Ấn phẩm khác
Natural language processing - Approaches to natural language processing in multilingual context (Monograph)
The University of Danang, University of Technology and Education, Võ Trung Hùng

The book's content is organized into 7 chapters with the following contents:

- Chapter 1: Natural language processing.

- Chapter 2: Multilingualizing software based on automata.

- Chapter 3: N-grams and language recognition.

- Chapter 4: Vector space model and applications.

- Chapter 5: Dendrogram and applications.

- Chapter 6: UNL and multilingual automatic translation.

- Chapter 7: Deep learning and fake news detection.

5460 lượt xem
Cẩm nang chuyển đổi số
Bộ Thông tin và Truyền thông

Cuốn Cẩm nang này được xây dựng trên cơ sở các bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng, thực tiễn của những người đã trăn trở, đã trực tiếp tham gia hoạch định cơ chế, chính sách, chiến lược và thực thi chuyển đổi số, với sự chung tay, giúp sức, kế thừa tri thức của nhiều chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nhân Việt Nam. Lần tái bản này đã tiếp thu các ý kiến phản hồi, góp ý để chỉnh sửa, cập nhật. Đặc biệt, lần tái bản này bổ sung thêm nhiều câu chuyện chuyển đổi số ở Việt Nam, trên thế giới và 365 câu trích dẫn về chuyển đổi số.

3127 lượt xem
ADVANCES IN THE EARTH, MINING  AND ENVIRONMENTAL SCIENCES FOR SAFE  AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT  Volume 1: Advanced Technologies and Artificial Intelligence in the Earth and Environmental Sciences
VNU University of Science, Vietnam National University, Hanoi, The State Council for Professorship, Interdisciplinary Professor Council of the Earth and Mining Sciences

Foreword

In an era where technology and artificial intelligence (AI) are rapidly reshaping scientific disciplines, the fields of the Earth and environmental sciences, and geotechnical engineering are experiencing unprecedented advancements. This book, Advanced Technologies and Artificial Intelligence in the Earth and Environmental Sciences, marks the inaugural volume in the series Advances in the Earth, Mining and Environmental Sciences for Safe and Sustainable Development. It features a selection of high-quality research papers presented at the GeoAI2024 International Conference.

This publication represents the collaborative efforts of VNU University of Science, Vietnam National University, Hanoi, the Interdisciplinary Professor Council of the Earth and Mining Sciences, and a broad network of esteemed institutions and organizations, including the Vietnam Union of Geological Sciences, Vietnam Association of Engineering Geology and Environment, Institute of Geological Sciences - Vietnam Academy of Science and Technology, Norwegian Geotechnical Institute, Vietnam Atomic Energy Institute, Hanoi University of Mining and Geology, and Dong Nai Technology University.

The support and cooperation of these institutions have been instrumental in bringing this volume to fruition.

This book represents a focused exploration of the transformative role of technology and AI in addressing critical challenges in sustainability and environmental resilience. The content is organized into three thematic sections: Part 1: Earth Technology and Geotechnical Engineering This section explores innovative methods for addressing geotechnical and geological challenges with a focus on sustainability, resilience, and safety. The studies of this part demonstrate how modern technologies and engineering can advance infrastructural development while minimizing environmental risks.

Part 2: Environment and Recycled Materials This section addresses environmental challenges through creative approaches, including pollution control, resource recovery, and sustainable materials. The research in this part highlights innovative ways to restore and protect the environment, contributing to a more sustainable future.

Part 3: Digital Transformation and GeoAI The final section demonstrates the transformative power of AI, machine learning, and digital technologies in the Earth and environmental sciences. Contributions cover a wide spectrum of applications, including IoT-based environmental monitoring and AI-assisted disaster detection. This section exemplifies the role of GeoAI in reshaping our understanding of natural processes and improving decision-making for sustainable development.

