Ấn phẩm khác
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.08/Q2)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.08/Q2)

1184 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.09/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.09/Q2)

792 lượt xem
Cuộc đời và sự nghiệp của một số nhà toán học nổi tiếng
GS TSKH. Nguyễn Duy Tiến
Cuốn sách là những câu chuyện hay, những kỷ niệm đáng nhớ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn cuộc đời cũng như sự nghiệp của một số nhà toán học Việt Nam và trên thế giới, cụ thể nội dung như sau: - Nội dung cuốn sách đi sâu vào những điểm mạnh và yếuc ủa nền Toán học Việt Nam. Vì thế, bài mở đầu của cuốn sách là chỉ số ISI và chỉ số H, các chỉ số này cho ta biết chất lượng công trình khoa học tốt hay không tốt. - Kể chuyện về các nhà toán học là thầy giáo của tôi, GS. Hoàng Tụy, GS. Hoàng Hữu Như, GS. Nguyễn Bác Văn, GS. Hoàng Hữu Đường. Những điều tôi kể trong sách này đều là những câu chuyện có thật, không hề hư cấu. - Thể hiện về tình cảm của tôi đối với những nhà Toán học Quốc tế như GS. Laurent Schwartz, là một trong những nhà toán học có công lao to lớn đối với nền Toán học Việt Nam.
1144 lượt xem
Hành vi người tiêu dùng - Kiến thức cơ bản dành cho những người làm Marketing
TS. Nguyễn Thị Hoàng Yến

Chưa bao giờ, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế quốc dân của các quốc gia nói riêng lại diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. Trong những năm và thập niên tới, tình hình cạnh tranh cũng sẽ vẫn diễn ra với cường độ mạnh hơn, dữ dội hơn do các nước hầu hết sẽ tham gia vào WTO và việc sử dụng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan ngày càng được giảm thiểu bởi các quốc gia.
Trong bối cảnh như vậy, các công ty cần phải đưa ra các quyết định marketing kịp thời và chính xác. Để làm được điều đó, họ cần phải thực sự am hiểu về hành vi người tiêu dùng. Sự hiểu biết về hành vi người tiêu dùng sẽ cung cấp nền tảng cho những quyết định marketing của doanh nghiệp từ tầm chiến lược (chiến lược marketing) đến các hoạt động marketing tác nghiệp (các quyết định về phân đoạn thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị thị trường hay những quyết định marketing hỗn hợp…). Nói cách khác, tất cả các quyết định marketing sẽ có thể hiệu quả hơn nếu được đưa ra trên cơ sở một sự hiểu biết sâu sắc về hành vi người tiêu dùng. Chính vì lý do này, việc am hiểu những kiến thức cơ bản về hành vi người tiêu dùng là điều quan trọng với những người làm marketing.
Cuốn sách được biên soạn với mục đích cung cấp kiến thức cơ bản nhất về hành vi người tiêu dùng và những chỉ dẫn về vận dụng những hiểu biết này trong các quyết định marketing của doanh nghiệp cho những người làm marketing, đặc biệt những người mới bắt đầu vào nghề. Nội dung của cuốn sách gồm 5 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề chung về người tiêu dùng và hành vi người tiêu dùng
Chương 2: Khái niệm trọng tâm, mô hình và quyết định mua của người tiêu dùng
Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng
Chương 4: Hành vi người tiêu dùng trong môi trường số
Chương 5: Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng
Cuốn sách “Hành vi người tiêu dùng - Kiến thức cơ bản dành cho những người làm Marketing” được biên soạn trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu cả lý thuyết và thực tiễn về hành vi người tiêu dùng, tác giả hy vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo thực sự hấp dẫn cho những người làm marketing trong thực tiễn và sinh viên đang theo học ngành/chuyên ngành marketing.

