Ấn phẩm khác
Giáo dục và quản lý giáo dục trong thời đại 4.0 (Kỷ yếu hội thảo quốc tế). Quyển 1
Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục Việt Mỹ
Hội thảo Quốc tế “Giáo dục và Quản lý Giáo dục trong thời đại 4.0” do Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục Việt Mỹ tổ chức nhằm mục đích giới thiệu những nghiên cứu mới về khoa học giáo dục và quản lý giáo dục trong giai đoạn mới – giai đoạn phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 và Chương trình thay sách giáo khoa theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Nội dung các bài viết tập trung vào những chủ đề chính sau: Chủ đề 1: Đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục căn bản, toàn diện và chương trình thay sách giáo khoa hiện nay. Chủ đề 2: Giáo dục và quản lý giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số. Chủ đề 3: Khoa học giáo dục với Khoa học công nghệ trong công cuộc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Chủ đề 4: Ứng dụng khoa học và công nghệ trong giảng dạy chuyên ngành/học phần/bài giảng cụ thể. Mặc dù, đây là lần đầu tiên tổ chức, song Hội thảo đã nhận được gần 30 báo cáo của hơn 40 tác giả trong và ngoài nước. Ban tổ chức đã chọn 26 bài để in vào cuốn Kỷ yếu này.
2089 lượt xem
IWAMSN 2024 - The 11th International Workshop on Advanced Materials Science and Nanotechnology Proceedings
Vietnam Academy of Science and Technology

TOPICS OF THE WORKSHOP

1. Materials for Electronics and Photonics (code: MEP)

2. Nanostructured Materials and Devices (code: NMD)

3. Materials and Technologies for Green Energy and Decarbonization (code: MED)

4. Materials and Nanotechnologies for Life Sciences (code: MLS)

5. Materials and Ecological Technologies for Environment (code: MEE)

6. Advanced Engineering Materials (code: AEM)

7. Materials Data and Machine Learning (code: MDM)

4860 lượt xem
Kỷ yếu hội thảo khoa học Nâng cao chất lượng toàn diện xuất bản phẩm trong tình hình mới
Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Hội Xuất bản Việt Nam

Nội dung cuốn sách gồm 29 báo cáo tham luận tại Hội thảo khoa học Nâng cao chất lượng toàn diện xuất bản phẩm trong tình hình mới do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Xuất bản Việt Nam phối hợp tổ chức.

3452 lượt xem
Việt Nam - Campuchia: Sự tương đồng giữa hai nền văn hóa
TS. Nguyễn Phương Liên
Con người từ buổi sơ khai đã sinh ra và tồn tại ở khắp nơi trên Trái đất, để có thể sinh tồn, theo một cách rất bản năng, họ kết lại thành bầy đàn để tự vệ cũng như lao động sản xuất. Từ sự tự phát bản năng ấy, các nhóm cùng tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ, cùng lao động, tích lũy, làm giàu cho bản thân và cộng đồng. Song hành cùng quá trình đó chính là sự tự ý thức về chủ quyền, quyền lực ngày càng rõ ràng hơn. Quá trình tất yếu tiếp theo chính là nhu cầu về sự mở rộng phạm vi sống, chinh phục những miền đất mới và làm giàu tích lũy. Sự chia cắt, sáp nhập, di dời, lưu vong đã tạo ra những biến cố liên tục dẫn đến những thay đổi tất yếu và thường xuyên trong cộng đồng người. Để có thể vượt qua các mâu thuẫn nảy sinh đó, con người chọn cách gắn kết chặt chẽ lại với nhau và phân biệt nhau không chỉ trên lãnh thổ. Điều này nghĩa là gì? Văn hóa được tạo ra không phải sự tách biệt, riêng biệt, mà nó là sản phẩm của sự sáng tạo trong quá trình phát triển và văn hóa cũng chính là một dạng “cương vực, lãnh thổ” bởi nó mang đặc trưng dân tộc, hay căn tính dân tộc. Căn tính dân tộc là một phạm trù có tính lịch sử của tồn tại xã hội, được xác lập trên cơ sở những đặc điểm của hiện hữu khách quan ban đầu khi cộng đồng mới hình thành và vẫn tiếp tục thay đổi, ổn định trong quá trình cộng đồng đó vận động, phát triển. Căn tính của một dân tộc được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại, do đó, nó đại diện cho một nhóm người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định. Như vậy, văn hóa chính là một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc. Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy. Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định. Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang những căn tính riêng thuộc về mặt sẵn có, tuy nhiên, mặt khác nó tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên và sinh tồn. Căn tính cá nhân đó ảnh hưởng từ phạm vi nhỏ là cộng đồng gia đình, đến phạm vi lớn là cộng đồng dân tộc. Hiếm có dân tộc nào cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn thành phần tộc người, phạm vi lãnh thổ, hình thái xã hội như buổi sơ khai con người tìm đến với nhau và quyết định chia sẻ môi sinh, tài nguyên thiên nhiên và quyền lợi tập thể. Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong bài viết “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 1/1986 đã khẳng định rằng: “Cho nên, tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc,… mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc”. Điều mà nhà nghiên cứu muốn chỉ ra ở đây là vốn văn hóa dân tộc không được xác lập ngay vào thời kì định hình mà là cái được ổn định dần qua thời gian cho đến trước thời cận hiện đại. Bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc của một đất nước đang phát triển như Việt Nam vẫn đang tiếp tục thay đổi và ổn định trước công cuộc mở cửa và hội nhập như vũ bão của thời đại toàn cầu hóa. Bên cạnh chúng ta, người Khmer với quốc gia mang tên Campuchia hiện nay cũng đang từng bước vững chắc phục hưng nền văn hóa trong văn minh lâu đời của chính mình như sức mạnh để vươn tới vị trí cao hơn sau những khủng hoảng về chính trị đã cách xa gần nửa thế kỷ.
2335 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.03)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.03)

