Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Chuyển đổi số là câu chuyện mới đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia với những mức độ và cách thức khác nhau. Ở nước ta, Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã nhanh chóng lan tỏa trên cả nước. “Chuyển đổi số” đã thành một từ được nói đến hàng ngày trên truyền thông. Cuộc sống của người dân cũng đang dần gắn nhiều hơn với môi trường thực-số. Nhiều doanh nghiệp đang tích cực tìm hiểu và thực hiện chuyển đổi số. Hầu hết các tỉnh thành và bộ ngành đã công bố đề án chuyển đổi số. Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số đã được thành lập và hoạt động để giúp Chính phủ điều hành công cuộc chuyển đổi số của đất nước.
Nhận thức về chuyển đổi số liên quan đến hai vấn đề chính: “chuyển đổi số là gì và vì sao phải làm?” và “làm chuyển đổi số thế nào?”. Trong khi vấn đề thứ nhất được nói đến nhiều thời gian qua, những câu hỏi của vấn đề thứ hai như “cần làm gì để chuyển đổi số?”, “phải bắt đầu từ đâu?”, “ai làm chuyển đổi số?”, “thành bại của chuyển đổi số vì sao?”, “tổ chức việc thực hiện chuyển đổi số thế nào?”… vẫn đang rất cần được trả lời và làm rõ.
Hai năm trước chúng tôi viết cuốn sách “Hỏi đáp về chuyển đổi số” với 200 câu hỏi và trả lời để chia sẻ nhận thức ban đầu của mình về chuyển đổi số là gì. Mong muốn tìm câu trả lời về làm chuyển đổi số thế nào dẫn chúng tôi đến những thách thức mới. Những cuốn sách đã xuất bản trên thế giới phần lớn mô tả các hoạt động cụ thể về chuyển đổi số của doanh nghiệp trong bối cảnh của các nước phát triển và ít về phương pháp làm chuyển đổi số. Gần hai năm qua khi tìm hiểu, trao đổi, trải nghiệm với nhận thức dần rõ hơn, chúng tôi đề xuất phương pháp luận ST-235 về làm chuyển đối số, và viết cuốn sách này để chia sẻ với cộng đồng.
Phương pháp luận ST-235 có cốt lõi là tư duy hệ thống được mô tả với hai phần. Phần một (ST) xác định mô hình hệ sinh thái thực-số của các tổ chức với tám hợp phần chia thành các nhóm về hoạt động chính (sản phẩm-dịch vụ, quy trình vận hành, quản trị-quản lý), về nhân tố thành bại (con người, thể chế, công nghệ), về dữ liệu và kết nối, và về an toàn an ninh hệ thống. Chuyển đổi số của một tổ chức về bản chất là xây dựng hệ sinh thái thực-số của mình từ hệ sinh thái hiện tại, và việc này được thực hiện theo phương thức mô tả ở phần hai (235) của ST-235, với 2 nguyên lý, 3 cặp nguyên tắc, và 5 nội dung cốt lõi cần làm.
Hai nguyên lý của ST-235 là tư tưởng chủ đạo và dẫn dắt toàn bộ quá trình chuyển đổi số, xác định rằng chuyển đổi số là quá trình tự thay đổi một cách hệ thống và chuyển đổi số là quá trình liên tục đổi mới sáng tạo với dữ liệu và kết nối. Ba cặp nguyên tắc của ST-235 xác định những điều cần tuân theo khi thực hiện chuyển đổi số, gồm tổng thể và toàn diện, đồng bộ và đột phá, chính chủ và lãnh đạo. Năm vấn đề cốt lõi mỗi tổ chức cần thực hiện khi chuyển đổi số là con người, thể chế, công nghệ, lộ trình, và quản trị thực thi.
Cuốn sách được chia thành sáu chương. Chương Một tóm tắt những khái niệm và vấn đề cơ bản của chuyển đổi số. Chương Hai giới thiệu phương pháp luận ST-235. Bốn chương tiếp theo trình bày về làm chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực kinh tế-xã hội, các địa phương và doanh nghiệp nhìn theo phương pháp luận ST-235.
