Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.01/Q1)
Sức khỏe là vốn quý báu nhất của mỗi con người, chỉ khi có sức khỏe chúng ta mới có thể lao động, cống hiến và làm những việc có ích cho người thân, gia đình và xã hội. Hơn nữa “sức khỏe và sinh mạng” của người lao động là tài sản vô giá không chỉ của riêng bản thân, gia đình các bạn mà còn là tài sản không có gì thay thế được của các tổ chức lao động và của xã hội nói chung vì vậy, “an toàn, vệ sinh lao động” là một trong những công tác hàng đầu mà các công ty, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động đặc biệt quan tâm. Với ý nghĩa thiết thực đó, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các chuyên gia xuất bản cuốn sách “Kỹ năng đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động”Với nội dung cô đọng hướng dẫn người lao động (NLĐ) thực hiện các biện pháp để đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động khi làm việc tại văn phòng, công trường, nhà xưởng, trên cao, trong không gian hạn chế, khi làm việc trong môi trường xây dựng, có tiếp xúc với các thiết bị điện… Đi kèm với các biện pháp là những hình ảnh minh họa thể hiện những vấn đề cơ bản nhất về an toàn lao động và vệ sinh môi trường giúp NLĐ có thể dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ chia sẻ, nhắc nhở với đồng nghiệp cùng làm theo. Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp một số kỹ năng xử lý thoát nạn khi có cháy nổ, sơ cấp cứu tai nạn, hướng dẫn xử lý một số tình huống thường gặp và giới thiệu một số biển báo và tín hiệu ATVSLĐ. Cuốn sách sẽ là người bạn đồng hành của NLĐ, cán bộ… ở mọi nơi và mọi lúc trong suốt quá trình làm việc.
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta xác định giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đã có nhiều chủ trương, chính sách về xóa đói giảm nghèo, trong đó nhấn mạnh việc giảm nghèo thông tin, mong muốn góp phần đẩy mạnh tuyên truyền, thay đổi nhận thức về giảm nghèo của cán bộ, chính quyền các cấp và người dân. Thực hiện Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 06/2022/TT-BTTTT ngày 30/6/2022 hướng dẫn thực hiện Dự án Truyền thông và giảm nghèo về thông tin thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, trong đó có nội dung phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm áp dụng trong sản xuất, những mô hình sinh kế bền vững phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái…
Hiện nay, Việt Nam đang định hướng phát triển cây ăn quả hướng đến xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa theo hướng hiện đại, sản xuất an toàn, hữu cơ, hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị bền vững. Trong đó, chú trọng phát triển các cây trồng có lợi thế của vùng, tổ chức sản xuất hàng hóa lớn gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ nhằm tạo ra sản phẩm có thương hiệu, giá trị và sức cạnh tranh cao trên thị trường. Đặc biệt, vùng sẽ tiếp tục tập trung phát triển các cây ăn quả chủ lực có giá trị kinh tế cao thông qua các mô hình sản xuất với quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ.
Để trồng cây ăn quả phát triển bền vững, bên cạnh lợi ích trước mắt thì việc bảo vệ và cải thiện môi trường cần được chú trọng. Do đó, rất cần có các biện pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường do sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật không chuẩn tại các vùng trồng cây ăn quả. Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả thuộc Viện Phát triển kinh tế hợp tác (Liên minh Hợp tác xã Việt Nam) và các chuyên gia xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn xử lý ô nhiễm môi trường do sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật vùng trồng cây ăn quả” giúp cải thiện việc sử dụng không chuẩn các hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng, chăm sóc, sơ chế, bảo quản các loại cây ăn quả và bảo vệ môi trường sinh thái trong những năm tới.
Nội dung cuốn sách giới thiệu đến bạn đọc những thông tin tổng quan về tình hình ô nhiễm môi trường do sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật tại vùng trồng cây ăn quả, tại hợp tác xác trồng cây ăn quả. Thông qua thực trạng đó, các chuyên gia đã đưa ra các giải pháp tích cực nhằm kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường do sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật tại các hợp tác xã trồng cây ăn quả, hướng dẫn xây dựng hợp tác xã sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị bền vững, bảo vệ môi trường và hướng dẫn xử lý nước thải tại làng nghề chế biến nông sản.
