Ấn phẩm khác
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.15)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.15)

1870 lượt xem
Gia phả và phong tục, tập quán họ Vi Tun Xiêng Men - Tương Dương, Nghệ An
Vi Lưu Bình

Cuốn sách giới thiệu nguồn gốc, quá trình hình thành và lịch sử phát triển của dòng họ Vi Tun ở Xiêng Men (Tương Dương, Nghệ An) cùng những phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa vẫn đang được các thế hệ giữ gìn, vun đắp.

1407 lượt xem
Xây dựng hợp tác xã kiểu mới gắn với xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu nông nghiệp
Bộ Thông tin và Truyền thông
Hợp tác xã là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế nước ta, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay, hợp tác xã nông nghiệp chính là môi trường để phát huy sức mạnh tập thể, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả; là cầu nối, tổ chức trung gian giữa người nông dân với doanh nghiệp và nhà nước. Hơn thế nữa, vai trò, vị trí của hợp tác xã nông nghiệp càng quan trọng hơn khi vừa hỗ trợ các thành viên tham gia thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020” theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 và Quyết định số 1760/QĐ-TTg ngày 10/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ vừa thực hiện đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 đã đi qua gần hết chặng đường, các địa phương trên cả nước bước đầu đã đạt được những thành tựu to lớn, các xã đã được công nhận “xã nông thôn mới” thời gian qua đều có các hợp tác xã được tổ chức hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012. Các hợp tác xã này không chỉ đóng vai trò tập hợp, vận động nông dân hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế mà còn thay đổi nếp nghĩ, cách làm cho bà con nông dân, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nông nghiệp và đóng góp tích cực vào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn. Tuy nhiên, quá trình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới gắn với xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu nông nghiệp vẫn còn những khó khăn, hạn chế. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và các chuyên gia biên soạn, xuất bản cuốn sách “Xây dựng hợp tác xã kiểu mới gắn với xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu nông nghiệp” nhằm tuyên truyền, cung cấp những thông tin, kiến thức hữu ích cho cán bộ triển khai thực hiện nâng cao hiệu quả nhiệm vụ Chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ thông tin và truyền thông cũng như hoạt động của các hợp tác xã nói chung, hợp tác xã nông nghiệp nói riêng. Nội dung cuốn sách gồm 3 chương: - Chương 1: Tổng quan về phát triển hợp tác xã kiểu mới gắn với xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu nông nghiệp. - Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã tham gia xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu nông nghiệp. - Chương 3: Hướng dẫn xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới gắn với xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu nông nghiệp.
1774 lượt xem
Kỷ yếu Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học - Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
Đại học Đà Nẵng - Đại học Ngoại Ngữ

Ấn phẩm này tập hợp những công trình tiêu biểu phản ánh niềm đam mê khám phá tri thức và sự nghiêm túc trong phương pháp nghiên cứu của sinh viên, đồng thời lan tỏa tinh thần nghiên cứu, sáng tạo và hội nhập quốc tế - những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc của Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

2945 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.13-Q1)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.13-Q1)

2067 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.12/Q1)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.12/Q1)

