trở về khi đích thực ra đi. Và trong hai tập 1 và 2 của bộ tiểu thuyết Nước non vạn dặm, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đã dựng lên con đường ra đi và con đường trở về của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Con đường ra đi của Người chính là con đường yêu nước mang tên Nguyễn Tất Thành và con đường trở về đã biến người thanh niên ấy thành một con người mang tên Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, thành một thời đại mang tên thời đại Hồ Chí Minh.
Truyện đọc lịch sử Việt Nam tập 2 bao gồm những truyện về giai đoạn lịch sử từ năm 179 TCN đến năm 938 SCN - đánh dấu bằng sự kiện Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt ách đô hộ hơn 1000 năm của phong kiến phương Bắc, mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc.