Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Trong bối cảnh lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang có những bước phát triển vô cùng mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định rõ: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải là đột phá chiến lược, là động lực chính để phát triển nhanh và bền vững. Điều đó đòi hỏi Bộ Khoa học và Công nghệ sau hợp nhất không chỉ là một cơ quan quản lý, mà còn phải là một tổ chức kiến tạo phát triển: Dẫn dắt, kết nối, truyền cảm hứng, và đặc biệt là hành động vì tương lai của đất nước. Trách nhiệm của Bộ càng nặng nề nhưng cũng đầy ý nghĩa: Trở thành đầu tàu phát khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Quốc gia.
Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới - Lan tỏa các bài viết thể loại Tạp chí tại Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Tư, năm 2024
Lạng Sơn, vùng phên giậu phía đông bắc của Tổ quốc, sở hữu cảnh quan hùng vĩ và nền văn hóa đa dạng, là nơi hình thành Công viên địa chất Lạng Sơn nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản đặc sắc của tỉnh. Từ hội thảo khoa học về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể năm 2022, nhóm tác giả đã tập hợp các nghiên cứu để biên soạn cuốn “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng Công viên địa chất Lạng Sơn”. Cuốn sách góp phần khẳng định giá trị của vùng di sản này trong chiến lược phát triển bền vững theo các định hướng của Chính phủ và tinh thần Tuyên ngôn UNESCO về đa dạng văn hóa.
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Mường Khương (1950–2025)” ghi lại chặng đường 75 năm hình thành, phát triển và trưởng thành của Đảng bộ huyện vùng cao biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai – nơi hội tụ 14 dân tộc anh em với truyền thống đoàn kết, yêu nước và cần cù sáng tạo. Cuốn sách không chỉ kế thừa, chỉnh lý nội dung từ các lần xuất bản trước mà còn bổ sung giai đoạn 2010–2025, phản ánh đầy đủ những dấu ấn lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện. Đây là tài liệu quý phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống và định hướng phát triển cho các thế hệ mai sau.
Truyện đọc lịch sử Việt Nam tập 2 bao gồm những truyện về giai đoạn lịch sử từ năm 179 TCN đến năm 938 SCN - đánh dấu bằng sự kiện Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt ách đô hộ hơn 1000 năm của phong kiến phương Bắc, mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập đến nay đã có hơn 90 năm hoạt động. Tiến trình lịch sử đó của Đảng là tiến trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và đổi mới của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu độc lập dân tộc thống nhất đất nước và chủ nghĩa xã hội. Tiến trình đó trải qua nhiều thời kỳ, nhiều chặng đường hết sức oanh liệt, vẻ vang và để lại nhiều kinh nghiệm quý báu. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng lịch sử của Đảng là “một pho lịch sử bằng vàng”.
Giới thiệu tiến trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là giới thiệu tiến trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, là kế thừa và không ngừng phát triển về nhận thức trên cơ sở quán triệt Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong đó có những mốc, những giai đoạn chuyển biến quan trọng, những bước nhảy vọt về tư duy nhận thức cũng như chỉ đạo thực tiễn trên con đường đi lên của cách mạng Việt Nam.
Thiết thực phục vụ đông đảo bạn đọc trong việc nghiên cứu, học tập lịch sử vẻ vang của Đảng, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) trân trọng giới thiệu cuốn sách “Tiến trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2021)”, do PGS. TS, GVCC, NGƯT Ngô Đăng Tri, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội biên soạn, trên cơ sở bổ sung, chỉnh sửa cuốn “80 năm Đảng Cộng sản Việt Nam - những chặng đường lịch sử (1930 - 2010)”, “82 năm Đảng Cộng sản Việt Nam - những chặng đường lịch sử (1930 - 2012)” và “Tiến trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2016)” đã xuất bản năm 2010, năm 2012 và năm 2016.
Toàn bộ nội dung cuốn sách, tác giả chia tiến trình lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam thành 7 thời kỳ. Trong đó thời kỳ ra đời (1920 - 1930), tác giả đã trình bày về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/02/1930.
Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945), nêu lên quá trình Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, dẫn tới thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên chế độ dân chủ cho nhân dân bằng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), giới thiệu sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến kiến quốc toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng đầy khó khăn, tới chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, giải phóng miền Bắc, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước (1954 - 1975), trình bày quá trình Đảng lãnh đạo tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền Bắc, Nam đi tới thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, thu giang sơn về một mối.
Thời kỳ đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 - 1986), nêu lên sự lãnh đạo của Đảng quyết tâm đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội với nhiều thăng trầm, đã đạt được những thành tựu đáng kể trong giai đoạn 1975 - 1985.
