Ấn phẩm khác
Môi trường nông nghiệp và nông thôn: Hiện trạng và hướng phát triển
Bộ Thông tin và Truyền thông
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp với khoảng 65% dân số đang sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn. Cùng với sự đổi mới gắn liền với các chính sách khuyến nông, kinh tế nông thôn liên tục tăng trưởng và chuyển mạnh theo hướng công nghiệp - dịch vụ, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, từng bước thu hẹp khoảng cách với đô thị và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên vấn đề ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí… do rác thải, hóa chất bảo vệ thực vật… đã đặt ra những thách thức lớn đối với công tác bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn và ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng một nền nông nghiệp phát triển bền vững. Ngày 16 tháng 8 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”, trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ thực hiện tiêu chí về Thông tin và Truyền thông. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và các chuyên gia biên soạn, xuất bản cuốn sách “Môi trường nông nghiệp và nông thôn: Hiện trạng và hướng phát triển” nhằm tuyên truyền, cung cấp những thông tin, kiến thức hữu ích cho cán bộ triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ Chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ thông tin và truyền thông cũng như phát triển nông nghiệp nói chung, môi trường nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: - Chương 1: Tổng quan môi trường nông nghiệp và nông thôn - Chương 2: Môi trường nước và vệ sinh môi trường ở nông thôn - Chương 3: Sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp - Chương 4: Môi trường đất và không khí - Chương 5: Hướng phát triển môi trường nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới
2183 lượt xem
 ປື້ມຄູ່ມືການຫັນເປັນດິຈິຕອນ (Cẩm nang chuyển đổi số)
Ministry of Information and Communications
ປຶ້ມ​ຄູ່​ມື​ສະບັບ​ນີ້​ໄດ້​ຮັບ​ການ​ກໍ່ສ້າງ​ບົນ​ພື້ນຖານ​ຄຳ​ປາ​ໄສ​ຂອງ​ທ່ານ​ລັດຖະມົນຕີ​ກະຊວງ​ຖະ​ແຫຼ​ງຂ່າວ ​ແລະ ສື່ສານ ຫງວຽນ​ແມ້ງ​ຮຸ່ງ ​ແລະ ການ​ປະຕິບັດ​ຂອງ​ບັນດາ​ຜູ້​ທີ່​ໄດ້​ໄຕ່​ຕອງ ​ແລະ ​ເຂົ້າ​ຮ່ວມ​ຢ່າງ​ກົງ​ໄປ​ກົງ​ມາ​ໃນ​ບັນດາ​ກົນ​ໄກ​ວາງ​ແຜນ, ນະ​ໂຍບາຍ, ຍຸດ​ທະ​ສາດ ​ແລະ ການ​ຜັນ​ຂະຫຍາຍ​ການ​ຫັນ​ເປັນ​ດີ​ຈີ​ຕອນ, ດ້ວຍ​ການ​ຮ່ວມ​ມື. ການ​ຊ່ວຍ​ເຫຼືອ, ​ແລະ ສືບ​ທອດ​ຄວາມ​ຮູ້​ຂອງ​ບັນດາ​ນັກ​ຊ່ຽວຊານ, ນັກ​ຄຸ້ມ​ຄອງ, ນັກ​ວິ​ທະ​ຍາ​ສາດ, ນັກ​ທຸ​ລະ​ກິດ​ຫວຽດນາມ ຫຼາຍ​ຄົນ. ສະບັບນີ້ໄດ້ຮັບຄໍາຄຶດຄໍາເຫັນແລະຄໍາແນະນໍາສໍາລັບການດັດແກ້ແລະການປັບປຸງ. ພິ​ເສດ, ສະບັບ​ນີ້​ໄດ້​ເພີ່ມ​ຫຼາຍ​ບົດ​ເລື່ອງ​ການ​ຫັນປ່ຽນ​ດີ​ຈີ​ຕອນ​ຢູ່​ຫວຽດນາມ ​ແລະ ​ໃນ​ທົ່ວ​ໂລກ ​ແລະ 365 ຄຳ​ເວົ້າ​ກ່ຽວ​ກັບ​ການ​ຫັນປ່ຽນ​ດີ​ຈີ​ຕອນ.
1794 lượt xem
Định Hoá - Viên ngọc xanh của Thái Nguyên
Nhiều tác giả