4661 lượt xem
IWAMSN 2024 - The 11th International Workshop on Advanced Materials Science and Nanotechnology Proceedings
Vietnam Academy of Science and Technology

TOPICS OF THE WORKSHOP

1. Materials for Electronics and Photonics (code: MEP)

2. Nanostructured Materials and Devices (code: NMD)

3. Materials and Technologies for Green Energy and Decarbonization (code: MED)

4. Materials and Nanotechnologies for Life Sciences (code: MLS)

5. Materials and Ecological Technologies for Environment (code: MEE)

6. Advanced Engineering Materials (code: AEM)

7. Materials Data and Machine Learning (code: MDM)

4228 lượt xem
Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn (1947 – 2025)
Đảng bộ tỉnh Lào Cai, Ban Chấp hành đảng bộ huyện Văn Bàn

Cuốn sách Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn (1947-2025) ghi lại quá trình ra đời, phát triển và trưởng thành của Đảng bộ huyện qua 78 năm lịch sử đầy gian khổ mà vẻ vang. Từ thời kháng chiến, khắc phục hậu quả chiến tranh đến thời xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ luôn khẳng định vai trò lãnh đạo, đưa phong trào cách mạng của huyện từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cuốn sách phản ánh sức mạnh của Đảng, truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc, đồng thời khích lệ thế hệ sau tiếp nối truyền thống quý báu này.

3895 lượt xem
Việt Nam - Campuchia: Sự tương đồng giữa hai nền văn hóa
TS. Nguyễn Phương Liên
Con người từ buổi sơ khai đã sinh ra và tồn tại ở khắp nơi trên Trái đất, để có thể sinh tồn, theo một cách rất bản năng, họ kết lại thành bầy đàn để tự vệ cũng như lao động sản xuất. Từ sự tự phát bản năng ấy, các nhóm cùng tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ, cùng lao động, tích lũy, làm giàu cho bản thân và cộng đồng. Song hành cùng quá trình đó chính là sự tự ý thức về chủ quyền, quyền lực ngày càng rõ ràng hơn. Quá trình tất yếu tiếp theo chính là nhu cầu về sự mở rộng phạm vi sống, chinh phục những miền đất mới và làm giàu tích lũy. Sự chia cắt, sáp nhập, di dời, lưu vong đã tạo ra những biến cố liên tục dẫn đến những thay đổi tất yếu và thường xuyên trong cộng đồng người. Để có thể vượt qua các mâu thuẫn nảy sinh đó, con người chọn cách gắn kết chặt chẽ lại với nhau và phân biệt nhau không chỉ trên lãnh thổ. Điều này nghĩa là gì? Văn hóa được tạo ra không phải sự tách biệt, riêng biệt, mà nó là sản phẩm của sự sáng tạo trong quá trình phát triển và văn hóa cũng chính là một dạng “cương vực, lãnh thổ” bởi nó mang đặc trưng dân tộc, hay căn tính dân tộc. Căn tính dân tộc là một phạm trù có tính lịch sử của tồn tại xã hội, được xác lập trên cơ sở những đặc điểm của hiện hữu khách quan ban đầu khi cộng đồng mới hình thành và vẫn tiếp tục thay đổi, ổn định trong quá trình cộng đồng đó vận động, phát triển. Căn tính của một dân tộc được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại, do đó, nó đại diện cho một nhóm người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định. Như vậy, văn hóa chính là một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc. Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy. Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định. Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang những căn tính riêng thuộc về mặt sẵn có, tuy nhiên, mặt khác nó tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên và sinh tồn. Căn tính cá nhân đó ảnh hưởng từ phạm vi nhỏ là cộng đồng gia đình, đến phạm vi lớn là cộng đồng dân tộc. Hiếm có dân tộc nào cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn thành phần tộc người, phạm vi lãnh thổ, hình thái xã hội như buổi sơ khai con người tìm đến với nhau và quyết định chia sẻ môi sinh, tài nguyên thiên nhiên và quyền lợi tập thể. Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong bài viết “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 1/1986 đã khẳng định rằng: “Cho nên, tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc,… mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc”. Điều mà nhà nghiên cứu muốn chỉ ra ở đây là vốn văn hóa dân tộc không được xác lập ngay vào thời kì định hình mà là cái được ổn định dần qua thời gian cho đến trước thời cận hiện đại. Bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc của một đất nước đang phát triển như Việt Nam vẫn đang tiếp tục thay đổi và ổn định trước công cuộc mở cửa và hội nhập như vũ bão của thời đại toàn cầu hóa. Bên cạnh chúng ta, người Khmer với quốc gia mang tên Campuchia hiện nay cũng đang từng bước vững chắc phục hưng nền văn hóa trong văn minh lâu đời của chính mình như sức mạnh để vươn tới vị trí cao hơn sau những khủng hoảng về chính trị đã cách xa gần nửa thế kỷ.
1962 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.05/Q1)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.05/Q1)