We express our sincere gratitude to the authors, researchers, and practitioners whose works have shaped this volume. Special thanks go to the GeoAI2024 International Conference, which provided a vibrant platform for collaboration, innovation, and knowledge exchange. The collective efforts of contributors and organizers have ensured that this book captures the forefront of technological innovation in the Earth and environmental sciences.

This volume aims to inspire researchers, practitioners, and policymakers, encouraging them to explore and implement advanced technologies and AI in tackling some of the most pressing challenges of our time. As the inaugural volume in the book series, it sets the stage for future explorations into the intersections of the Earth and environmental sciences.

We hope the insights shared in this book will contribute to advancing global efforts toward safe and sustainable development.

Editorial Board

2932 lượt xem
Kỹ năng đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động
Bùi Hữu Hạnh, Phạm Huy Quang

Sức khỏe là vốn quý báu nhất của mỗi con người, chỉ khi có sức khỏe chúng ta mới có thể lao động, cống hiến và làm những việc có ích cho người thân, gia đình và xã hội. Hơn nữa “sức khỏe và sinh mạng” của người lao động là tài sản vô giá không chỉ của riêng bản thân, gia đình các bạn mà còn là tài sản không có gì thay thế được của các tổ chức lao động và của xã hội nói chung vì vậy, “an toàn, vệ sinh lao động” là một trong những công tác hàng đầu mà các công ty, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động đặc biệt quan tâm. Với ý nghĩa thiết thực đó, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các chuyên gia xuất bản cuốn sách “Kỹ năng đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động”Với nội dung cô đọng hướng dẫn người lao động (NLĐ) thực hiện các biện pháp để đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động khi làm việc tại văn phòng, công trường, nhà xưởng, trên cao, trong không gian hạn chế, khi làm việc trong môi trường xây dựng, có tiếp xúc với các thiết bị điện… Đi kèm với các biện pháp là những hình ảnh minh họa thể hiện những vấn đề cơ bản nhất về an toàn lao động và vệ sinh môi trường giúp NLĐ có thể dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ chia sẻ, nhắc nhở với đồng nghiệp cùng làm theo. Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp một số kỹ năng xử lý thoát nạn khi có cháy nổ, sơ cấp cứu tai nạn, hướng dẫn xử lý một số tình huống thường gặp và giới thiệu một số biển báo và tín hiệu ATVSLĐ. Cuốn sách sẽ là người bạn đồng hành của NLĐ, cán bộ… ở mọi nơi và mọi lúc trong suốt quá trình làm việc.

2066 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.05/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.05/Q2)

861 lượt xem
Behind the myth of ‘Business Partnerships’ vulnerable app-based drivers in urgent need of legal protection in Vietnam
Do Hai Ha Et al., Friedrich-Ebert-Stiftung

This report highlights the precarious working conditions and vulnerability of app-based motorbike drivers in Viet Nam and their linkage with an outdated labour law framework. It not only pinpoints the problems, but also considers solutions to enhancing legal protection for platform drivers, taking into consideration regulatory innovations around the world and the unique context of Viet Nam. Data collection was undertaken between 2019 and 2023. This consisted of a quantitative survey of workers from four major ride-hailing and delivery platforms, conducted in Ho Chi Minh City (HCMC) between February and March 2021. From May 2019 to August 2023, the researchers also interviewed and re-interviewed  50 workers and 15 other actors, including company managers, union cadres, state officials, and labour law experts. Moreover, data for this research was drawn from observations made by the researchers and surveyors during their conversations with workers and participation in workers’ Facebook groups. Finally, the research analysed numerous documents including-among other thingsplatforms’ contracts, policies, and documents; statutory laws; administrative regulations; court judgments; government papers and reports; academic works; and newspaper articles. These documents were collected until October 2023. The authors would like to express their deep appreciation to the Friedrich-Ebert-Stiftung (FES) for funding this major project. We are particularly indebted to Axel Blaschke, Timo Rinke, Nguyen Thi Ha Giang, Nguyen Thanh Thuy, and Pham Hung Son for their patience, support, and valuable advice throughout the project. Our gratitude also goes to the people involved in data collection, especially the interviewees and surveyors. We appreciate Dr. Do Quynh Chi, Dr. Pham Sy Thanh, and participants in the webinar on Labour Research in Digital Platforms in Viet Nam organised by the Southern Institute of Social Sciences, FES,  and the Viet Nam Labour Research Network in October 2021 for their insightful feedback on our early work. Last, but not least, special thanks go to Laurence Newman and Simon Drought for their proofreading. All errors are ours. 