Định Hoá - Viên ngọc xanh của Thái Nguyên

16055 lượt xem
Xây dựng mô hình hợp tác xã phù hợp về quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề chế biến nông - lâm sản
Hoàng Văn Long, TS. Nguyễn Tiến Định, ThS. Đỗ Phương Chi, ThS. Trần Hữu Quang, TS. Nguyễn Mạnh Cường
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta xác định giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đã có nhiều chủ trương, chính sách về xóa đói giảm nghèo, trong đó nhấn mạnh việc giảm nghèo thông tin, mong muốn góp phần đẩy mạnh tuyên truyền, thay đổi nhận thức về giảm nghèo của cán bộ, chính quyền các cấp và người dân. Ngày 02 tháng 9 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1722/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020”. Các dự án của chương trình có đề ra hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với người nghèo trong phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề, chế biến tiêu thụ sản phẩm. Sự phát triển sản xuất nghề đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn. Tuy nhiên, ngoài các mặt tích cực của làng nghề thì hoạt động sản xuất của làng nghề đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường. Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, nhất là các làng nghề chế biến nông - lâm sản, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả thuộc Viện Phát triển kinh tế hợp tác thuộc Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các chuyên gia xuất bản cuốn sách “Xây dựng mô hình hợp tác xã phù hợp về quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề chế biến nông - lâm sản”. Nội dung cuốn sách giới thiệu đến bạn đọc những thông tin tổng quan về tình hình ô nhiễm môi trường tại các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng; công tác quản lý, xử lý ô nhiễm môi trường; tình hình hợp tác xã tham gia quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường; hướng dẫn xây dựng hợp tác xã phù hợp về quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề chế biến nông - lâm sản để nâng cao vai trò, vị trí của các hợp tác xã trong quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, nhất là các làng nghề chế biến nông - lâm sản, góp phần xây dựng nông thôn mới vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm tới và giới thiệu một số công nghệ xử lý chất thải từ làng nghề chế biến nông - lâm sản, như nuôi giun trùn quế, trồng bèo tây, xử lý nước thải bằng than hoạt tính…
1925 lượt xem
Hành vi người tiêu dùng - Kiến thức cơ bản dành cho những người làm Marketing
TS. Nguyễn Thị Hoàng Yến

Chưa bao giờ, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế quốc dân của các quốc gia nói riêng lại diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. Trong những năm và thập niên tới, tình hình cạnh tranh cũng sẽ vẫn diễn ra với cường độ mạnh hơn, dữ dội hơn do các nước hầu hết sẽ tham gia vào WTO và việc sử dụng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan ngày càng được giảm thiểu bởi các quốc gia.
Trong bối cảnh như vậy, các công ty cần phải đưa ra các quyết định marketing kịp thời và chính xác. Để làm được điều đó, họ cần phải thực sự am hiểu về hành vi người tiêu dùng. Sự hiểu biết về hành vi người tiêu dùng sẽ cung cấp nền tảng cho những quyết định marketing của doanh nghiệp từ tầm chiến lược (chiến lược marketing) đến các hoạt động marketing tác nghiệp (các quyết định về phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị thị trường hay những quyết định marketing hỗn hợp…). Nói cách khác, tất cả các quyết định marketing sẽ có thể hiệu quả hơn nếu được đưa ra trên cơ sở một sự hiểu biết sâu sắc về hành vi người tiêu dùng. Chính vì lý do này, việc am hiểu những kiến thức cơ bản về hành vi người tiêu dùng là điều quan trọng với những người làm marketing.
Cuốn sách được biên soạn với mục đích cung cấp kiến thức cơ bản nhất về hành vi người tiêu dùng và những chỉ dẫn về vận dụng những hiểu biết này trong các quyết định marketing của doanh nghiệp cho những người làm marketing, đặc biệt những người mới bắt đầu vào nghề. Nội dung của cuốn sách gồm 5 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề chung về người tiêu dùng và hành vi người tiêu dùng
Chương 2: Khái niệm trọng tâm, mô hình và quyết định mua của người tiêu dùng
Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng
Chương 4: Hành vi người tiêu dùng trong môi trường số
Chương 5: Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng
Cuốn sách “Hành vi người tiêu dùng - Kiến thức cơ bản dành cho những người làm Marketing” được biên soạn trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu cả lý thuyết và thực tiễn về hành vi người tiêu dùng, tác giả hy vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo thực sự hấp dẫn cho những người làm marketing trong thực tiễn và sinh viên đang theo học ngành/chuyên ngành marketing.

