Ấn phẩm khác
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.09 - Q1)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.09 - Q1)

894 lượt xem
Môi trường nông nghiệp và nông thôn: Hiện trạng và hướng phát triển
Bộ Thông tin và Truyền thông
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp với khoảng 65% dân số đang sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn. Cùng với sự đổi mới gắn liền với các chính sách khuyến nông, kinh tế nông thôn liên tục tăng trưởng và chuyển mạnh theo hướng công nghiệp - dịch vụ, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, từng bước thu hẹp khoảng cách với đô thị và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên vấn đề ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí… do rác thải, hóa chất bảo vệ thực vật… đã đặt ra những thách thức lớn đối với công tác bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn và ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng một nền nông nghiệp phát triển bền vững. Ngày 16 tháng 8 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”, trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ thực hiện tiêu chí về Thông tin và Truyền thông. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và các chuyên gia biên soạn, xuất bản cuốn sách “Môi trường nông nghiệp và nông thôn: Hiện trạng và hướng phát triển” nhằm tuyên truyền, cung cấp những thông tin, kiến thức hữu ích cho cán bộ triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ Chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ thông tin và truyền thông cũng như phát triển nông nghiệp nói chung, môi trường nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: - Chương 1: Tổng quan môi trường nông nghiệp và nông thôn - Chương 2: Môi trường nước và vệ sinh môi trường ở nông thôn - Chương 3: Sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp - Chương 4: Môi trường đất và không khí - Chương 5: Hướng phát triển môi trường nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới
2222 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.11)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.11)

1082 lượt xem
Behind the myth of ‘Business Partnerships’ vulnerable app-based drivers in urgent need of legal protection in Vietnam
Do Hai Ha Et al., Friedrich-Ebert-Stiftung

This report highlights the precarious working conditions and vulnerability of app-based motorbike drivers in Viet Nam and their linkage with an outdated labour law framework. It not only pinpoints the problems, but also considers solutions to enhancing legal protection for platform drivers, taking into consideration regulatory innovations around the world and the unique context of Viet Nam. Data collection was undertaken between 2019 and 2023. This consisted of a quantitative survey of workers from four major ride-hailing and delivery platforms, conducted in Ho Chi Minh City (HCMC) between February and March 2021. From May 2019 to August 2023, the researchers also interviewed and re-interviewed  50 workers and 15 other actors, including company managers, union cadres, state officials, and labour law experts. Moreover, data for this research was drawn from observations made by the researchers and surveyors during their conversations with workers and participation in workers’ Facebook groups. Finally, the research analysed numerous documents including-among other thingsplatforms’ contracts, policies, and documents; statutory laws; administrative regulations; court judgments; government papers and reports; academic works; and newspaper articles. These documents were collected until October 2023. The authors would like to express their deep appreciation to the Friedrich-Ebert-Stiftung (FES) for funding this major project. We are particularly indebted to Axel Blaschke, Timo Rinke, Nguyen Thi Ha Giang, Nguyen Thanh Thuy, and Pham Hung Son for their patience, support, and valuable advice throughout the project. Our gratitude also goes to the people involved in data collection, especially the interviewees and surveyors. We appreciate Dr. Do Quynh Chi, Dr. Pham Sy Thanh, and participants in the webinar on Labour Research in Digital Platforms in Viet Nam organised by the Southern Institute of Social Sciences, FES,  and the Viet Nam Labour Research Network in October 2021 for their insightful feedback on our early work. Last, but not least, special thanks go to Laurence Newman and Simon Drought for their proofreading. All errors are ours. 

2387 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.01/Q1)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.01/Q1)

1167 lượt xem
Lò hơi trong sản xuất điện và trong công nghiệp -  Tập 1: Tổng quan về lò hơi
PGS.TS Trương Duy Nghĩa

Nội dung cuốn sách này được dùng làm sách giáo khoa cho sinh viên các ngành Kỹ thuật nhiệt khi học môn học lò hơi, khi thực hiện các tính toán, thiết kế về lò hơi, đồng thời cũng là sách tham khảo cho các kỹ sư công tác về lò hơi, lò đốt. Nội dung trình bày những vấn đề lý thuyết và kỹ thuật cơ bản nhất về lò hơi, và cũng là những kiến thức chung cho cả lò hơi công nghiệp và lò hơi điện, để cho các kỹ sư tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Nhiệt, nhất là các kỹ sư không tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Nhiệt, đang công tác về lò hơi và lò đốt có thể tự học thêm để hiểu sâu các quá trình xảy ra trong lò. Một số kiến thức, một số chỉ tiêu thực tế rút ra từ kinh nghiệm vận hành, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sách. Cuối sách có các bài đọc thêm, ngắn gọn, nhằm làm rõ hơn, mở rộng hơn các nội dung trình bày trong chương, được hiểu như là các nội dung tham khảo.

1930 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.12/Q2)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.12/Q2)

1498 lượt xem
Báo cáo tình hình ứng dụng và phát triển chữ ký số tại Việt Nam năm 2024
Bộ Thông tin và Truyền thông , Trung tâm Chứng thực điện tử Quốc gia

Báo cáo tình hình ứng dụng và phát triển chữ ký số tại Việt Nam năm 2024 cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình ứng dụng chữ ký số trong các hoạt động của các bộ, ngành, doanh nghiệp dựa trên cơ sở thông tin và số liệu cập nhật của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Ban Cơ yếu Chính phủ; Tổng cục Thuế; Tổng cục Hải quan; Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Kho bạc Nhà nước; Cục Quản lý đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư; các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng của cơ quan, tổ chức.

2541 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.06)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.06)

1337 lượt xem
 ປື້ມຄູ່ມືການຫັນເປັນດິຈິຕອນ (Cẩm nang chuyển đổi số)
Ministry of Information and Communications
ປຶ້ມ​ຄູ່​ມື​ສະບັບ​ນີ້​ໄດ້​ຮັບ​ການ​ກໍ່ສ້າງ​ບົນ​ພື້ນຖານ​ຄຳ​ປາ​ໄສ​ຂອງ​ທ່ານ​ລັດຖະມົນຕີ​ກະຊວງ​ຖະ​ແຫຼ​ງຂ່າວ ​ແລະ ສື່ສານ ຫງວຽນ​ແມ້ງ​ຮຸ່ງ ​ແລະ ການ​ປະຕິບັດ​ຂອງ​ບັນດາ​ຜູ້​ທີ່​ໄດ້​ໄຕ່​ຕອງ ​ແລະ ​ເຂົ້າ​ຮ່ວມ​ຢ່າງ​ກົງ​ໄປ​ກົງ​ມາ​ໃນ​ບັນດາ​ກົນ​ໄກ​ວາງ​ແຜນ, ນະ​ໂຍບາຍ, ຍຸດ​ທະ​ສາດ ​ແລະ ການ​ຜັນ​ຂະຫຍາຍ​ການ​ຫັນ​ເປັນ​ດີ​ຈີ​ຕອນ, ດ້ວຍ​ການ​ຮ່ວມ​ມື. ການ​ຊ່ວຍ​ເຫຼືອ, ​ແລະ ສືບ​ທອດ​ຄວາມ​ຮູ້​ຂອງ​ບັນດາ​ນັກ​ຊ່ຽວຊານ, ນັກ​ຄຸ້ມ​ຄອງ, ນັກ​ວິ​ທະ​ຍາ​ສາດ, ນັກ​ທຸ​ລະ​ກິດ​ຫວຽດນາມ ຫຼາຍ​ຄົນ. ສະບັບນີ້ໄດ້ຮັບຄໍາຄຶດຄໍາເຫັນແລະຄໍາແນະນໍາສໍາລັບການດັດແກ້ແລະການປັບປຸງ. ພິ​ເສດ, ສະບັບ​ນີ້​ໄດ້​ເພີ່ມ​ຫຼາຍ​ບົດ​ເລື່ອງ​ການ​ຫັນປ່ຽນ​ດີ​ຈີ​ຕອນ​ຢູ່​ຫວຽດນາມ ​ແລະ ​ໃນ​ທົ່ວ​ໂລກ ​ແລະ 365 ຄຳ​ເວົ້າ​ກ່ຽວ​ກັບ​ການ​ຫັນປ່ຽນ​ດີ​ຈີ​ຕອນ.
1831 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.12-Q1)
Nhiều tác giả

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.12-Q1)

1462 lượt xem
Ngành Thông tin và Truyền thông
Bộ Thông tin và Truyền thông

Nội dung sách là nhưng phát biểu tâm huyết của đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về định hướng phát triển Ngành Thông tin và Truyền thông.

