Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Ấn phẩm này tập hợp những công trình tiêu biểu phản ánh niềm đam mê khám phá tri thức và sự nghiêm túc trong phương pháp nghiên cứu của sinh viên, đồng thời lan tỏa tinh thần nghiên cứu, sáng tạo và hội nhập quốc tế - những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc của Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
Đời người thường kinh qua 4 giai đoạn: Trước 20 tuổi là giai đoạn học hỏi; Từ 20 đến 40 tuổi là giai đoạn trải nghiệm; Từ 40 đến 60 tuổi là giai đoạn thực nghiệm; Sau 60 tuổi là giai đoạn chiêm nghiệm. “Lê Doãn Hợp - 100 điều đúc rút từ thực tiễn” là những gì tác giả chắt lọc qua 4 giai đoạn đó. Nội dung cuốn sách gồm 100 điều mà tác giả đúc rút từ thực tiễn cuộc đời, qua nhiều cương vị công tác của ông. Hy vọng nhưng kinh nghiệm này sẽ có ích với bạn đọc, cả cho bản thân, cho công việc và trong cuộc sống nói chung.
The emergence of artificial intelligence and digital technology has profoundly changed Asian cultural and social values, becoming one of the most concerned topics today in Vietnam as well as in the world. In response to that practical requirement, from November 22 to 24, 2024, the Institute of Cultural Anthropology, Hanoi, in collaboration with Hue College, Malang National University, Indonesia, Hyderabad University, India, and Mahasarakham University, Thailand, organized the 7th International Conference on Asian Culture and Society in the Digital Context (with the general theme of “Language, Society, and Culture in Asian Contexts - LSCAC 2024”).
The College of Hue is honored to host the 7th international conference on Language, Society, and Culture in Asian Contexts in Hue city. The main objective of this conference is to analyze the impact of digital technology in the comprehensive application and development of Asian society and culture. It also identifies the characteristics that constitute the strength of Asian society, such as its multicultural and multilingual social structure, diversity, and resilience of these countries.
Nội dung cuốn sách này được dùng làm sách giáo khoa cho sinh viên các ngành Kỹ thuật nhiệt khi học môn học lò hơi, khi thực hiện các tính toán, thiết kế về lò hơi, đồng thời cũng là sách tham khảo cho các kỹ sư công tác về lò hơi, lò đốt. Nội dung trình bày những vấn đề lý thuyết và kỹ thuật cơ bản nhất về lò hơi, và cũng là những kiến thức chung cho cả lò hơi công nghiệp và lò hơi điện, để cho các kỹ sư tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Nhiệt, nhất là các kỹ sư không tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Nhiệt, đang công tác về lò hơi và lò đốt có thể tự học thêm để hiểu sâu các quá trình xảy ra trong lò. Một số kiến thức, một số chỉ tiêu thực tế rút ra từ kinh nghiệm vận hành, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sách. Cuối sách có các bài đọc thêm, ngắn gọn, nhằm làm rõ hơn, mở rộng hơn các nội dung trình bày trong chương, được hiểu như là các nội dung tham khảo.
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.09 - Q1)
Kỷ yếu hội thảo khoa học An ninh phi truyền thống, cơ hội và thách thức đối với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.04)
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.11-Q1)
Báo cáo tình hình ứng dụng và phát triển chữ ký số tại Việt Nam năm 2024 cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình ứng dụng chữ ký số trong các hoạt động của các bộ, ngành, doanh nghiệp dựa trên cơ sở thông tin và số liệu cập nhật của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Ban Cơ yếu Chính phủ; Tổng cục Thuế; Tổng cục Hải quan; Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Kho bạc Nhà nước; Cục Quản lý đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng của cơ quan, tổ chức.
Chưa bao giờ, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế quốc dân của các quốc gia nói riêng lại diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. Trong những năm và thập niên tới, tình hình cạnh tranh cũng sẽ vẫn diễn ra với cường độ mạnh hơn, dữ dội hơn do các nước hầu hết sẽ tham gia vào WTO và việc sử dụng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan ngày càng được giảm thiểu bởi các quốc gia.
Trong bối cảnh như vậy, các công ty cần phải đưa ra các quyết định marketing kịp thời và chính xác. Để làm được điều đó, họ cần phải thực sự am hiểu về hành vi người tiêu dùng. Sự hiểu biết về hành vi người tiêu dùng sẽ cung cấp nền tảng cho những quyết định marketing của doanh nghiệp từ tầm chiến lược (chiến lược marketing) đến các hoạt động marketing tác nghiệp (các quyết định về phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị thị trường hay những quyết định marketing hỗn hợp…). Nói cách khác, tất cả các quyết định marketing sẽ có thể hiệu quả hơn nếu được đưa ra trên cơ sở một sự hiểu biết sâu sắc về hành vi người tiêu dùng. Chính vì lý do này, việc am hiểu những kiến thức cơ bản về hành vi người tiêu dùng là điều quan trọng với những người làm marketing.
Cuốn sách được biên soạn với mục đích cung cấp kiến thức cơ bản nhất về hành vi người tiêu dùng và những chỉ dẫn về vận dụng những hiểu biết này trong các quyết định marketing của doanh nghiệp cho những người làm marketing, đặc biệt những người mới bắt đầu vào nghề. Nội dung của cuốn sách gồm 5 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề chung về người tiêu dùng và hành vi người tiêu dùng
Chương 2: Khái niệm trọng tâm, mô hình và quyết định mua của người tiêu dùng
Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng
Chương 4: Hành vi người tiêu dùng trong môi trường số
Chương 5: Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng
Cuốn sách “Hành vi người tiêu dùng - Kiến thức cơ bản dành cho những người làm Marketing” được biên soạn trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu cả lý thuyết và thực tiễn về hành vi người tiêu dùng, tác giả hy vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo thực sự hấp dẫn cho những người làm marketing trong thực tiễn và sinh viên đang theo học ngành/chuyên ngành marketing.
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.12-Q2)
Biển Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) trải dài từ TP. Đà Nẵng đến Bình Thuận với chiều dài trên 1.000 km, trên biển có nhiều đảo lớn như: Đảo Phú Quý, Lý Sơn, Cù Lao Chàm và các quần đảo là: Hoàng Sa, Trường Sa. Sản lượng hải sản có thể khai thác ở mức bền vững của toàn vùng vào khoảng 350.000 - 400.000 tấn/năm, trong đó có nhiều loại hải sản quý hiếm như tôm hùm, bào ngư, cá ngừ đại dương… Trong những năm qua, hoạt động đánh bắt hải sản trên địa bàn khu vực DHNTB đã có những bước phát triển nhanh chóng. Sản lượng đánh bắt năm 2011 của toàn Vùng đạt khoảng 540 nghìn tấn, chiếm 31,5% so với cả nước. Thực tế cho thấy, ngành đánh bắt hải sản ở DHNTB, ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, nó còn mang lại hiệu quả tổng hợp trên nhiều mặt kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cho các địa phương trong vùng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc đánh bắt hải sản ở DHNTB vẫn còn rất nhiều bất cập cần giải quyết như: - Số phương tiện đánh bắt tăng quá nhanh nhưng đa số vẫn là vỏ gỗ, với động cơ chủ yếu là máy cũ tân trang. - Năng lực đánh bắt tăng nhanh trong khi trữ lượng hải sản không tăng đã làm cho năng suất đánh bắt giảm xuống nhanh chóng; - Tình trạng đánh bắt gần bờ bằng các phương pháp đánh bắt có tính chất tận diệt như kích điện, đánh thuốc nổ, “cào bay”... vẫn còn tồn tại, thậm chí có nơi còn gia tăng; - Các rủi ro về an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân do thiên tai, địch họa đang có xu hướng tăng và ngày càng diễn biến phức tạp nhưng chưa có biện pháp hiệu quả để khắc phục; - Việc quản lý chi phí đầu vào, đầu ra cho ngành đánh bắt hải sản vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ, các cấp chính quyền đến nay vẫn chưa có các giải pháp tổng thể để giải quyết vấn đề này; - Chưa có được một giải pháp toàn diện để giải quyết vấn đề quan hệ giữa phát triển đánh bắt hải sản và sử dụng nguồn lợi chung công bằng trong cộng đồng dân cư… Để tiếp tục phát triển hoạt động đánh bắt hải sản vùng DHNTB trong tương lai, đề tài nghiên cứu về “Đẩy mạnh đánh bắt hải sản trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững” của TS. Đào Hữu Hòa đã được xuất bản thành sách. Đề tài đã đánh giá được thực trạng, chỉ ra được nguyên nhân để có các biện pháp phù hợp nhằm khắc phục các hạn chế trên, đảm bảo cho việc đẩy mạnh hoạt động đánh bắt hải sản luôn gắn liền với yêu cầu phát triển bền vững tại mỗi địa phương. Đó cũng chính là nội dung của cuốn sách này. Hy vọng các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu sẽ tìm thấy nhiều tư liệu giá trị trong cuốn sách này.