6457 lượt xem
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia (1930 - 2020)
PGS TS Lê Đình Chỉnh
Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng gần gũi cùng chung sống lâu đời trên vùng bán đảo có nhiều điểm tương đồng về các yếu tố địa - chính trị, địa - lịch sử, địa - kinh tế và địa - văn hóa. Trải qua nhiều thập kỷ đấu tranh giành độc lập, tự do, hai dân tộc Việt Nam và Campuchia luôn nương tựa vào nhau, cùng đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh bên nhau vì sự tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc và cả hai dân tộc. Trong cách mạng dân tộc giai đoạn 1945-1975, mối quan hệ đoàn kết truyền thống Việt Nam - Campuchia tiếp tục được phát triển và nâng lên một bước mới, từng bước vượt qua mọi khó khăn, gian nan, thử thách, cùng đấu tranh chống xâm lược. Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) của Việt Nam; Cách mạng Campuchia toàn thắng ngày 17/4/1975; Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam ngày 30/4/1975 là kết quả của quá trình vận động cách mạng, đoàn kết gắn bó giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia trong cuộc đấu tranh cùng chống kẻ thù chung vì mục tiêu chung là giành tự do và độc lập cho cả hai dân tộc. Từ năm 1975 đến năm 1979, tập đoàn phản động Khmer đỏ do Pol Pot đứng đầu đã thực hiện chế độ diệt chủng ở Campuchia giết hại hàng triệu người dân vô tội. Đồng thời tập đoàn diệt chủng này còn cho quân tiến hành các cuộc tấn công xâm lược Việt Nam, tàn phá nhiều làng mạc, giết hại nhiều thường dân tại các tỉnh biên giới Tây Nam của Việt Nam. Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của mình, Việt Nam đã thực hiện cuộc chiến tranh tự vệ, nhanh chóng đập tan các cuộc xâm lược của tập đoàn diệt chủng Pol Pot, quét sạch chúng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, theo yêu cầu của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước và nhân dân Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Khi đề cập đến vấn đề này, Thủ tướng Hun Sen khẳng định: “Chúng ta có thể hỏi rằng trên thế giới này, có đất nước nào đã giúp nhân dân Campuchia, đặc biệt là giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn cản sự quay lại của chúng? Câu trả lời chính là nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dân Campuchia có niềm tin, chỉ có Tiên, có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu Tiên, Phật tới cứu thì Bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật”. Nhìn lại chặng đường gần thế kỷ (1930 - 2020), lịch sử đã chứng kiến sự gắn bó keo sơn, mật thiết giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước. Mối quan hệ truyền thống đoàn kết và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia không ngừng được củng cố và phát triển lên một tầm cao mới, đó chính là tài sản vô giá mà mỗi người dân ở hai nước hôm nay cần tiếp tục giữ gìn, vun đắp và bảo vệ. Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả do PGS, TS Lê Đình Chỉnh làm chủ biên biên soạn, xuất bản cuốn sách: Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia (1930 - 2020). Cuốn sách không chỉ cung cấp cho người đọc những hiểu biết một cách hệ thống về trang sử hào hùng của nhân dân hai nước trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, mà còn giúp người đọc hiểu được quá trình hồi sinh, xây dựng và phát triển của nhân dân Campuchia với sự giúp đỡ có hiệu quả của Việt Nam, sau khi thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot.
4354 lượt xem
Natural language processing - Approaches to natural language processing in multilingual context (Monograph)
The University of Danang, University of Technology and Education, Võ Trung Hùng

The book's content is organized into 7 chapters with the following contents:

- Chapter 1: Natural language processing.