Thời kỳ đầu đổi mới (1986 - 1996), trình bày đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sự chỉ đạo đưa đường lối đổi mới vào cuộc sống, đưa đất nước vượt ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội với những thành tựu bước đầu quan trọng.
Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế (1996 - 2021), trình bày sự lãnh đạo của Đảng trong việc chuyển đất nước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với những thành tựu hết sức to lớn về kinh tế xã hội, nâng cao vị thế quốc tế của cách mạng và dân tộc Việt Nam.
Công trình cũng dành một phần quan trọng để tổng kết tiến trình lãnh đạo cách mạng và đổi mới của Đảng, khẳng định những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và đúc kết những bài học kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ lịch sử.
Phần phụ lục của cuốn sách tập trung giới thiệu chân dung, tiểu sử Chủ tịch Đảng, các Tổng Bí thư của Đảng và danh sách các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ ngày Đảng ra đời đến Đại hội lần thứ XIII (2021), giúp người đọc có thêm thông tin cần thiết về các lãnh tụ và đội ngũ cán bộ cấp cao đã giữ vai trò quan trọng làm nên thắng lợi của Đảng, của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
Lễ hội truyền thống là kết tinh của bản sắc văn hóa các dân tộc xứ Lạng, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với sự đa dạng của cộng đồng Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông…, Lạng Sơn hình thành một không gian văn hóa phong phú, trong đó lễ hội giữ vai trò trung tâm, phản ánh toàn diện đời sống xã hội và tinh thần của cư dân bản địa. Trước tác động của hiện đại hóa và công nghệ số, nhu cầu gìn giữ, nghiên cứu và phát huy lễ hội truyền thống càng trở nên cấp thiết, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa và cội nguồn cộng đồng. Từ khảo sát thực tiễn và tư liệu nghiên cứu, cuốn sách “Lễ hội truyền thống dân tộc Tày ở Lạng Sơn” được biên soạn nhằm giới thiệu những giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội người Tày trong bức tranh văn hóa Đông Bắc Việt Nam.
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tiền thân là Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học, hay gọi tắt là Ban Nghiên cứu Sử, Địa, Văn, được thành lập ngày 2 tháng 12 năm 1953 theo Quyết định số 34-QN/TW của Trung ương Đảng tại khu căn cứ cách mạng Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Ra đời trong điều kiện gian khổ của chiến khu Việt Bắc, trưởng thành trong những năm tháng hào hùng của hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, trải qua những khó khăn, vất vả của thời kỳ bao cấp và vươn lên mạnh mẽ cùng với quá trình Đổi mới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam luôn kiên trì, bền bỉ, nỗ lực hết sức mình đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và cho sự phát triển của nền khoa học xã hội nước nhà. Nhiều thế hệ chuyên gia, nhà nghiên cứu của Viện đã ngày đêm miệt mài làm việc, cống hiến tâm huyết, sức lực và trí tuệ của mình cho khoa học; nhiều cán bộ đã lên đường nhập ngũ, góp phần xương máu của mình cho độc lập, tự do của dân tộc. Nhiều công trình khoa học xuất sắc, nhiều báo cáo tư vấn có giá trị đã góp phần làm nên tên tuổi Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trong vai trò là cơ quan nghiên cứu cơ bản hàng đầu của đất nước về khoa học xã hội và nhân văn, đơn vị tham mưu chiến lược và tư vấn chính sách nòng cốt của Đảng và Nhà nước, nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học xã hội, trung tâm nghiên cứu có uy tín quốc tế.
Cuốn sách này là công trình tập thể được biên soạn và xuất bản đúng vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam để dành tặng cho tất cả những người đã góp phần xây dựng đơn vị trong suốt bảy thập niên qua, để chúng ta cùng tự hào ôn lại những chặng đường lịch sử đã qua, trân trọng tri ân các thế hệ cán bộ đi trước, đồng thời cùng hướng tầm nhìn về tương lai, chung sức, đồng lòng đưa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện sứ mệnh khoa học cao cả của mình và khát vọng phát triển của dân tộc.
Về nội dung, Tập 2 của cuốn sách “Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: 70 năm xây dựng và phát triển gồm” trình bày khái quát quá trình hình thành, phát triển đến nay; những đóng góp và thành tựu chủ yếu; các hình thức khen thưởng đạt được; định hướng phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của các đơn vị trực thuộc được sắp xếp theo các khối.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm) tự hào kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, đánh dấu nửa thế kỷ hình thành, xây dựng và phát triển không ngừng. Tiền thân là Viện Khoa học Việt Nam, được thành lập theo Nghị định số 118/CP ngày 20/5/1975 của Hội đồng Chính phủ, Viện Hàn lâm đã đồng hành cùng sự nghiệp cách mạng, gắn bó mật thiết với quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng.