Ấn phẩm khác
Khúc hát của ngàn xanh
Trường PTTH Dân tộc nội trú Nghệ An

Cuốn sách "Khúc hát của ngàn xanh" là một ấn phẩm văn hoá - giáo dục đặc biệt do Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành nhân dịp kỉ niệm 40 năm thành lập Trường PTTH Dân tộc nội trú Nghệ An (1984 - 2024). Tác phẩm là sự hội tụ những trang viết đầy tâm huyết của nhiều thế hệ lãnh đạo, thầy cô giáo và các cựu học sinh – những "người miền cao", "người Nội trú" đã cùng nhau dệt nên bề dày lịch sử của nhà trường. Xuyên suốt các phần nội dung mang tính biểu tượng như "Âm vang của rừng già", "Ước vọng của núi trẻ" hay "Tiếng suối reo trong thành phố Đỏ" , cuốn sách phác hoạ sống động hành trình bốn thập kỉ kiên trì thắp sáng ước mơ tri thức cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số miền Tây xứ Nghệ. Tác phẩm không chỉ là một biên niên sử lưu giữ những kí ức thanh xuân tươi đẹp và tình thầy trò sâu nặng, mà còn là một nỗ lực tuyệt vời nhằm bảo tồn, tôn vinh bản sắc văn hoá thuần hậu, độc đáo của hương rừng sắc núi giữa lòng thành phố.

623 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.10/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.10/Q2)

1383 lượt xem
Đăng ký và thống kê hộ tịch bảo đảm quyền con người vì mục tiêu phát triển bên vững
TS. Nguyễn Công Khanh, ThS. Lò Thùy Linh

Đăng ký và Thống kê hộ tịch là hoạt động thường xuyên, liên tục của mỗi quốc gia. Thông qua đăng ký hộ tịch Nhà nước bảo đảm các quyền dân sự cơ bản của cá nhân, đồng thời theo dõi, quản lý được những thay đổi về thông tin công dân và tình hình biến động thực tế của dân cư. Qua đó phục vụ xây dựng, hoạch định, phát triển các chính sách kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong vòng 8 năm qua, kể từ khi diễn ra Hội nghị Bộ trưởng lần thứ Nhất của khu vực châu Á - Thái Bình Dương về đăng ký và thống kê hộ tịch (CRVS - tháng 11/2014), tình hình đăng ký và thống kê hộ tịch ở các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương đã có nhiều khởi sắc. Công tác đăng ký hộ tịch đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của tất cả các Chính phủ, các cấp chính quyền địa phương trong khu vực. Nhận thức của các tầng lớp nhân dân, dân cư về ý nghĩa, vai trò của đăng ký hộ tịch đã được nâng lên rõ rệt. Hệ thống đăng ký hộ tịch đối với những nhóm dân cư yếu thế ở các khu vực khác nhau của châu Á - Thái Bình Dương đã được cải thiện đáng kể. Với định hướng đăng ký hộ tịch phổ cập, các quốc gia đang phấn đấu đến năm 2025 tất cả những người dân trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều được đăng ký và cấp giấy tờ hộ tịch, được định danh pháp lý đầy đủ theo phương châm “Không ai bị bỏ lại phía sau”.
Tháng 11/2021 đã diễn ra Hội nghị Bộ trưởng lần thứ Hai về đăng ký, thống kê hộ tịch của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hội nghị đã kiểm điểm, đánh giá một cách tổng thể về những kết quả đạt được trong nửa đầu của thập niên CRVS, đồng thời đưa ra quyết tâm chính trị cao cả để tiếp tục thúc đẩy/tăng tốc đăng ký hộ tịch bảo đảm đạt được các mục tiêu quan trọng của nửa sau thập niên CRVS khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhằm “xây dựng một tương lai bền vững hơn với đăng ký và thống kê hộ tịch toàn diện”.
Trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các tài liệu được đệ trình lên Hội nghị Bộ trưởng lần thứ Hai khu vực châu Á - Thái Bình Dương về CRVS (tháng 11/2021), Tiến sĩ Nguyễn Công Khanh - nguyên Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực và Thạc sĩ Lò Thùy Linh, Phó Trưởng phòng Phòng quản lý hộ tịch, Cục hộ tịch, quốc tịch, chứng thực của Bộ Tư pháp đã biên soạn cuốn sách “Đăng ký và Thống kê hộ tịch: Bảo đảm quyền con người vì Mục tiêu Phát triển Bền vững”. Cuốn sách cung cấp
cho người đọc cái nhìn tổng thể, bao quát nhất về kết quả đăng ký, thống kê hộ tịch thời gian qua ở các quốc gia thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có các nước ASEAN và Việt Nam. Nội dung cuốn sách gồm 9 chương, đề cập toàn diện về vai trò, ý nghĩa của đăng ký, thống kê hộ tịch trong việc bảo đảm quyền con người vì Mục tiêu Phát triển Bền vững theo Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc; về lợi ích của việc khai thác, sử dụng dữ liệu hộ tịch để ra quyết định ở các cấp chính quyền; về tầm quan trọng của đăng ký hộ tịch đối với việc thiết lập định danh pháp lý của mỗi cá nhân; về trách nhiệm bảo mật dữ liệu hộ tịch, bí mật đời tư cá nhân của các quốc gia trong đăng ký, thống kê hộ tịch v.v…