973 lượt xem
Proceedings The 7th International conference Language Social and Culture in Asian Context (LSCAC 2024)
Nhiều tác giả

The emergence of artificial intelligence and digital technology has profoundly changed Asian cultural and social values, becoming one of the most concerned topics today in Vietnam as well as in the world. In response to that practical requirement, from November 22 to 24, 2024, the Institute of Cultural Anthropology, Hanoi, in collaboration with Hue College, Malang National University, Indonesia, Hyderabad University, India, and Mahasarakham University, Thailand, organized the 7th International Conference on Asian Culture and Society in the Digital Context (with the general theme of “Language, Society, and Culture in Asian Contexts - LSCAC 2024”).

The College of Hue is honored to host the 7th international conference on Language, Society, and Culture in Asian Contexts in Hue city. The main objective of this conference is to analyze the impact of digital technology in the comprehensive application and development of Asian society and culture. It also identifies the characteristics that constitute the strength of Asian society, such as its multicultural and multilingual social structure, diversity, and resilience of these countries.

4336 lượt xem
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia (1930 - 2020)
PGS TS Lê Đình Chỉnh
Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng gần gũi cùng chung sống lâu đời trên vùng bán đảo có nhiều điểm tương đồng về các yếu tố địa - chính trị, địa - lịch sử, địa - kinh tế và địa - văn hóa. Trải qua nhiều thập kỷ đấu tranh giành độc lập, tự do, hai dân tộc Việt Nam và Campuchia luôn nương tựa vào nhau, cùng đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh bên nhau vì sự tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc và cả hai dân tộc. Trong cách mạng dân tộc giai đoạn 1945-1975, mối quan hệ đoàn kết truyền thống Việt Nam - Campuchia tiếp tục được phát triển và nâng lên một bước mới, từng bước vượt qua mọi khó khăn, gian nan, thử thách, cùng đấu tranh chống xâm lược. Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) của Việt Nam; Cách mạng Campuchia toàn thắng ngày 17/4/1975; Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam ngày 30/4/1975 là kết quả của quá trình vận động cách mạng, đoàn kết gắn bó giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia trong cuộc đấu tranh cùng chống kẻ thù chung vì mục tiêu chung là giành tự do và độc lập cho cả hai dân tộc. Từ năm 1975 đến năm 1979, tập đoàn phản động Khmer đỏ do Pol Pot đứng đầu đã thực hiện chế độ diệt chủng ở Campuchia giết hại hàng triệu người dân vô tội. Đồng thời tập đoàn diệt chủng này còn cho quân tiến hành các cuộc tấn công xâm lược Việt Nam, tàn phá nhiều làng mạc, giết hại nhiều thường dân tại các tỉnh biên giới Tây Nam của Việt Nam. Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của mình, Việt Nam đã thực hiện cuộc chiến tranh tự vệ, nhanh chóng đập tan các cuộc xâm lược của tập đoàn diệt chủng Pol Pot, quét sạch chúng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, theo yêu cầu của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước và nhân dân Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Khi đề cập đến vấn đề này, Thủ tướng Hun Sen khẳng định: “Chúng ta có thể hỏi rằng trên thế giới này, có đất nước nào đã giúp nhân dân Campuchia, đặc biệt là giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn cản sự quay lại của chúng? Câu trả lời chính là nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dân Campuchia có niềm tin, chỉ có Tiên, có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu Tiên, Phật tới cứu thì Bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật”. Nhìn lại chặng đường gần thế kỷ (1930 - 2020), lịch sử đã chứng kiến sự gắn bó keo sơn, mật thiết giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước. Mối quan hệ truyền thống đoàn kết và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia không ngừng được củng cố và phát triển lên một tầm cao mới, đó chính là tài sản vô giá mà mỗi người dân ở hai nước hôm nay cần tiếp tục giữ gìn, vun đắp và bảo vệ. Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả do PGS, TS Lê Đình Chỉnh làm chủ biên biên soạn, xuất bản cuốn sách: Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia (1930 - 2020). Cuốn sách không chỉ cung cấp cho người đọc những hiểu biết một cách hệ thống về trang sử hào hùng của nhân dân hai nước trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, mà còn giúp người đọc hiểu được quá trình hồi sinh, xây dựng và phát triển của nhân dân Campuchia với sự giúp đỡ có hiệu quả của Việt Nam, sau khi thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot.
3890 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.11)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.11)