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.08/Q2)
Biển Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) trải dài từ TP. Đà Nẵng đến Bình Thuận với chiều dài trên 1.000 km, trên biển có nhiều đảo lớn như: Đảo Phú Quý, Lý Sơn, Cù Lao Chàm và các quần đảo là: Hoàng Sa, Trường Sa. Sản lượng hải sản có thể khai thác ở mức bền vững của toàn vùng vào khoảng 350.000 - 400.000 tấn/năm, trong đó có nhiều loại hải sản quý hiếm như tôm hùm, bào ngư, cá ngừ đại dương… Trong những năm qua, hoạt động đánh bắt hải sản trên địa bàn khu vực DHNTB đã có những bước phát triển nhanh chóng. Sản lượng đánh bắt năm 2011 của toàn Vùng đạt khoảng 540 nghìn tấn, chiếm 31,5% so với cả nước. Thực tế cho thấy, ngành đánh bắt hải sản ở DHNTB, ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, nó còn mang lại hiệu quả tổng hợp trên nhiều mặt kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cho các địa phương trong vùng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc đánh bắt hải sản ở DHNTB vẫn còn rất nhiều bất cập cần giải quyết như: - Số phương tiện đánh bắt tăng quá nhanh nhưng đa số vẫn là vỏ gỗ, với động cơ chủ yếu là máy cũ tân trang. - Năng lực đánh bắt tăng nhanh trong khi trữ lượng hải sản không tăng đã làm cho năng suất đánh bắt giảm xuống nhanh chóng; - Tình trạng đánh bắt gần bờ bằng các phương pháp đánh bắt có tính chất tận diệt như kích điện, đánh thuốc nổ, “cào bay”... vẫn còn tồn tại, thậm chí có nơi còn gia tăng; - Các rủi ro về an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân do thiên tai, địch họa đang có xu hướng tăng và ngày càng diễn biến phức tạp nhưng chưa có biện pháp hiệu quả để khắc phục; - Việc quản lý chi phí đầu vào, đầu ra cho ngành đánh bắt hải sản vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ, các cấp chính quyền đến nay vẫn chưa có các giải pháp tổng thể để giải quyết vấn đề này; - Chưa có được một giải pháp toàn diện để giải quyết vấn đề quan hệ giữa phát triển đánh bắt hải sản và sử dụng nguồn lợi chung công bằng trong cộng đồng dân cư… Để tiếp tục phát triển hoạt động đánh bắt hải sản vùng DHNTB trong tương lai, đề tài nghiên cứu về “Đẩy mạnh đánh bắt hải sản trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững” của TS. Đào Hữu Hòa đã được xuất bản thành sách. Đề tài đã đánh giá được thực trạng, chỉ ra được nguyên nhân để có các biện pháp phù hợp nhằm khắc phục các hạn chế trên, đảm bảo cho việc đẩy mạnh hoạt động đánh bắt hải sản luôn gắn liền với yêu cầu phát triển bền vững tại mỗi địa phương. Đó cũng chính là nội dung của cuốn sách này. Hy vọng các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu sẽ tìm thấy nhiều tư liệu giá trị trong cuốn sách này.
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.06)
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.04)
Cuốn sách ghi lại một cách sinh động, chân thực và toàn diện những dấu ấn tiêu biểu trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 của Đảng bộ Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Qua từng hình ảnh, từng khoảnh khắc, thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên, niềm đam mê học thuật và sự tận tụy cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Cuốn sách không chỉ là sự phản ánh trung thực hành trình phát triển, mà còn là sự khẳng định bản lĩnh chính trị, trí tuệ tập thể và tinh thần phụng sự đất nước bằng tri thức và lý tưởng cộng sản. Đây cũng là một tài liệu có giá trị tuyên truyền, giáo dục sâu sắc về vai trò, vị thế và tầm ảnh hưởng của Đảng bộ Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trong công cuộc đổi mới, phát triển khoa học xã hội nước nhà.
Cuốn sách cung cấp thông tin về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ.
Đời người thường kinh qua 4 giai đoạn: Trước 20 tuổi là giai đoạn học hỏi; Từ 20 đến 40 tuổi là giai đoạn trải nghiệm; Từ 40 đến 60 tuổi là giai đoạn thực nghiệm; Sau 60 tuổi là giai đoạn chiêm nghiệm. “Lê Doãn Hợp - 100 điều đúc rút từ thực tiễn” là những gì tác giả chắt lọc qua 4 giai đoạn đó. Nội dung cuốn sách gồm 100 điều mà tác giả đúc rút từ thực tiễn cuộc đời, qua nhiều cương vị công tác của ông. Hy vọng nhưng kinh nghiệm này sẽ có ích với bạn đọc, cả cho bản thân, cho công việc và trong cuộc sống nói chung.
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 228.12/Q1)
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.13-Q1)
Các hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Bắc đa số là các hợp tác xã có quy mô nhỏ; số lượng thành viên ít nên có vốn rất hạn chế. Thành viên của các hợp tác xã nông nghiệp ở đây đa số là người dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn, trình độ học vấn không đồng đều, nên hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ gặp nhiều khó khăn, thiếu ổn định hơn các vùng khác. Do vậy giải pháp để xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp đã đặt ra những thách thức lớn trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh Tây Bắc. Ngày 16/8/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”, trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ thực hiện tiêu chí về Thông tin và Truyền thông. Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với Viện Phát triển kinh tế hợp tác - Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các chuyên gia biên soạn, xuất bản cuốn sách “Nâng cao hiệu quả Hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc trong quá trình xây dựng nông thôn mới”. Nội dung cuốn sách cung cấp những thông tin và kiến thức hữu ích cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ Chương trình mục tiêu quốc gia, nhiệm vụ thông tin tuyên truyền về tình hình tổ chức, hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Bắc, từ đó đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp, tăng thu nhập cho thành viên hợp tác xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và góp phần xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh Tây Bắc. Nội dung sách có sử dụng các khảo sát của nhóm tác giả cũng như các báo cáo của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để từ đó có con số thực tế cho việc xây dựng kế hoạch, hoạch định chính sách cho việc phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả các hợp tác xã nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Bắc trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên (Số 229.01/Q2)