929 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.02)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.02)

1408 lượt xem
Môi trường nông nghiệp và nông thôn: Hiện trạng và hướng phát triển
Bộ Thông tin và Truyền thông
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp với khoảng 65% dân số đang sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn. Cùng với sự đổi mới gắn liền với các chính sách khuyến nông, kinh tế nông thôn liên tục tăng trưởng và chuyển mạnh theo hướng công nghiệp - dịch vụ, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, từng bước thu hẹp khoảng cách với đô thị và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên vấn đề ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí… do rác thải, hóa chất bảo vệ thực vật… đã đặt ra những thách thức lớn đối với công tác bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn và ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng một nền nông nghiệp phát triển bền vững. Ngày 16 tháng 8 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”, trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ thực hiện tiêu chí về Thông tin và Truyền thông. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và các chuyên gia biên soạn, xuất bản cuốn sách “Môi trường nông nghiệp và nông thôn: Hiện trạng và hướng phát triển” nhằm tuyên truyền, cung cấp những thông tin, kiến thức hữu ích cho cán bộ triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ Chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ thông tin và truyền thông cũng như phát triển nông nghiệp nói chung, môi trường nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: - Chương 1: Tổng quan môi trường nông nghiệp và nông thôn - Chương 2: Môi trường nước và vệ sinh môi trường ở nông thôn - Chương 3: Sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp - Chương 4: Môi trường đất và không khí - Chương 5: Hướng phát triển môi trường nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới
2308 lượt xem
Cẩm nang phòng, chống COVID-19 trong đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động
TS.BS. Nguyễn Việt Đồng

Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19, việc trang bị những kiến thức cơ bản để các cơ quan, doanh nghiệp, người lao động đảm bảo sức khỏe phòng tránh bị lây nhiễm là điều hết sức cần thiết. Thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông; nhằm đẩy mạnh tuyên truyền về phòng, chống dịch COVID-19 đến từng người lao động, đóng góp thiết thực và công cuộc phòng, chống dịch bệnh của cả nước; Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các chuyên gia đầu ngành trong công tác phòng, chống dịch COVID-19 biên soạn, xuất bản cuốn sách "Cẩm nang phòng, chống COVID-19 trong đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động" (Sách in và Sách điện tử)

1929 lượt xem
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC SINH VIÊN LUẬT TOÀN QUỐC LẦN THỨ I - 2025 TẬP 1 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI
Nhiều tác giả

Kỷ yếu Hội thảo được biên soạn trên cơ sở tuyển chọn các bài viết tiêu biểu của sinh viên đến từ nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước. Các công trình nghiên cứu trong Kỷ yếu không chỉ thể hiện tư duy nghiên cứu độc lập, sự nghiêm túc trong phương pháp tiếp cận khoa
học mà còn phản ánh tinh thần sáng tạo và trách nhiệm học thuật của thế hệ sinh viên luật – lực lượng trí thức trẻ được kỳ vọng sẽ tiếp nối và đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền khoa học pháp lý và hệ thống tư pháp Việt Nam trong tương lai.

230 lượt xem
Kỷ yếu hội thảo khoa học An ninh phi truyền thống, cơ hội và thách thức đối với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh
Học viện An ninh nhân dân

Kỷ yếu hội thảo khoa học An ninh phi truyền thống, cơ hội và thách thức đối với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh

867 lượt xem
Việt Nam - Campuchia: Sự tương đồng giữa hai nền văn hóa
TS. Nguyễn Phương Liên
Con người từ buổi sơ khai đã sinh ra và tồn tại ở khắp nơi trên Trái đất, để có thể sinh tồn, theo một cách rất bản năng, họ kết lại thành bầy đàn để tự vệ cũng như lao động sản xuất. Từ sự tự phát bản năng ấy, các nhóm cùng tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ, cùng lao động, tích lũy, làm giàu cho bản thân và cộng đồng. Song hành cùng quá trình đó chính là sự tự ý thức về chủ quyền, quyền lực ngày càng rõ ràng hơn. Quá trình tất yếu tiếp theo chính là nhu cầu về sự mở rộng phạm vi sống, chinh phục những miền đất mới và làm giàu tích lũy. Sự chia cắt, sáp nhập, di dời, lưu vong đã tạo ra những biến cố liên tục dẫn đến những thay đổi tất yếu và thường xuyên trong cộng đồng người. Để có thể vượt qua các mâu thuẫn nảy sinh đó, con người chọn cách gắn kết chặt chẽ lại với nhau và phân biệt nhau không chỉ trên lãnh thổ. Điều này nghĩa là gì? Văn hóa được tạo ra không phải sự tách biệt, riêng biệt, mà nó là sản phẩm của sự sáng tạo trong quá trình phát triển và văn hóa cũng chính là một dạng “cương vực, lãnh thổ” bởi nó mang đặc trưng dân tộc, hay căn tính dân tộc. Căn tính dân tộc là một phạm trù có tính lịch sử của tồn tại xã hội, được xác lập trên cơ sở những đặc điểm của hiện hữu khách quan ban đầu khi cộng đồng mới hình thành và vẫn tiếp tục thay đổi, ổn định trong quá trình cộng đồng đó vận động, phát triển. Căn tính của một dân tộc được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại, do đó, nó đại diện cho một nhóm người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định. Như vậy, văn hóa chính là một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc. Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy. Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định. Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang những căn tính riêng thuộc về mặt sẵn có, tuy nhiên, mặt khác nó tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên và sinh tồn. Căn tính cá nhân đó ảnh hưởng từ phạm vi nhỏ là cộng đồng gia đình, đến phạm vi lớn là cộng đồng dân tộc. Hiếm có dân tộc nào cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn thành phần tộc người, phạm vi lãnh thổ, hình thái xã hội như buổi sơ khai con người tìm đến với nhau và quyết định chia sẻ môi sinh, tài nguyên thiên nhiên và quyền lợi tập thể. Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong bài viết “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 1/1986 đã khẳng định rằng: “Cho nên, tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc,… mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc”. Điều mà nhà nghiên cứu muốn chỉ ra ở đây là vốn văn hóa dân tộc không được xác lập ngay vào thời kì định hình mà là cái được ổn định dần qua thời gian cho đến trước thời cận hiện đại. Bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc của một đất nước đang phát triển như Việt Nam vẫn đang tiếp tục thay đổi và ổn định trước công cuộc mở cửa và hội nhập như vũ bão của thời đại toàn cầu hóa. Bên cạnh chúng ta, người Khmer với quốc gia mang tên Campuchia hiện nay cũng đang từng bước vững chắc phục hưng nền văn hóa trong văn minh lâu đời của chính mình như sức mạnh để vươn tới vị trí cao hơn sau những khủng hoảng về chính trị đã cách xa gần nửa thế kỷ.
2484 lượt xem
Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ Phát triển đội ngũ - Xây dựng tổ chức vững mạnh - Đồng hành đổi mới
Bộ Khoa học và Công nghệ