2261 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.011-Q2)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.011-Q2)

1370 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.08/Q2)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.08/Q2)

1373 lượt xem
Việt Nam - Campuchia: Sự tương đồng giữa hai nền văn hóa
TS. Nguyễn Phương Liên
Con người từ buổi sơ khai đã sinh ra và tồn tại ở khắp nơi trên Trái đất, để có thể sinh tồn, theo một cách rất bản năng, họ kết lại thành bầy đàn để tự vệ cũng như lao động sản xuất. Từ sự tự phát bản năng ấy, các nhóm cùng tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ, cùng lao động, tích lũy, làm giàu cho bản thân và cộng đồng. Song hành cùng quá trình đó chính là sự tự ý thức về chủ quyền, quyền lực ngày càng rõ ràng hơn. Quá trình tất yếu tiếp theo chính là nhu cầu về sự mở rộng phạm vi sống, chinh phục những miền đất mới và làm giàu tích lũy. Sự chia cắt, sáp nhập, di dời, lưu vong đã tạo ra những biến cố liên tục dẫn đến những thay đổi tất yếu và thường xuyên trong cộng đồng người. Để có thể vượt qua các mâu thuẫn nảy sinh đó, con người chọn cách gắn kết chặt chẽ lại với nhau và phân biệt nhau không chỉ trên lãnh thổ. Điều này nghĩa là gì? Văn hóa được tạo ra không phải sự tách biệt, riêng biệt, mà nó là sản phẩm của sự sáng tạo trong quá trình phát triển và văn hóa cũng chính là một dạng “cương vực, lãnh thổ” bởi nó mang đặc trưng dân tộc, hay căn tính dân tộc. Căn tính dân tộc là một phạm trù có tính lịch sử của tồn tại xã hội, được xác lập trên cơ sở những đặc điểm của hiện hữu khách quan ban đầu khi cộng đồng mới hình thành và vẫn tiếp tục thay đổi, ổn định trong quá trình cộng đồng đó vận động, phát triển. Căn tính của một dân tộc được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại, do đó, nó đại diện cho một nhóm người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định. Như vậy, văn hóa chính là một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc. Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy. Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định. Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang những căn tính riêng thuộc về mặt sẵn có, tuy nhiên, mặt khác nó tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên và sinh tồn. Căn tính cá nhân đó ảnh hưởng từ phạm vi nhỏ là cộng đồng gia đình, đến phạm vi lớn là cộng đồng dân tộc. Hiếm có dân tộc nào cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn thành phần tộc người, phạm vi lãnh thổ, hình thái xã hội như buổi sơ khai con người tìm đến với nhau và quyết định chia sẻ môi sinh, tài nguyên thiên nhiên và quyền lợi tập thể. Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong bài viết “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 1/1986 đã khẳng định rằng: “Cho nên, tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc,… mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc”. Điều mà nhà nghiên cứu muốn chỉ ra ở đây là vốn văn hóa dân tộc không được xác lập ngay vào thời kì định hình mà là cái được ổn định dần qua thời gian cho đến trước thời cận hiện đại. Bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc của một đất nước đang phát triển như Việt Nam vẫn đang tiếp tục thay đổi và ổn định trước công cuộc mở cửa và hội nhập như vũ bão của thời đại toàn cầu hóa. Bên cạnh chúng ta, người Khmer với quốc gia mang tên Campuchia hiện nay cũng đang từng bước vững chắc phục hưng nền văn hóa trong văn minh lâu đời của chính mình như sức mạnh để vươn tới vị trí cao hơn sau những khủng hoảng về chính trị đã cách xa gần nửa thế kỷ.
2322 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.05/Q1)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.05/Q1)

