Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách Mây trời Mường Lống và Mây tre Hữu Kiệm giới thiệu hai không gian văn hóa tiêu biểu ở miền Tây Nghệ An: Mường Lống và Hữu Kiệm. Qua việc khắc họa đời sống sinh hoạt, lễ hội, tri thức bản địa và nghề đan lát truyền thống, cuốn sách làm nổi bật mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên, đồng thời tôn vinh tinh thần lao động, sáng tạo và ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa của đồng bào nơi đây.
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.01/Q1)
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.13/Q2)
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.13-Q2)
Cuốn sách cung cấp thông tin về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Kỷ yếu Hội thảo được biên soạn trên cơ sở tuyển chọn các bài viết tiêu biểu của sinh viên đến từ nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước. Các công trình nghiên cứu trong Kỷ yếu không chỉ thể hiện tư duy nghiên cứu độc lập, sự nghiêm túc trong phương pháp tiếp cận khoa
học mà còn phản ánh tinh thần sáng tạo và trách nhiệm học thuật của thế hệ sinh viên luật – lực lượng trí thức trẻ được kỳ vọng sẽ tiếp nối và đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền khoa học pháp lý và hệ thống tư pháp Việt Nam trong tương lai.
Từ lâu, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào đã được xem là một điển hình, một tấm gương mẫu mực về sự gắn kết bền chặt, thủy chung, trong sáng giữa hai dân tộc cùng kề vai, sát cánh trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước. Đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, quan hệ đặc biệt này được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan, nguy hiểm thế nào cũng không thể chia tách được. Năm 2017 là gắn dấu mốc 55 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962-05/9/2017). Cuốn sách “Như suối nguồn chảy mãi” do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị và Hội hữu nghị Việt - Lào thành phố Đà Nẵng biên soạn nhằm ghi lại những dấu ấn, mốc son lịch sử của hai dân tộc Việt – Lào. Cuốn sách tập hợp những bài viết của các đồng chí Lãnh đạo thành phố, các chuyên gia, cựu tình nguyện quân từng chiến đấu, công tác tại Lào, các nhà văn, nhà báo và những người hoạt động trong các lĩnh vực làm “cầu nối” cho mối quan hệ hữu nghị Việt - Lào phát triển. Nội dung cuốn sách được cấu trúc gồm hai phần: Phần thứ nhất: Liên minh chiến đấu bền chặt. Phần thứ hai: Hợp tác toàn diện. “Như suối nguồn chảy mãi” tập trung thể hiện mối quan hệ hữu nghị, hợp tác nghĩa tình của nhân dân thành phố Đà Nẵng với các địa phương Lào trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong công cuộc xây dựng, phát triển hiện nay. Với những nội dung đầy ý nghĩa như vậy, hy vọng cuốn sách sẽ để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng sâu sắc, những tình cảm đẹp về tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào và mong nhận được sự động viên, chia sẻ về những điều chưa thật trọn vẹn ở cuốn sách này./.
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.03)
Hoà chung tinh thần hành động đó, Hội thảo Khoa học Trẻ 2025 với chủ đề “Phát triển kinh tế tư nhân – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” được tổ chức nhằm phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp để triển khai định hướng lớn từ Nghị quyết số 68 vào đời sống kinh tế - xã hội. Cuốn kỷ yếu này là tập hợp những góc nhìn đa chiều từ các nhà nghiên cứu trẻ về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới.
Nội dung tờ rơi so sánh vắc xin PCV15 và vắc xin PCV20 ở trẻ qua nghiên cứu so sánh gián tiếp theo phương pháp Bucher tiêu chuẩn - ITC, chẳng hạn như sự khác biệt về đặc điểm bệnh nhân và cách đo lường, đem lại bằng chứng so sánh kịp thời và đáng tin cậy, góp phần đưa ra quyết định lâm sàng.
Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Đại học Thái Nguyên gắn với phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du và miền núi phía Bắc
Biển Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) trải dài từ TP. Đà Nẵng đến Bình Thuận với chiều dài trên 1.000 km, trên biển có nhiều đảo lớn như: Đảo Phú Quý, Lý Sơn, Cù Lao Chàm và các quần đảo là: Hoàng Sa, Trường Sa. Sản lượng hải sản có thể khai thác ở mức bền vững của toàn vùng vào khoảng 350.000 - 400.000 tấn/năm, trong đó có nhiều loại hải sản quý hiếm như tôm hùm, bào ngư, cá ngừ đại dương… Trong những năm qua, hoạt động đánh bắt hải sản trên địa bàn khu vực DHNTB đã có những bước phát triển nhanh chóng. Sản lượng đánh bắt năm 2011 của toàn Vùng đạt khoảng 540 nghìn tấn, chiếm 31,5% so với cả nước. Thực tế cho thấy, ngành đánh bắt hải sản ở DHNTB, ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, nó còn mang lại hiệu quả tổng hợp trên nhiều mặt kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cho các địa phương trong vùng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc đánh bắt hải sản ở DHNTB vẫn còn rất nhiều bất cập cần giải quyết như: - Số phương tiện đánh bắt tăng quá nhanh nhưng đa số vẫn là vỏ gỗ, với động cơ chủ yếu là máy cũ tân trang. - Năng lực đánh bắt tăng nhanh trong khi trữ lượng hải sản không tăng đã làm cho năng suất đánh bắt giảm xuống nhanh chóng; - Tình trạng đánh bắt gần bờ bằng các phương pháp đánh bắt có tính chất tận diệt như kích điện, đánh thuốc nổ, “cào bay”... vẫn còn tồn tại, thậm chí có nơi còn gia tăng; - Các rủi ro về an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân do thiên tai, địch họa đang có xu hướng tăng và ngày càng diễn biến phức tạp nhưng chưa có biện pháp hiệu quả để khắc phục; - Việc quản lý chi phí đầu vào, đầu ra cho ngành đánh bắt hải sản vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ, các cấp chính quyền đến nay vẫn chưa có các giải pháp tổng thể để giải quyết vấn đề này; - Chưa có được một giải pháp toàn diện để giải quyết vấn đề quan hệ giữa phát triển đánh bắt hải sản và sử dụng nguồn lợi chung công bằng trong cộng đồng dân cư… Để tiếp tục phát triển hoạt động đánh bắt hải sản vùng DHNTB trong tương lai, đề tài nghiên cứu về “Đẩy mạnh đánh bắt hải sản trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững” của TS. Đào Hữu Hòa đã được xuất bản thành sách. Đề tài đã đánh giá được thực trạng, chỉ ra được nguyên nhân để có các biện pháp phù hợp nhằm khắc phục các hạn chế trên, đảm bảo cho việc đẩy mạnh hoạt động đánh bắt hải sản luôn gắn liền với yêu cầu phát triển bền vững tại mỗi địa phương. Đó cũng chính là nội dung của cuốn sách này. Hy vọng các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu sẽ tìm thấy nhiều tư liệu giá trị trong cuốn sách này.