Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách kể câu chuyện về sóng vô tuyến điện, vai trò của sóng vô tuyến đối với đời sống xã hội và vai trò của quản lý tần số…
Nội dung sách cung cấp những kiến thức cơ bản về IoT như: kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong và rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của IoT, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong” do TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng (nguyên Trưởng Bộ môn Vô tuyến - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) biên soạn.
Nội dung của cuốn sách gồm 6 chương:
Chương 1. Tổng quan về IoT
Chương 2. Kiến trúc mạng và ngăn xếp giao thức Internet
Chương 3. Kiến trúc và các giao thức IoT
Chương 4. Điện toán đám mây và sương mù cho IoT
Chương 5. IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0
Chương 6. IoT trong các hệ thống 4G LTE và 5G
Hy vọng, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các trường đại học, các chuyên gia, kỹ sư và bạn đọc quan tâm đến khái niệm, công nghệ và các ứng dụng của IoT.
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, Toán học và Công nghệ thông tin ngày càng khẳng định vai trò nền tảng trong sự phát triển của khoa học, công nghệ và nền kinh tế tri thức. Những bước tiến vượt bậc trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, học máy, phân tích dữ liệu lớn, an toàn thông tin hay tính toán hiệu năng cao đều được xây dựng trên cơ sở các lý thuyết toán học hiện đại cùng các phương pháp và công cụ của công nghệ thông tin. Sự gắn kết chặt chẽ giữa Toán học và Công nghệ thông tin không chỉ thúc đẩy sự phát triển của khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, mà còn tạo ra những động lực quan trọng cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn ngày càng trở nên cấp thiết.
Các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng khoa học cần không ngừng đổi mới tư duy nghiên cứu, thúc đẩy các hướng nghiên cứu liên ngành, cập nhật nội dung và phương pháp đào tạo, đồng thời tăng cường hợp tác học thuật nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng của các kết quả khoa học.
Nhằm tạo diễn đàn học thuật để các nhà khoa học, giảng viên, nhà nghiên cứu và chuyên gia trao đổi các kết quả nghiên cứu mới, chia sẻ kinh nghiệm và thảo luận những vấn đề khoa học và thực tiễn liên quan đến sự phát triển của Toán học và Công nghệ thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số, Trường Đại học Hải Dương tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Toán học và Công nghệ thông tin trong kỷ nguyên số: Thách thức và cơ hội” vào ngày 27 tháng 3 năm 2026 tại Trung tâm Văn hóa Xứ Đông, phường Tân Hưng, thành phố Hải Phòng. Kỷ yếu hội thảo tập hợp hơn 60 bài báo khoa học của các nhà nghiên cứu, giảng viên và chuyên gia đến từ nhiều trường đại học và viện nghiên cứu trong cả nước. Nội dung các bài viết tập trung vào các hướng nghiên cứu như Toán học, Toán ứng dụng, khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin và các nghiên cứu liên ngành giữa Toán học và Công nghệ thông tin. Các công trình được tuyển chọn không chỉ góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đang được quan tâm mà còn gợi mở nhiều hướng nghiên cứu và ứng dụng mới trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ số.
Ban Biên tập Kỷ yếu Hội thảo trân trọng cảm ơn sự tham gia và đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các tác giả; đồng thời cảm ơn Ban Tổ chức, các tiểu ban chuyên môn hội thảo cùng các đơn vị liên quan đã tích cực phối hợp trong quá trình tổ chức hội thảo và biên tập, xuất bản kỷ yếu.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong quá trình tuyển chọn và biên tập, kỷ yếu khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Ban Biên tập rất mong tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và bạn đọc để kỷ yếu ngày càng hoàn thiện hơn.
BAN BIÊN TẬP KỶ YẾU
Chuyển đổi số là câu chuyện mới đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia với những mức độ và cách thức khác nhau. Ở nước ta, Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã nhanh chóng lan tỏa trên cả nước. “Chuyển đổi số” đã thành một từ được nói đến hàng ngày trên truyền thông. Cuộc sống của người dân cũng đang dần gắn nhiều hơn với môi trường thực-số. Nhiều doanh nghiệp đang tích cực tìm hiểu và thực hiện chuyển đổi số. Hầu hết các tỉnh thành và bộ ngành đã công bố đề án chuyển đổi số. Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số đã được thành lập và hoạt động để giúp Chính phủ điều hành công cuộc chuyển đổi số của đất nước.