Cuốn sách cung cấp thông tin về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ. 

286 lượt xem
Lê Doãn Hợp - 100 điều đúc rút từ thực tiễn
Lê Doãn Hợp

Đời người thường kinh qua 4 giai đoạn: Trước 20 tuổi là giai đoạn học hỏi; Từ 20 đến 40 tuổi là giai đoạn trải nghiệm; Từ 40 đến 60 tuổi là giai đoạn thực nghiệm; Sau 60 tuổi là giai đoạn chiêm nghiệm. “Lê Doãn Hợp - 100 điều đúc rút từ thực tiễn” là những gì tác giả chắt lọc qua 4 giai đoạn đó. Nội dung cuốn sách gồm 100 điều mà tác giả đúc rút từ thực tiễn cuộc đời, qua nhiều cương vị công tác của ông. Hy vọng nhưng kinh nghiệm này sẽ có ích với bạn đọc, cả cho bản thân, cho công việc và trong cuộc sống nói chung.

1978 lượt xem
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia (1930 - 2020)
PGS TS Lê Đình Chỉnh
Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng gần gũi cùng chung sống lâu đời trên vùng bán đảo có nhiều điểm tương đồng về các yếu tố địa - chính trị, địa - lịch sử, địa - kinh tế và địa - văn hóa. Trải qua nhiều thập kỷ đấu tranh giành độc lập, tự do, hai dân tộc Việt Nam và Campuchia luôn nương tựa vào nhau, cùng đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh bên nhau vì sự tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc và cả hai dân tộc. Trong cách mạng dân tộc giai đoạn 1945-1975, mối quan hệ đoàn kết truyền thống Việt Nam - Campuchia tiếp tục được phát triển và nâng lên một bước mới, từng bước vượt qua mọi khó khăn, gian nan, thử thách, cùng đấu tranh chống xâm lược. Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) của Việt Nam; Cách mạng Campuchia toàn thắng ngày 17/4/1975; Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam ngày 30/4/1975 là kết quả của quá trình vận động cách mạng, đoàn kết gắn bó giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia trong cuộc đấu tranh cùng chống kẻ thù chung vì mục tiêu chung là giành tự do và độc lập cho cả hai dân tộc. Từ năm 1975 đến năm 1979, tập đoàn phản động Khmer đỏ do Pol Pot đứng đầu đã thực hiện chế độ diệt chủng ở Campuchia giết hại hàng triệu người dân vô tội. Đồng thời tập đoàn diệt chủng này còn cho quân tiến hành các cuộc tấn công xâm lược Việt Nam, tàn phá nhiều làng mạc, giết hại nhiều thường dân tại các tỉnh biên giới Tây Nam của Việt Nam. Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của mình, Việt Nam đã thực hiện cuộc chiến tranh tự vệ, nhanh chóng đập tan các cuộc xâm lược của tập đoàn diệt chủng Pol Pot, quét sạch chúng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, theo yêu cầu của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước và nhân dân Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Khi đề cập đến vấn đề này, Thủ tướng Hun Sen khẳng định: “Chúng ta có thể hỏi rằng trên thế giới này, có đất nước nào đã giúp nhân dân Campuchia, đặc biệt là giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn cản sự quay lại của chúng? Câu trả lời chính là nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dân Campuchia có niềm tin, chỉ có Tiên, có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu Tiên, Phật tới cứu thì Bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật”. Nhìn lại chặng đường gần thế kỷ (1930 - 2020), lịch sử đã chứng kiến sự gắn bó keo sơn, mật thiết giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước. Mối quan hệ truyền thống đoàn kết và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia không ngừng được củng cố và phát triển lên một tầm cao mới, đó chính là tài sản vô giá mà mỗi người dân ở hai nước hôm nay cần tiếp tục giữ gìn, vun đắp và bảo vệ. Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả do PGS, TS Lê Đình Chỉnh làm chủ biên biên soạn, xuất bản cuốn sách: Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia (1930 - 2020). Cuốn sách không chỉ cung cấp cho người đọc những hiểu biết một cách hệ thống về trang sử hào hùng của nhân dân hai nước trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, mà còn giúp người đọc hiểu được quá trình hồi sinh, xây dựng và phát triển của nhân dân Campuchia với sự giúp đỡ có hiệu quả của Việt Nam, sau khi thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot.
4606 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.06)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.06)