2274 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.03/Q1)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.03/Q1)

1251 lượt xem
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.07)
Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.07)

1079 lượt xem
Kỷ yếu Hội thảo đánh giá tiềm năng, cơ hội và thách thức trong quản lý nông nghiệp và quy trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản tiêu biểu địa phương
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

Kỷ yếu Hội thảo đánh giá tiềm năng, cơ hội và thách thức trong quản lý nông nghiệp và quy trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản tiêu biểu địa phương

(Thuộc đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh: Chuyển đổi số trong quản lý và phát triển nông sản chủ lực huyện Võ Nhai đến năm 2025, tầm nhìn 2030. Mã số: ĐT KTCN 05/2022)

3387 lượt xem
Việt Nam - Campuchia: Sự tương đồng giữa hai nền văn hóa
TS. Nguyễn Phương Liên
Con người từ buổi sơ khai đã sinh ra và tồn tại ở khắp nơi trên Trái đất, để có thể sinh tồn, theo một cách rất bản năng, họ kết lại thành bầy đàn để tự vệ cũng như lao động sản xuất. Từ sự tự phát bản năng ấy, các nhóm cùng tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ, cùng lao động, tích lũy, làm giàu cho bản thân và cộng đồng. Song hành cùng quá trình đó chính là sự tự ý thức về chủ quyền, quyền lực ngày càng rõ ràng hơn. Quá trình tất yếu tiếp theo chính là nhu cầu về sự mở rộng phạm vi sống, chinh phục những miền đất mới và làm giàu tích lũy. Sự chia cắt, sáp nhập, di dời, lưu vong đã tạo ra những biến cố liên tục dẫn đến những thay đổi tất yếu và thường xuyên trong cộng đồng người. Để có thể vượt qua các mâu thuẫn nảy sinh đó, con người chọn cách gắn kết chặt chẽ lại với nhau và phân biệt nhau không chỉ trên lãnh thổ. Điều này nghĩa là gì? Văn hóa được tạo ra không phải sự tách biệt, riêng biệt, mà nó là sản phẩm của sự sáng tạo trong quá trình phát triển và văn hóa cũng chính là một dạng “cương vực, lãnh thổ” bởi nó mang đặc trưng dân tộc, hay căn tính dân tộc. Căn tính dân tộc là một phạm trù có tính lịch sử của tồn tại xã hội, được xác lập trên cơ sở những đặc điểm của hiện hữu khách quan ban đầu khi cộng đồng mới hình thành và vẫn tiếp tục thay đổi, ổn định trong quá trình cộng đồng đó vận động, phát triển. Căn tính của một dân tộc được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại, do đó, nó đại diện cho một nhóm người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định. Như vậy, văn hóa chính là một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc. Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy. Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định. Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang những căn tính riêng thuộc về mặt sẵn có, tuy nhiên, mặt khác nó tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên và sinh tồn. Căn tính cá nhân đó ảnh hưởng từ phạm vi nhỏ là cộng đồng gia đình, đến phạm vi lớn là cộng đồng dân tộc. Hiếm có dân tộc nào cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn thành phần tộc người, phạm vi lãnh thổ, hình thái xã hội như buổi sơ khai con người tìm đến với nhau và quyết định chia sẻ môi sinh, tài nguyên thiên nhiên và quyền lợi tập thể. Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong bài viết “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 1/1986 đã khẳng định rằng: “Cho nên, tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, nếu không muốn là suy đoán chủ quan, thay thế kết luận khoa học bằng những mục tiêu tuyên truyền, như khi kháng chiến thì nói đặc tính của dân tộc ta là yêu nước, bất khuất, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì là cần cù lao động, khi gặp khó khăn thì lại là lạc quan yêu đời… thì chúng ta không nên hình dung đó là công việc nhận xét tổng hợp các thành tựu về tư tưởng, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc,… mà phải đánh giá đầy đủ bản lĩnh sáng tạo của dân tộc”. Điều mà nhà nghiên cứu muốn chỉ ra ở đây là vốn văn hóa dân tộc không được xác lập ngay vào thời kì định hình mà là cái được ổn định dần qua thời gian cho đến trước thời cận hiện đại. Bản sắc văn hóa, căn tính dân tộc của một đất nước đang phát triển như Việt Nam vẫn đang tiếp tục thay đổi và ổn định trước công cuộc mở cửa và hội nhập như vũ bão của thời đại toàn cầu hóa. Bên cạnh chúng ta, người Khmer với quốc gia mang tên Campuchia hiện nay cũng đang từng bước vững chắc phục hưng nền văn hóa trong văn minh lâu đời của chính mình như sức mạnh để vươn tới vị trí cao hơn sau những khủng hoảng về chính trị đã cách xa gần nửa thế kỷ.
2401 lượt xem