Chúng tôi chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Nhóm Thinktank VINASA vì những điều được chia sẻ, được học tập từ các thảo luận về chuyển đổi số vào các sáng thứ bảy hàng tuần. Chúng tôi chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình với những động viên và khuyến khích hoàn thành cuốn sách; cảm ơn các tỉnh thành, các tập đoàn, các doanh nghiệp, tổ chức, trường học, các đơn vị tổ chức tập huấn chuyển đổi số… đã cho chúng tôi cơ hội đến trao đổi, giới thiệu ST-235 và nhận được nhiều câu hỏi thú vị; cảm ơn Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, tổ chức GIZ và 11 trường dạy nghề về hoạt động chuyển đổi số chúng tôi được tham gia trong gần hai năm qua; cảm ơn Cục Tin học hóa (hiện nay là Cục Chuyển đổi số quốc gia), Bộ Thông tin và Truyền thông; cảm ơn Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã hợp tác với chúng tôi làm cuốn sách này.
Truyện tranh Truy tìm thủ phạm giấu mặt đặt kiến thức vào bối cảnh cuộc sống, mong muốn gửi đến người đọc một thông điệp gần gũi nhưng rất thiết thực: trong cuộc sống hiện đại, nhiều thiết bị quen thuộc sử dụng sóng vô tuyến như smartkey, điều khiển từ xa, chuông báo, adapter... có thể vô tình gây ảnh hưởng lẫn nhau nếu xảy ra lỗi hoặc nhiễu tín hiệu.
Từ hơn hai thế kỷ qua lịch sử phát triển loài người còn được nhìn theo các giai đoạn phát triển của công nghiệp: cơ khí hóa, điện khí hóa và tự động hóa. Mỗi giai đoạn này đều bắt đầu với các đột phá lớn của khoa học và công nghệ, dẫn đến thay đổi sâu sắc của sản xuất công nghiệp và ảnh hưởng tới mọi mặt của kinh tế và xã hội. Ở mỗi giai đoạn phát triển ấy, luôn có những quốc gia vượt lên và phát triển.
Việt Nam đã luôn đứng ngoài những cơ hội đó của lịch sử.
Thập kỷ này được xem như bắt đầu của một giai đoạn mới, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với những đột phá của các công nghệ số trên môi trường số, mở ra những cơ hội số của sản xuất thông minh và một xã hội thông minh, mở ra những thay đổi sâu sắc cho xã hội loài người.
Tháng 6/2020, Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Chương trình hướng đến xây dựng Việt Nam thành một quốc gia số lấy người dân là trung tâm với ba mục tiêu: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Chính phủ yêu cầu các bộ ngành, các địa phương nhanh chóng xây dựng chiến lược và chương trình chuyển đổi số của mình và khuyến khích các doanh nghiệp tích cực thực hiện chuyển đổi số.
Chuyển đổi số là cốt lõi của phát triển trong kỷ nguyên số, là cơ hội có một không hai để Việt Nam có thể vượt lên trong một vài thập kỷ tới.
Chúng ta không thể một lần nữa bỏ lỡ cơ hội nhiều chục năm mới có của lịch sử.
Cuốn “Hỏi đáp về Chuyển đổi số” là một nỗ lực chia sẻ nhận thức và kinh nghiệm ban đầu của các tác giả về chuyển đổi số. Cuốn sách được viết dưới dạng những câu hỏi và câu trả lời. Mỗi câu hỏi đề cập đến một vấn đề hay một khía cạnh của chuyển đổi số và trả lời của các tác giả. Cuốn sách được chia thành 5 phần, gồm câu hỏi chung về chuyển đổi số, đột phá của AI và các công nghệ số, chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Câu hỏi trong mỗi phần lại được gộp theo nhóm các vấn đề chuyển đổi số đặt ra là gì, tại sao, thế nào, bao giờ, ai liên quan…
Trước yêu cầu đảm bảo an toàn, ổn định và bền vững cho hạ tầng Internet quốc gia, việc xây dựng một tài liệu chuyên môn về DNS có tính hệ thống, toàn diện, cập nhật và phù hợp với đặc thù kỹ thuật - quản lý tại Việt Nam là hết sức cần thiết. Cuốn sách cung cấp tri thức chuyên sâu về kiến trúc, quản trị, vận hành, tối ưu và bảo mật hệ thống DNS, đồng thời cập nhật các xu hướng công nghệ mới như DNS trong môi trường IPv6, DNSSEC, Anycast, CDN, DNS-over-HTTPS/TLS cũng như ứng dụng, tích hợp DNS với các công nghệ mới như 5G, IoT, AI, Blochchain, Edge-Computing, ...