1185 lượt xem
Behind the myth of ‘Business Partnerships’ vulnerable app-based drivers in urgent need of legal protection in Vietnam
Do Hai Ha Et al., Friedrich-Ebert-Stiftung

This report highlights the precarious working conditions and vulnerability of app-based motorbike drivers in Viet Nam and their linkage with an outdated labour law framework. It not only pinpoints the problems, but also considers solutions to enhancing legal protection for platform drivers, taking into consideration regulatory innovations around the world and the unique context of Viet Nam. Data collection was undertaken between 2019 and 2023. This consisted of a quantitative survey of workers from four major ride-hailing and delivery platforms, conducted in Ho Chi Minh City (HCMC) between February and March 2021. From May 2019 to August 2023, the researchers also interviewed and re-interviewed  50 workers and 15 other actors, including company managers, union cadres, state officials, and labour law experts. Moreover, data for this research was drawn from observations made by the researchers and surveyors during their conversations with workers and participation in workers’ Facebook groups. Finally, the research analysed numerous documents including-among other thingsplatforms’ contracts, policies, and documents; statutory laws; administrative regulations; court judgments; government papers and reports; academic works; and newspaper articles. These documents were collected until October 2023. The authors would like to express their deep appreciation to the Friedrich-Ebert-Stiftung (FES) for funding this major project. We are particularly indebted to Axel Blaschke, Timo Rinke, Nguyen Thi Ha Giang, Nguyen Thanh Thuy, and Pham Hung Son for their patience, support, and valuable advice throughout the project. Our gratitude also goes to the people involved in data collection, especially the interviewees and surveyors. We appreciate Dr. Do Quynh Chi, Dr. Pham Sy Thanh, and participants in the webinar on Labour Research in Digital Platforms in Viet Nam organised by the Southern Institute of Social Sciences, FES,  and the Viet Nam Labour Research Network in October 2021 for their insightful feedback on our early work. Last, but not least, special thanks go to Laurence Newman and Simon Drought for their proofreading. All errors are ours. 

2538 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.12-Q2)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.12-Q2)

1507 lượt xem
Cẩm nang chuyển đổi số
Bộ Thông tin và Truyền thông

Cuốn Cẩm nang này được xây dựng trên cơ sở các bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng, thực tiễn của những người đã trăn trở, đã trực tiếp tham gia hoạch định cơ chế, chính sách, chiến lược và thực thi chuyển đổi số, với sự chung tay, giúp sức, kế thừa tri thức của nhiều chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nhân Việt Nam. Lần tái bản này đã tiếp thu các ý kiến phản hồi, góp ý để chỉnh sửa, cập nhật. Đặc biệt, lần tái bản này bổ sung thêm nhiều câu chuyện chuyển đổi số ở Việt Nam, trên thế giới và 365 câu trích dẫn về chuyển đổi số.

3336 lượt xem