857 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.07)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.07)

866 lượt xem
Thông tin và Truyền thông số Tết Xuân Ất Tỵ 2025
Sở Thông tin và Truyền thông Phú Thọ

Nội dung ấn phẩm giới thiệu các hoạt động và những sự kiện nổi bật của ngành Thông tin và Truyền thông Phú Thọ trong năm 2024

3173 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.02)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.02)

1040 lượt xem
Cẩm nang chuyển đổi số
Bộ Thông tin và Truyền thông

Cuốn Cẩm nang này được xây dựng trên cơ sở các bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng, thực tiễn của những người đã trăn trở, đã trực tiếp tham gia hoạch định cơ chế, chính sách, chiến lược và thực thi chuyển đổi số, với sự chung tay, giúp sức, kế thừa tri thức của nhiều chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nhân Việt Nam. Lần tái bản này đã tiếp thu các ý kiến phản hồi, góp ý để chỉnh sửa, cập nhật. Đặc biệt, lần tái bản này bổ sung thêm nhiều câu chuyện chuyển đổi số ở Việt Nam, trên thế giới và 365 câu trích dẫn về chuyển đổi số.

2671 lượt xem
Behind the myth of ‘Business Partnerships’ vulnerable app-based drivers in urgent need of legal protection in Vietnam
Do Hai Ha Et al., Friedrich-Ebert-Stiftung

This report highlights the precarious working conditions and vulnerability of app-based motorbike drivers in Viet Nam and their linkage with an outdated labour law framework. It not only pinpoints the problems, but also considers solutions to enhancing legal protection for platform drivers, taking into consideration regulatory innovations around the world and the unique context of Viet Nam. Data collection was undertaken between 2019 and 2023. This consisted of a quantitative survey of workers from four major ride-hailing and delivery platforms, conducted in Ho Chi Minh City (HCMC) between February and March 2021. From May 2019 to August 2023, the researchers also interviewed and re-interviewed  50 workers and 15 other actors, including company managers, union cadres, state officials, and labour law experts. Moreover, data for this research was drawn from observations made by the researchers and surveyors during their conversations with workers and participation in workers’ Facebook groups. Finally, the research analysed numerous documents including-among other thingsplatforms’ contracts, policies, and documents; statutory laws; administrative regulations; court judgments; government papers and reports; academic works; and newspaper articles. These documents were collected until October 2023. The authors would like to express their deep appreciation to the Friedrich-Ebert-Stiftung (FES) for funding this major project. We are particularly indebted to Axel Blaschke, Timo Rinke, Nguyen Thi Ha Giang, Nguyen Thanh Thuy, and Pham Hung Son for their patience, support, and valuable advice throughout the project. Our gratitude also goes to the people involved in data collection, especially the interviewees and surveyors. We appreciate Dr. Do Quynh Chi, Dr. Pham Sy Thanh, and participants in the webinar on Labour Research in Digital Platforms in Viet Nam organised by the Southern Institute of Social Sciences, FES,  and the Viet Nam Labour Research Network in October 2021 for their insightful feedback on our early work. Last, but not least, special thanks go to Laurence Newman and Simon Drought for their proofreading. All errors are ours. 

1850 lượt xem