Bên cạnh các nội dung lỹ thuyết, sách còn tập trung vào các hướng dẫn triển khai thực tiễn, gắn với nhu cầu và điều kiện kỹ thuật tại các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp tại Việt Nam.
Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và làn sóng chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực Công nghiệp Văn hóa. Công nghệ số đã thay đổi triệt để mô hình sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm văn hóa, đồng thời mở ra không gian sáng tạo vô tận với các loại hình mới như nghệ thuật số, thực tế ảo và nền tảng nội dung số. Sự chuyển dịch này đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới trong đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực có đủ năng lực thích ứng và dẫn dắt sự phát triển của Công nghiệp Văn hóa trong kỷ nguyên số.
Vị thế của Công nghiệp Văn hóa ngày càng được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra việc làm, đồng thời là phương tiện hữu hiệu để bảo tồn, phát huy bản sắc và quảng bá hình ảnh quốc gia ra thế giới. Sự chuyển dịch sâu rộng này đặt ra những yêu cầu mới và khắt khe đối với nguồn nhân lực. Nền tảng kiến thức truyền thống không còn đủ, thị trường đang tìm kiếm những chuyên gia có khả năng kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy nghệ thuật, kỹ năng quản lý kinh doanh
sáng tạo và năng lực ứng dụng công nghệ số để tạo ra các sản phẩm văn hóa có giá trị cao trong môi trường số.
5G (5th Generation) hay được gọi là thế hệ thứ 5 của mạng di động với nhiều cải tiến hơn so với 4G. 5G được thiết kế để tăng tốc độ và khả năng phản hồi nhanh chóng của mạng không dây. 5G được ra đời để kế thừa 4G, nhờ đó mà tốc độ tải xuống nhanh hơn, truyền phát dữ liệu mượt mà hơn. 5G không chỉ cải tiến về tốc độ mà nó sẽ mở ra những ứng dụng hoàn toàn mới và tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong những năm tiếp theo. Ngoài các ứng dụng với con người là trung tâm ngày càng rộng khắp, chẳng hạn thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường, phát luồng video 4k, các mạng 5G còn hỗ trợ các nhu cầu truyền thông các ứng dụng thông tin máy - máy (machine to machine), máy - người (machine to human) để làm cho cuộc sống của chúng ta an toàn và tiện lợi hơn.
Mặc dù các hệ thống truyền thông 5G sẽ cung cấp các cải thiện đáng kể so với các hệ thống trước nó, nhưng chúng không thể thực hiện các yêu cầu của các hệ thống tự động và thông minh tương lai sẽ xuất hiện sau 10 năm nữa. Các mạng 5G sẽ không có đủ dung lượng cho một mạng hoàn toàn tự động và thông minh để cung cấp mọi thứ như là một dịch vụ và trải nghiệm thực tế ảo. Sự phát triển nhanh của các hệ thống tự động đặt trọng tâm vào số liệu có thể vượt quá các khả năng của các hệ thống 5G. Một số thiết bị như các thiết bị thực tế ảo sẽ vượt quá khả năng của sau 5G (B5G: Beyond 5G) vì chúng đòi hỏi tốc độ số liệu tối thiểu 10Gbit/s.
Để khắc phục các hạn chế của 5G nhằm hỗ trợ các yêu cầu mới, cần phát triển một hệ thống không dây thế hệ 6 (6G) với các tính năng hấp dẫn mới. Các động lực chính của 6G sẽ là sự hội tụ của tất cả các tính năng cũ như mật độ mạng cao, thông lượng cao, độ tin cậy cao, tiêu thụ công suất thấp và kết nối số đông. 6G cũng sẽ tiếp tục xu thế của các thế hệ trước như đưa ra các dịch vụ mới cùng với các công nghệ bổ sung mới. Các dịch vụ mới bao gồm AI, các thiết bị đeo thông minh, các thiết bị cấy trên người, giao thông tự động, các thiết bị thực tế ảo, cảm biến và lập bản đồ 3D. Yêu cầu quan trọng nhất đối với các mạng 6G là khả năng xử lý khối lượng lớn số liệu và kết nối tốc độ số liệu cao trên một thiết bị.