- Chapter 2: Multilingualizing software based on automata.

- Chapter 3: N-grams and language recognition.

- Chapter 4: Vector space model and applications.

- Chapter 5: Dendrogram and applications.

- Chapter 6: UNL and multilingual automatic translation.

- Chapter 7: Deep learning and fake news detection.

5494 lượt xem
Đẩy mạnh đánh bắt hải sản trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững
TS. Đào Hữu Hòa

Biển Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) trải dài từ TP. Đà Nẵng đến Bình Thuận với chiều dài trên 1.000 km, trên biển có nhiều đảo lớn như: Đảo Phú Quý, Lý Sơn, Cù Lao Chàm và các quần đảo là: Hoàng Sa, Trường Sa. Sản lượng hải sản có thể khai thác ở mức bền vững của toàn vùng vào khoảng 350.000 - 400.000 tấn/năm, trong đó có nhiều loại hải sản quý hiếm như tôm hùm, bào ngư, cá ngừ đại dương… Trong những năm qua, hoạt động đánh bắt hải sản trên địa bàn khu vực DHNTB đã có những bước phát triển nhanh chóng. Sản lượng đánh bắt năm 2011 của toàn Vùng đạt khoảng 540 nghìn tấn, chiếm 31,5% so với cả nước. Thực tế cho thấy, ngành đánh bắt hải sản ở DHNTB, ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, nó còn mang lại hiệu quả tổng hợp trên nhiều mặt kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cho các địa phương trong vùng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc đánh bắt hải sản ở DHNTB vẫn còn rất nhiều bất cập cần giải quyết như: - Số phương tiện đánh bắt tăng quá nhanh nhưng đa số vẫn là vỏ gỗ, với động cơ chủ yếu là máy cũ tân trang. - Năng lực đánh bắt tăng nhanh trong khi trữ lượng hải sản không tăng đã làm cho năng suất đánh bắt giảm xuống nhanh chóng; - Tình trạng đánh bắt gần bờ bằng các phương pháp đánh bắt có tính chất tận diệt như kích điện, đánh thuốc nổ, “cào bay”... vẫn còn tồn tại, thậm chí có nơi còn gia tăng; - Các rủi ro về an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân do thiên tai, địch họa đang có xu hướng tăng và ngày càng diễn biến phức tạp nhưng chưa có biện pháp hiệu quả để khắc phục; - Việc quản lý chi phí đầu vào, đầu ra cho ngành đánh bắt hải sản vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ, các cấp chính quyền đến nay vẫn chưa có các giải pháp tổng thể để giải quyết vấn đề này; - Chưa có được một giải pháp toàn diện để giải quyết vấn đề quan hệ giữa phát triển đánh bắt hải sản và sử dụng nguồn lợi chung công bằng trong cộng đồng dân cư… Để tiếp tục phát triển hoạt động đánh bắt hải sản vùng DHNTB trong tương lai, đề tài nghiên cứu về “Đẩy mạnh đánh bắt hải sản trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững” của TS. Đào Hữu Hòa đã được xuất bản thành sách. Đề tài đã đánh giá được thực trạng, chỉ ra được nguyên nhân để có các biện pháp phù hợp nhằm khắc phục các hạn chế trên, đảm bảo cho việc đẩy mạnh hoạt động đánh bắt hải sản luôn gắn liền với yêu cầu phát triển bền vững tại mỗi địa phương. Đó cũng chính là nội dung của cuốn sách này. Hy vọng các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu sẽ tìm thấy nhiều tư liệu giá trị trong cuốn sách này.

1169 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.12/Q1)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.12/Q1)

930 lượt xem
Lò hơi trong sản xuất điện và trong công nghiệp -  Tập 2: Nhiên liệu - Sự cháy - Thiết bị đốt
PGS.TS Trương Duy Nghĩa

Nội dung trình bày những vấn đề lý thuyết và kỹ thuật cơ bản nhất về lò hơi, và cũng là những kiến thức chung cho cả lò hơi công nghiệp và lò hơi điện, để cho các kỹ sư tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Nhiệt, nhất là các kỹ sư không tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Nhiệt, đang công tác về lò hơi và lò đốt có thể tự học thêm để hiểu sâu các quá trình xảy ra trong lò. Một số kiến thức, một số chỉ tiêu thực tế rút ra từ kinh nghiệm vận hành, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sách. Cuối sách có các bài đọc thêm, ngắn gọn, nhằm làm rõ hơn, mở rộng hơn các nội dung trình bày trong chương, được hiểu như là các nội dung tham khảo.

Cuốn sách được dùng làm sách giáo khoa cho sinh viên các ngành Kỹ thuật nhiệt khi học môn học lò hơi, khi thực hiện các tính toán, thiết kế về lò hơi, đồng thời cũng là sách tham khảo cho các kỹ sư công tác về lò hơi, lò đốt.

837 lượt xem
Lê Doãn Hợp - 100 điều đúc rút từ thực tiễn
Lê Doãn Hợp

Đời người thường kinh qua 4 giai đoạn: Trước 20 tuổi là giai đoạn học hỏi; Từ 20 đến 40 tuổi là giai đoạn trải nghiệm; Từ 40 đến 60 tuổi là giai đoạn thực nghiệm; Sau 60 tuổi là giai đoạn chiêm nghiệm. “Lê Doãn Hợp - 100 điều đúc rút từ thực tiễn” là những gì tác giả chắt lọc qua 4 giai đoạn đó. Nội dung cuốn sách gồm 100 điều mà tác giả đúc rút từ thực tiễn cuộc đời, qua nhiều cương vị công tác của ông. Hy vọng nhưng kinh nghiệm này sẽ có ích với bạn đọc, cả cho bản thân, cho công việc và trong cuộc sống nói chung.

1781 lượt xem
Proceedings The 7th International conference Language Social and Culture in Asian Context (LSCAC 2024)
Nhiều tác giả

The emergence of artificial intelligence and digital technology has profoundly changed Asian cultural and social values, becoming one of the most concerned topics today in Vietnam as well as in the world. In response to that practical requirement, from November 22 to 24, 2024, the Institute of Cultural Anthropology, Hanoi, in collaboration with Hue College, Malang National University, Indonesia, Hyderabad University, India, and Mahasarakham University, Thailand, organized the 7th International Conference on Asian Culture and Society in the Digital Context (with the general theme of “Language, Society, and Culture in Asian Contexts - LSCAC 2024”).

The College of Hue is honored to host the 7th international conference on Language, Society, and Culture in Asian Contexts in Hue city. The main objective of this conference is to analyze the impact of digital technology in the comprehensive application and development of Asian society and culture. It also identifies the characteristics that constitute the strength of Asian society, such as its multicultural and multilingual social structure, diversity, and resilience of these countries.

6115 lượt xem
Đảng bộ Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhiệm kỳ 2020 - 2025: Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, sáng tạo, phát triển
Đảng bộ Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Cuốn sách ghi lại một cách sinh động, chân thực và toàn diện những dấu ấn tiêu biểu trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 của Đảng bộ Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Qua từng hình ảnh, từng khoảnh khắc, thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên, niềm đam mê học thuật và sự tận tụy cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Cuốn sách không chỉ là sự phản ánh trung thực hành trình phát triển, mà còn là sự khẳng định bản lĩnh chính trị, trí tuệ tập thể và tinh thần phụng sự đất nước bằng tri thức và lý tưởng cộng sản. Đây cũng là một tài liệu có giá trị tuyên truyền, giáo dục sâu sắc về vai trò, vị thế và tầm ảnh hưởng của Đảng bộ Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trong công cuộc đổi mới, phát triển khoa học xã hội nước nhà.