Nhận thức về chuyển đổi số liên quan đến hai vấn đề chính: “chuyển đổi số là gì và vì sao phải làm?” và “làm chuyển đổi số thế nào?”. Trong khi vấn đề thứ nhất được nói đến nhiều thời gian qua, những câu hỏi của vấn đề thứ hai như “cần làm gì để chuyển đổi số?”, “phải bắt đầu từ đâu?”, “ai làm chuyển đổi số?”, “thành bại của chuyển đổi số vì sao?”, “tổ chức việc thực hiện chuyển đổi số thế nào?”… vẫn đang rất cần được trả lời và làm rõ.
Hai năm trước chúng tôi viết cuốn sách “Hỏi đáp về chuyển đổi số” với 200 câu hỏi và trả lời để chia sẻ nhận thức ban đầu của mình về chuyển đổi số là gì. Mong muốn tìm câu trả lời về làm chuyển đổi số thế nào dẫn chúng tôi đến những thách thức mới. Những cuốn sách đã xuất bản trên thế giới phần lớn mô tả các hoạt động cụ thể về chuyển đổi số của doanh nghiệp trong bối cảnh của các nước phát triển và ít về phương pháp làm chuyển đổi số. Gần hai năm qua khi tìm hiểu, trao đổi, trải nghiệm với nhận thức dần rõ hơn, chúng tôi đề xuất phương pháp luận ST-235 về làm chuyển đối số, và viết cuốn sách này để chia sẻ với cộng đồng.
Phương pháp luận ST-235 có cốt lõi là tư duy hệ thống được mô tả với hai phần. Phần một (ST) xác định mô hình hệ sinh thái thực-số của các tổ chức với tám hợp phần chia thành các nhóm về hoạt động chính (sản phẩm-dịch vụ, quy trình vận hành, quản trị-quản lý), về nhân tố thành bại (con người, thể chế, công nghệ), về dữ liệu và kết nối, và về an toàn an ninh hệ thống. Chuyển đổi số của một tổ chức về bản chất là xây dựng hệ sinh thái thực-số của mình từ hệ sinh thái hiện tại, và việc này được thực hiện theo phương thức mô tả ở phần hai (235) của ST-235, với 2 nguyên lý, 3 cặp nguyên tắc, và 5 nội dung cốt lõi cần làm.
Hai nguyên lý của ST-235 là tư tưởng chủ đạo và dẫn dắt toàn bộ quá trình chuyển đổi số, xác định rằng chuyển đổi số là quá trình tự thay đổi một cách hệ thống và chuyển đổi số là quá trình liên tục đổi mới sáng tạo với dữ liệu và kết nối. Ba cặp nguyên tắc của ST-235 xác định những điều cần tuân theo khi thực hiện chuyển đổi số, gồm tổng thể và toàn diện, đồng bộ và đột phá, chính chủ và lãnh đạo. Năm vấn đề cốt lõi mỗi tổ chức cần thực hiện khi chuyển đổi số là con người, thể chế, công nghệ, lộ trình, và quản trị thực thi.
Cuốn sách được chia thành sáu chương. Chương Một tóm tắt những khái niệm và vấn đề cơ bản của chuyển đổi số. Chương Hai giới thiệu phương pháp luận ST-235. Bốn chương tiếp theo trình bày về làm chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực kinh tế-xã hội, các địa phương và doanh nghiệp nhìn theo phương pháp luận ST-235.
Chúng tôi chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Nhóm Thinktank VINASA vì những điều được chia sẻ, được học tập từ các thảo luận về chuyển đổi số vào các sáng thứ bảy hàng tuần. Chúng tôi chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình với những động viên và khuyến khích hoàn thành cuốn sách; cảm ơn các tỉnh thành, các tập đoàn, các doanh nghiệp, tổ chức, trường học, các đơn vị tổ chức tập huấn chuyển đổi số… đã cho chúng tôi cơ hội đến trao đổi, giới thiệu ST-235 và nhận được nhiều câu hỏi thú vị; cảm ơn Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, tổ chức GIZ và 11 trường dạy nghề về hoạt động chuyển đổi số chúng tôi được tham gia trong gần hai năm qua; cảm ơn Cục Tin học hóa (hiện nay là Cục Chuyển đổi số quốc gia), Bộ Thông tin và Truyền thông; cảm ơn Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã hợp tác với chúng tôi làm cuốn sách này.