FJCAI 2026 không chỉ là một sự kiện công bố khoa học, mà còn là không gian kết nối giữa
nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp, và
giữa thế hệ chuyên gia đi trước với lực lượng nghiên cứu trẻ đang phát triển mạnh mẽ.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, thương mại điện tử đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế toàn cầu. Sự xuất hiện và lan tỏa của thương mại điện tử không chỉ thay đổi cách thức kinh doanh, mà còn mở rộng khả năng tiếp cận sản phẩm và dịch vụ, giúp kết nối các thị trường và người tiêu dùng trên khắp thế giới. Thương mại điện tử mang đến cho chúng ta sự tiện lợi chưa từng có, khả năng tiếp cận thị trường không giới hạn và tạo động lực mới cho nền kinh tế. Bên cạnh những lợi ích rõ ràng, thương mại điện tử cũng đặt ra những vấn đề lớn cần được xem xét một cách nghiêm túc, đặc biệt là tác động của nó đối với môi trường tự nhiên. Tại giao điểm của tiến bộ công nghệ và nhu cầu phát triển bền vững, việc nghiên cứu và hiểu rõ tác động của thương mại điện tử đối với môi trường không chỉ mang tính cấp thiết mà còn là một yêu cầu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chính sách và phát triển chiến lược kinh doanh.
Cuốn sách An toàn và bảo mật thông tin trong thời đại số cung cấp những kiến thức và giải pháp thiết thực nhằm bảo đảm an toàn hệ thống thông tin trong bối cảnh Internet và chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ. Nội dung sách tập trung vào các biện pháp kỹ thuật và quản lý như tường lửa, phát hiện xâm nhập, mã hóa dữ liệu, chữ ký điện tử, các giao thức bảo mật và chiến lược bảo mật dựa trên mô hình AAA...
Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống, việc xây dựng các hệ thống phần mềm đáp ứng đúng nhu cầu người dùng ngày càng trở nên quan trọng. Để tạo ra một sản phẩm phần mềm chất lượng, quá trình phân tích và thiết kế hệ thống giữ vai trò nền tảng, giúp xác định chính xác yêu cầu, xây dựng mô hình giải pháp và giảm thiểu rủi ro trước khi triển khai lập trình.
Cuốn sách Phân tích thiết kế hướng đối tượng được biên soạn nhằm cung cấp cho sinh viên và người học những kiến thức cơ bản về phân tích, thiết kế hệ thống phần mềm theo phương pháp hướng đối tượng. Nội dung sách được trình bày theo quy trình phát triển phần mềm, gồm năm chương: giới thiệu về phân tích thiết kế hướng đối tượng; thu thập yêu cầu người dùng; xác định yêu cầu hệ thống; phân tích hệ thống; và thiết kế hệ thống. Bên cạnh các kiến thức lý thuyết, cuốn sách còn giới thiệu các mô hình, công cụ và kỹ thuật phổ biến được sử dụng trong thực tiễn phát triển phần mềm.
Nhóm tác giả hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, giảng viên và những người quan tâm đến lĩnh vực phân tích, thiết kế hệ thống phần mềm theo hướng đối tượng.
Cuốn sách Giải pháp bảo vệ trẻ em trước tác động của môi trường mạng Internet cung cấp những kiến thức và giải pháp thiết thực nhằm bảo vệ trẻ em trước các nguy cơ, rủi ro trên không gian mạng. Sách giúp nhận diện những tác động tiêu cực của Internet, đồng thời đề xuất các biện pháp phòng ngừa, quản lý và hỗ trợ trẻ em sử dụng môi trường mạng an toàn. Nội dung là tài liệu tham khảo hữu ích cho phụ huynh, giáo viên, nhà quản lý và những người quan tâm đến công tác bảo vệ trẻ em trong kỷ nguyên số.
Cuốn sách An toàn và bảo mật thông tin trong kỷ nguyên số cung cấp những kiến thức nền tảng về an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và phòng chống các nguy cơ, rủi ro trên không gian mạng. Sách giúp người đọc nhận diện các mối đe dọa phổ biến, đồng thời trang bị kỹ năng bảo mật cần thiết trong học tập, công việc và đời sống số. Nội dung phù hợp cho sinh viên, cán bộ, người lao động và những ai quan tâm đến việc sử dụng công nghệ an toàn, hiệu quả.