1114 lượt xem
Đẩy mạnh đánh bắt hải sản trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững
TS. Đào Hữu Hòa

Biển Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) trải dài từ TP. Đà Nẵng đến Bình Thuận với chiều dài trên 1.000 km, trên biển có nhiều đảo lớn như: Đảo Phú Quý, Lý Sơn, Cù Lao Chàm và các quần đảo là: Hoàng Sa, Trường Sa. Sản lượng hải sản có thể khai thác ở mức bền vững của toàn vùng vào khoảng 350.000 - 400.000 tấn/năm, trong đó có nhiều loại hải sản quý hiếm như tôm hùm, bào ngư, cá ngừ đại dương… Trong những năm qua, hoạt động đánh bắt hải sản trên địa bàn khu vực DHNTB đã có những bước phát triển nhanh chóng. Sản lượng đánh bắt năm 2011 của toàn Vùng đạt khoảng 540 nghìn tấn, chiếm 31,5% so với cả nước. Thực tế cho thấy, ngành đánh bắt hải sản ở DHNTB, ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, nó còn mang lại hiệu quả tổng hợp trên nhiều mặt kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cho các địa phương trong vùng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc đánh bắt hải sản ở DHNTB vẫn còn rất nhiều bất cập cần giải quyết như: - Số phương tiện đánh bắt tăng quá nhanh nhưng đa số vẫn là vỏ gỗ, với động cơ chủ yếu là máy cũ tân trang. - Năng lực đánh bắt tăng nhanh trong khi trữ lượng hải sản không tăng đã làm cho năng suất đánh bắt giảm xuống nhanh chóng; - Tình trạng đánh bắt gần bờ bằng các phương pháp đánh bắt có tính chất tận diệt như kích điện, đánh thuốc nổ, “cào bay”... vẫn còn tồn tại, thậm chí có nơi còn gia tăng; - Các rủi ro về an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân do thiên tai, địch họa đang có xu hướng tăng và ngày càng diễn biến phức tạp nhưng chưa có biện pháp hiệu quả để khắc phục; - Việc quản lý chi phí đầu vào, đầu ra cho ngành đánh bắt hải sản vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ, các cấp chính quyền đến nay vẫn chưa có các giải pháp tổng thể để giải quyết vấn đề này; - Chưa có được một giải pháp toàn diện để giải quyết vấn đề quan hệ giữa phát triển đánh bắt hải sản và sử dụng nguồn lợi chung công bằng trong cộng đồng dân cư… Để tiếp tục phát triển hoạt động đánh bắt hải sản vùng DHNTB trong tương lai, đề tài nghiên cứu về “Đẩy mạnh đánh bắt hải sản trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững” của TS. Đào Hữu Hòa đã được xuất bản thành sách. Đề tài đã đánh giá được thực trạng, chỉ ra được nguyên nhân để có các biện pháp phù hợp nhằm khắc phục các hạn chế trên, đảm bảo cho việc đẩy mạnh hoạt động đánh bắt hải sản luôn gắn liền với yêu cầu phát triển bền vững tại mỗi địa phương. Đó cũng chính là nội dung của cuốn sách này. Hy vọng các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu sẽ tìm thấy nhiều tư liệu giá trị trong cuốn sách này.