3216 lượt xem
Việt Nam - Campuchia: Sự tương đồng giữa hai nền văn hóa
TS. Nguyễn Phương Liên
Con người từ buổi sơ khai đã sinh ra và tồn tại ở khắp nơi trên Trái đất, để có thể sinh tồn, theo một cách rất bản năng, họ kết lại thành bầy đàn để tự vệ cũng như lao động sản xuất. Từ sự tự phát bản năng ấy, các nhóm cùng tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ, cùng lao động, tích lũy, làm giàu cho bản thân và cộng đồng. Song hành cùng quá trình đó chính là sự tự ý thức về chủ quyền, quyền lực ngày càng rõ ràng hơn. Quá trình tất yếu tiếp theo chính là nhu cầu về sự mở rộng phạm vi sống, chinh phục những miền đất mới và làm giàu tích lũy. Sự chia cắt, sáp nhập, di dời, lưu vong đã tạo ra những biến cố liên tục dẫn đến những thay đổi tất yếu và thường xuyên trong cộng đồng người. Để có thể vượt qua các mâu thuẫn nảy sinh đó, con người chọn cách gắn kết chặt chẽ lại với nhau và phân biệt nhau không chỉ trên lãnh thổ. Điều này nghĩa là gì? Văn hóa được tạo ra không phải sự tách biệt, riêng biệt, mà nó là sản phẩm của sự sáng tạo trong quá trình phát triển và văn hóa cũng chính là một dạng “cương vực, lãnh thổ” bởi nó mang đặc trưng dân tộc, hay căn tính dân tộc. Căn tính dân tộc là một phạm trù có tính lịch sử của tồn tại xã hội, được xác lập trên cơ sở những đặc điểm của hiện hữu khách quan ban đầu khi cộng đồng mới hình thành và vẫn tiếp tục thay đổi, ổn định trong quá trình cộng đồng đó vận động, phát triển. Căn tính của một dân tộc được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại, do đó, nó đại diện cho một nhóm người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định. Như vậy, văn hóa chính là một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc. Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy. Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định. Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang những căn tính riêng thuộc về mặt sẵn có, tuy nhiên, mặt khác nó tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên và sinh tồn. Căn tính cá nhân đó ảnh hưởng từ phạm vi nhỏ là cộng đồng gia đình, đến phạm vi lớn là cộng đồng dân tộc. Hiếm có dân tộc nào cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn thành phần tộc người, phạm vi lãnh thổ, hình thái xã hội như buổi sơ khai con người tìm đến với nhau và quyết định chia sẻ môi sinh, tài nguyên thiên nhiên và quyền lợi tập thể. Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong bài viết “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 1/1986 đã khẳng định rằng: “Cho nên, tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc,… mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc”. Điều mà nhà nghiên cứu muốn chỉ ra ở đây là vốn văn hóa dân tộc không được xác lập ngay vào thời kì định hình mà là cái được ổn định dần qua thời gian cho đến trước thời cận hiện đại. Bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc của một đất nước đang phát triển như Việt Nam vẫn đang tiếp tục thay đổi và ổn định trước công cuộc mở cửa và hội nhập như vũ bão của thời đại toàn cầu hóa. Bên cạnh chúng ta, người Khmer với quốc gia mang tên Campuchia hiện nay cũng đang từng bước vững chắc phục hưng nền văn hóa trong văn minh lâu đời của chính mình như sức mạnh để vươn tới vị trí cao hơn sau những khủng hoảng về chính trị đã cách xa gần nửa thế kỷ.
2347 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.15)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.15)

1170 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.13-Q2)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.13-Q2)

1512 lượt xem