1606 lượt xem
Xây dựng mô hình hợp tác xã phù hợp về quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề chế biến nông - lâm sản
Hoàng Văn Long, TS. Nguyễn Tiến Định, ThS. Đỗ Phương Chi, ThS. Trần Hữu Quang, TS. Nguyễn Mạnh Cường
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta xác định giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đã có nhiều chủ trương, chính sách về xóa đói giảm nghèo, trong đó nhấn mạnh việc giảm nghèo thông tin, mong muốn góp phần đẩy mạnh tuyên truyền, thay đổi nhận thức về giảm nghèo của cán bộ, chính quyền các cấp và người dân. Ngày 02 tháng 9 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1722/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020”. Các dự án của chương trình có đề ra hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với người nghèo trong phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề, chế biến tiêu thụ sản phẩm. Sự phát triển sản xuất nghề đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn. Tuy nhiên, ngoài các mặt tích cực của làng nghề thì hoạt động sản xuất của làng nghề đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường. Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, nhất là các làng nghề chế biến nông - lâm sản, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả thuộc Viện Phát triển kinh tế hợp tác thuộc Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các chuyên gia xuất bản cuốn sách “Xây dựng mô hình hợp tác xã phù hợp về quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề chế biến nông - lâm sản”. Nội dung cuốn sách giới thiệu đến bạn đọc những thông tin tổng quan về tình hình ô nhiễm môi trường tại các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng; công tác quản lý, xử lý ô nhiễm môi trường; tình hình hợp tác xã tham gia quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường; hướng dẫn xây dựng hợp tác xã phù hợp về quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề chế biến nông - lâm sản để nâng cao vai trò, vị trí của các hợp tác xã trong quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, nhất là các làng nghề chế biến nông - lâm sản, góp phần xây dựng nông thôn mới vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm tới và giới thiệu một số công nghệ xử lý chất thải từ làng nghề chế biến nông - lâm sản, như nuôi giun trùn quế, trồng bèo tây, xử lý nước thải bằng than hoạt tính…
2330 lượt xem
Việt Nam - Campuchia: Sự tương đồng giữa hai nền văn hóa
TS. Nguyễn Phương Liên
Con người từ buổi sơ khai đã sinh ra và tồn tại ở khắp nơi trên Trái đất, để có thể sinh tồn, theo một cách rất bản năng, họ kết lại thành bầy đàn để tự vệ cũng như lao động sản xuất. Từ sự tự phát bản năng ấy, các nhóm cùng tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ, cùng lao động, tích lũy, làm giàu cho bản thân và cộng đồng. Song hành cùng quá trình đó chính là sự tự ý thức về chủ quyền, quyền lực ngày càng rõ ràng hơn. Quá trình tất yếu tiếp theo chính là nhu cầu về sự mở rộng phạm vi sống, chinh phục những miền đất mới và làm giàu tích lũy. Sự chia cắt, sáp nhập, di dời, lưu vong đã tạo ra những biến cố liên tục dẫn đến những thay đổi tất yếu và thường xuyên trong cộng đồng người. Để có thể vượt qua các mâu thuẫn nảy sinh đó, con người chọn cách gắn kết chặt chẽ lại với nhau và phân biệt nhau không chỉ trên lãnh thổ. Điều này nghĩa là gì? Văn hóa được tạo ra không phải sự tách biệt, riêng biệt, mà nó là sản phẩm của sự sáng tạo trong quá trình phát triển và văn hóa cũng chính là một dạng “cương vực, lãnh thổ” bởi nó mang đặc trưng dân tộc, hay căn tính dân tộc. Căn tính dân tộc là một phạm trù có tính lịch sử của tồn tại xã hội, được xác lập trên cơ sở những đặc điểm của hiện hữu khách quan ban đầu khi cộng đồng mới hình thành và vẫn tiếp tục thay đổi, ổn định trong quá trình cộng đồng đó vận động, phát triển. Căn tính của một dân tộc được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại, do đó, nó đại diện cho một nhóm người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định. Như vậy, văn hóa chính là một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc. Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy. Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định. Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang những căn tính riêng thuộc về mặt sẵn có, tuy nhiên, mặt khác nó tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên và sinh tồn. Căn tính cá nhân đó ảnh hưởng từ phạm vi nhỏ là cộng đồng gia đình, đến phạm vi lớn là cộng đồng dân tộc. Hiếm có dân tộc nào cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn thành phần tộc người, phạm vi lãnh thổ, hình thái xã hội như buổi sơ khai con người tìm đến với nhau và quyết định chia sẻ môi sinh, tài nguyên thiên nhiên và quyền lợi tập thể. Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong bài viết “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 1/1986 đã khẳng định rằng: “Cho nên, tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc,… mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc”. Điều mà nhà nghiên cứu muốn chỉ ra ở đây là vốn văn hóa dân tộc không được xác lập ngay vào thời kì định hình mà là cái được ổn định dần qua thời gian cho đến trước thời cận hiện đại. Bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc của một đất nước đang phát triển như Việt Nam vẫn đang tiếp tục thay đổi và ổn định trước công cuộc mở cửa và hội nhập như vũ bão của thời đại toàn cầu hóa. Bên cạnh chúng ta, người Khmer với quốc gia mang tên Campuchia hiện nay cũng đang từng bước vững chắc phục hưng nền văn hóa trong văn minh lâu đời của chính mình như sức mạnh để vươn tới vị trí cao hơn sau những khủng hoảng về chính trị đã cách xa gần nửa thế kỷ.
2867 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.S2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.S2)

1700 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.13/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.13/Q2)

1939 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.03)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.03)

2033 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.11)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.11)

1709 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.10/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.10/Q2)

1888 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.09/Q1)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.09/Q1)

1600 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.09 - Q1)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.09 - Q1)

1530 lượt xem
Chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sự phát triển bền vững giáo dục đại học (DIGITAL TRANSFORMATION AND THE APPLICATION OF ARTIFICIAL INTELLIGENCE IN THE SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF HIGHER EDUCATION - THE INT), Quyển II
Đại học Nghệ An, Đại học Y khoa Vinh và các trường Đại học khác...

Kỷ yếu hội thảo tuyển chọn từ 310 bài viết của hơn 100 cơ sở giáo dục và viện nghiên cứu, với tiếp cận đa chiều: từ lý luận, mô hình, liêm chính học thuật, kinh nghiệm triển khai đến giải pháp nâng cao năng lực số, đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phát triển chương trình và hoàn thiện cơ chế quản trị. Các nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò trung tâm của con người - người học và người dạy trong tiến trình chuyển đổi số, hướng tới một nền giáo dục nhân văn, sáng tạo và trách nhiệm xã hội.

1112 lượt xem