1310 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.01/Q1)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.01/Q1)

1445 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.13/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.13/Q2)

1252 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.09/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.09/Q2)

930 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.02)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.02)

1193 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.13-Q2)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.13-Q2)

1499 lượt xem
Ngành Thông tin và Truyền thông
Bộ Thông tin và Truyền thông

Nội dung sách là nhưng phát biểu tâm huyết của đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về định hướng phát triển Ngành Thông tin và Truyền thông.

2215 lượt xem
Như suối nguồn chảy mãi
Hội Hữu nghị Việt - Lào Thành phố Đà Nẵng

Từ lâu, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào đã được xem là một điển hình, một tấm gương mẫu mực về sự gắn kết bền chặt, thủy chung, trong sáng giữa hai dân tộc cùng kề vai, sát cánh trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước. Đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, quan hệ đặc biệt này được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan, nguy hiểm thế nào cũng không thể chia tách được. Năm 2017 là gắn dấu mốc 55 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962-05/9/2017). Cuốn sách “Như suối nguồn chảy mãi” do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị và Hội hữu nghị Việt - Lào thành phố Đà Nẵng biên soạn nhằm ghi lại những dấu ấn, mốc son lịch sử của hai dân tộc Việt – Lào. Cuốn sách tập hợp những bài viết của các đồng chí Lãnh đạo thành phố, các chuyên gia, cựu tình nguyện quân từng chiến đấu, công tác tại Lào, các nhà văn, nhà báo và những người hoạt động trong các lĩnh vực làm “cầu nối” cho mối quan hệ hữu nghị Việt - Lào phát triển. Nội dung cuốn sách được cấu trúc gồm hai phần: Phần thứ nhất: Liên minh chiến đấu bền chặt. Phần thứ hai: Hợp tác toàn diện. “Như suối nguồn chảy mãi” tập trung thể hiện mối quan hệ hữu nghị, hợp tác nghĩa tình của nhân dân thành phố Đà Nẵng với các địa phương Lào trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong công cuộc xây dựng, phát triển hiện nay. Với những nội dung đầy ý nghĩa như vậy, hy vọng cuốn sách sẽ để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng sâu sắc, những tình cảm đẹp về tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào và mong nhận được sự động viên, chia sẻ về những điều chưa thật trọn vẹn ở cuốn sách này./.

1629 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.06)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.06)

978 lượt xem
Định Hoá - Viên ngọc xanh của Thái Nguyên
Nhiều tác giả

Định Hoá - Viên ngọc xanh của Thái Nguyên

16008 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.01/Q1)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.01/Q1)

1106 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.12/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.12/Q2)

1446 lượt xem