Cuốn sách cung cấp thông tin về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Các kỹ thuật lập trình được minh họa qua những bài toán cụ thể tương đương với trình độ nâng cao của học sinh học sinh và sinh viên, đặc biệt bám sát chương trình Tin học dành cho khối chuyên Tin
Các kỹ thuật lập trình và phương pháp xây dựng thuật giải cho những bài toán thường được dùng rộng rãi trong quá trình thiết kế và cài đặt các phần mềm ứng dụng trong thực tiễn, cho nên việc sớm làm chủ các tri thức này là rất cần thiết.
Nội dung sách gồm 13 chương:
Chương 1 : Nhập, xuất dữ liệu
Chương 2: Số học
Chương 3 : Số nguyên tố
Chương 4 : Tập hợp
Chương 5 : Hoán vị
Chương 6 : Tổ hợp
Chương 7 : Sắp xếp
Chương 8 : Tìm kiếm
Chương 9 : Phương pháp Tham
Chương 10 : Phương pháp chia để trị
Chương 11 : Phương pháp quy hoạch động
Chương 12 : Phương pháp quay lui
Chương 13 : ROBOT
Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống, việc xây dựng các hệ thống phần mềm đáp ứng đúng nhu cầu người dùng ngày càng trở nên quan trọng. Để tạo ra một sản phẩm phần mềm chất lượng, quá trình phân tích và thiết kế hệ thống giữ vai trò nền tảng, giúp xác định chính xác yêu cầu, xây dựng mô hình giải pháp và giảm thiểu rủi ro trước khi triển khai lập trình.
Cuốn sách Phân tích thiết kế hướng đối tượng được biên soạn nhằm cung cấp cho sinh viên và người học những kiến thức cơ bản về phân tích, thiết kế hệ thống phần mềm theo phương pháp hướng đối tượng. Nội dung sách được trình bày theo quy trình phát triển phần mềm, gồm năm chương: giới thiệu về phân tích thiết kế hướng đối tượng; thu thập yêu cầu người dùng; xác định yêu cầu hệ thống; phân tích hệ thống; và thiết kế hệ thống. Bên cạnh các kiến thức lý thuyết, cuốn sách còn giới thiệu các mô hình, công cụ và kỹ thuật phổ biến được sử dụng trong thực tiễn phát triển phần mềm.
Nhóm tác giả hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, giảng viên và những người quan tâm đến lĩnh vực phân tích, thiết kế hệ thống phần mềm theo hướng đối tượng.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, thương mại điện tử đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế toàn cầu. Sự xuất hiện và lan tỏa của thương mại điện tử không chỉ thay đổi cách thức kinh doanh, mà còn mở rộng khả năng tiếp cận sản phẩm và dịch vụ, giúp kết nối các thị trường và người tiêu dùng trên khắp thế giới. Thương mại điện tử mang đến cho chúng ta sự tiện lợi chưa từng có, khả năng tiếp cận thị trường không giới hạn và tạo động lực mới cho nền kinh tế. Bên cạnh những lợi ích rõ ràng, thương mại điện tử cũng đặt ra những vấn đề lớn cần được xem xét một cách nghiêm túc, đặc biệt là tác động của nó đối với môi trường tự nhiên. Tại giao điểm của tiến bộ công nghệ và nhu cầu phát triển bền vững, việc nghiên cứu và hiểu rõ tác động của thương mại điện tử đối với môi trường không chỉ mang tính cấp thiết mà còn là một yêu cầu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chính sách và phát triển chiến lược kinh doanh.