1152 lượt xem
Quá trình xây dựng và phát triển tình hữu nghị Việt Nam - Camphuchia (Sách ảnh song ngữ Việt Nam - Campuchia)
Trung ương hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia, Trung ương hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia
Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời. Nhân dân hai nước từng đồng cam cộng khổ, cùng nhau đoàn kết chống lại kẻ thù chung của hai dân tộc. Sự đoàn kết tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau đã giúp nhân dân hai nước liên tiếp giành được thắng lợi to lớn trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ngày nay. Có thể khẳng định rằng, mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia là tài sản vô giá của hai dân tộc, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của mỗi nước. Với vai trò là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân với Campuchia, Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia luôn nhận thức sâu sắc rằng, việc tiếp tục xây dựng, củng cố và tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể và của mỗi người dân hai nước Việt Nam và Campuchia trong đó có các tổ chức hữu nghị của hai nước. Với nhận thức như vậy, những năm qua, các cấp Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia trong cả nước đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động hữu nghị đa dạng, phong phú, góp phần thiết thực vào việc củng cố quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa nhân dân hai nước. Nhằm thúc đẩy phát triển quan hệ hữu nghị giữa 2 nước cũng như nhân dịp kỉ niệm 70 năm Ngày truyền thống Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (17/11/1950 - 17/11/2020), 45 năm thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia (22/01/1975- 22/01/2020) và tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Hội, Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia đã phối hợp với Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tổ chức tuyển chọn, biên soạn và xuất bản cuốn sách ảnh song ngữ Việt Nam - Campuchia “Quá trình xây dựng và phát triển tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia”. Các hình ảnh trong cuốn sách được sắp xếp theo bốn giai đoạn như sau: Giai đoạn từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (24/6/1967) đến ngày 7/01/1979; 2. Giai đoạn từ ngày 7/01/1979 đến khi Hiệp định Paris về Campuchia được ký kết (năm 1991); 3. Giai đoạn từ năm 1991-2005; 4. Giai đoạn từ năm 2006 đến nay.
1611 lượt xem
Báo cáo tình hình ứng dụng và phát triển chữ ký số tại Việt Nam năm 2024
Bộ Thông tin và Truyền thông , Trung tâm Chứng thực điện tử Quốc gia

Báo cáo tình hình ứng dụng và phát triển chữ ký số tại Việt Nam năm 2024 cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình ứng dụng chữ ký số trong các hoạt động của các bộ, ngành, doanh nghiệp dựa trên cơ sở thông tin và số liệu cập nhật của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Ban Cơ yếu Chính phủ; Tổng cục Thuế; Tổng cục Hải quan; Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Kho bạc Nhà nước; Cục Quản lý đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng của cơ quan, tổ chức.

2413 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.10/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.10/Q2)

1156 lượt xem
Kỷ yếu hội thảo khoa học An ninh phi truyền thống, cơ hội và thách thức đối với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh
Học viện An ninh nhân dân

Kỷ yếu hội thảo khoa học An ninh phi truyền thống, cơ hội và thách thức đối với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh

540 lượt xem
Lò hơi trong sản xuất điện và trong công nghiệp -  Tập 2: Nhiên liệu - Sự cháy - Thiết bị đốt
PGS.TS Trương Duy Nghĩa

Nội dung trình bày những vấn đề lý thuyết và kỹ thuật cơ bản nhất về lò hơi, và cũng là những kiến thức chung cho cả lò hơi công nghiệp và lò hơi điện, để cho các kỹ sư tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Nhiệt, nhất là các kỹ sư không tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Nhiệt, đang công tác về lò hơi và lò đốt có thể tự học thêm để hiểu sâu các quá trình xảy ra trong lò. Một số kiến thức, một số chỉ tiêu thực tế rút ra từ kinh nghiệm vận hành, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sách. Cuối sách có các bài đọc thêm, ngắn gọn, nhằm làm rõ hơn, mở rộng hơn các nội dung trình bày trong chương, được hiểu như là các nội dung tham khảo.

Cuốn sách được dùng làm sách giáo khoa cho sinh viên các ngành Kỹ thuật nhiệt khi học môn học lò hơi, khi thực hiện các tính toán, thiết kế về lò hơi, đồng thời cũng là sách tham khảo cho các kỹ sư công tác về lò hơi, lò đốt.

819 lượt xem