Cuốn sách giới thiệu những câu chuyện về chuyển đổi số của Việt Nam, bao gồm các câu chuyện thành công được thực tiễn kiểm chứng là hiệu quả, có thể tham khảo nhân rộng và các câu chuyện sưu tầm có những ý tưởng, giải pháp tiềm năng
5G (5th Generation) hay được gọi là thế hệ thứ 5 của mạng di động với nhiều cải tiến hơn so với 4G. 5G được thiết kế để tăng tốc độ và khả năng phản hồi nhanh chóng của mạng không dây. 5G được ra đời để kế thừa 4G, nhờ đó mà tốc độ tải xuống nhanh hơn, truyền phát dữ liệu mượt mà hơn. 5G không chỉ cải tiến về tốc độ mà nó sẽ mở ra những ứng dụng hoàn toàn mới và tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong những năm tiếp theo. Ngoài các ứng dụng với con người là trung tâm ngày càng rộng khắp, chẳng hạn thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường, phát luồng video 4k, các mạng 5G còn hỗ trợ các nhu cầu truyền thông các ứng dụng thông tin máy - máy (machine to machine), máy - người (machine to human) để làm cho cuộc sống của chúng ta an toàn và tiện lợi hơn.
Mặc dù các hệ thống truyền thông 5G sẽ cung cấp các cải thiện đáng kể so với các hệ thống trước nó, nhưng chúng không thể thực hiện các yêu cầu của các hệ thống tự động và thông minh tương lai sẽ xuất hiện sau 10 năm nữa. Các mạng 5G sẽ không có đủ dung lượng cho một mạng hoàn toàn tự động và thông minh để cung cấp mọi thứ như là một dịch vụ và trải nghiệm thực tế ảo. Sự phát triển nhanh của các hệ thống tự động đặt trọng tâm vào số liệu có thể vượt quá các khả năng của các hệ thống 5G. Một số thiết bị như các thiết bị thực tế ảo sẽ vượt quá khả năng của sau 5G (B5G: Beyond 5G) vì chúng đòi hỏi tốc độ số liệu tối thiểu 10Gbit/s.
Để khắc phục các hạn chế của 5G nhằm hỗ trợ các yêu cầu mới, cần phát triển một hệ thống không dây thế hệ 6 (6G) với các tính năng hấp dẫn mới. Các động lực chính của 6G sẽ là sự hội tụ của tất cả các tính năng cũ như mật độ mạng cao, thông lượng cao, độ tin cậy cao, tiêu thụ công suất thấp và kết nối số đông. 6G cũng sẽ tiếp tục xu thế của các thế hệ trước như đưa ra các dịch vụ mới cùng với các công nghệ bổ sung mới. Các dịch vụ mới bao gồm AI, các thiết bị đeo thông minh, các thiết bị cấy trên người, giao thông tự động, các thiết bị thực tế ảo, cảm biến và lập bản đồ 3D. Yêu cầu quan trọng nhất đối với các mạng 6G là khả năng xử lý khối lượng lớn số liệu và kết nối tốc độ số liệu cao trên một thiết bị.
Recently, several important documents have been enacted by the Government, such as Decision No. 749/QD-TTg of the Prime Minister dated June 3rd, 2020 approving “the National Digital Transformation Program to 2025 and toward 2030”, Decision No. 942/QD-TTg of the Prime Minister dated June 15th, 2021 approving “E-government Development Strategy toward Digital Government for the period 2021 - 2025, oriented to 2030”, Decision No. 411/QD-TTg of the Prime Minister dated March 31st, 2022 approving “National Strategy on Digital Economic and Social Development to 2025 and toward 2030”. Those documents serve as direction for deploying digital transformation, developing digital government, digital economy, and digital society in Viet Nam, in which electronic identity, electronic authentication, and particularly digital signature certification services play important groundworks to ensure legitimacy, safety, and security of all electronic transaction performed by organizations, businesses, and inhabitants in the digital environment.
Digital Signature Development in Viet Nam 2017 - 2022 reflects the current status and readiness of digital signature applications in various ministries, ministerial-level agencies, nd businesses based on data and information provided by 30 ministries and ministerial-level agencies; 63 provincial administrations; Viet Nam Government Information Security Committee (VGISC); General Department of Taxation; General Department of Viet Nam Customs; Viet Nam Social Security; State Securities Committee; the State Treasury; Department of Bidding (Ministry of Planning and Investment); public Certification Authorities and private Certification Authorities.