Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Truyện tranh Truy tìm thủ phạm giấu mặt đặt kiến thức vào bối cảnh cuộc sống, mong muốn gửi đến người đọc một thông điệp gần gũi nhưng rất thiết thực: trong cuộc sống hiện đại, nhiều thiết bị quen thuộc sử dụng sóng vô tuyến như smartkey, điều khiển từ xa, chuông báo, adapter... có thể vô tình gây ảnh hưởng lẫn nhau nếu xảy ra lỗi hoặc nhiễu tín hiệu.
FJCAI 2026 không chỉ là một sự kiện công bố khoa học, mà còn là không gian kết nối giữa
nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp, và
giữa thế hệ chuyên gia đi trước với lực lượng nghiên cứu trẻ đang phát triển mạnh mẽ.
Cuốn sách An toàn và bảo mật thông tin trong thời đại số cung cấp những kiến thức và giải pháp thiết thực nhằm bảo đảm an toàn hệ thống thông tin trong bối cảnh Internet và chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ. Nội dung sách tập trung vào các biện pháp kỹ thuật và quản lý như tường lửa, phát hiện xâm nhập, mã hóa dữ liệu, chữ ký điện tử, các giao thức bảo mật và chiến lược bảo mật dựa trên mô hình AAA...
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Trong kiến trúc tổng thể của Trí tuệ nhân tạo (AI) và Xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) hiện đại, đại số tuyến tính là nền tảng toán học chi phối cách dữ liệu được biểu diễn, biến đổi và kết hợp để tạo ra tri thức. Nếu xem xác suất–thống kê cung cấp nguyên lý mô hình hoá sự bất định và xây dựng tiêu chuẩn đánh giá, còn giải tích cung cấp cơ chế tối ưu hoá để mô hình tự điều chỉnh tham số, thì Đại số tuyến tính (Linear Algebra) chính là ngôn ngữ cấu trúc hoá toàn bộ phép tính trong học sâu: từ biểu diễn ngôn ngữ đến cơ chế suy luận và kiến trúc mạng.
Điểm xuất phát của NLP hiện đại là việc chuyển đổi ngôn ngữ rời rạc (token, từ, câu) thành các đối tượng liên tục trong không gian nhiều chiều. Quá trình đó được thực hiện bằng embeddings với mỗi đơn vị ngôn ngữ được gán một vector . Từ đây, hầu hết các phép toán cốt lõi của mô hình trở thành các phép biến đổi tuyến tính và phép toán trên ma trận/tensor: các tầng tuyến tính, chuẩn hoá, chiếu không gian, rút trích đặc trưng, và ghép nối thông tin. Trong Transformer, Attention có thể được nhìn như một chuỗi thao tác đại số tuyến tính trên các ma trận truy vấn-khóa-giá trị (Q, K, V), trong đó tích vô hướng, nhân ma trận và chuẩn hoá đóng vai trò trung tâm để lượng hoá mức độ liên quan và tổng hợp ngữ cảnh.
Trên bình diện tối ưu hoá và suy luận, đại số tuyến tính còn là nền tảng để hiểu hình học của không gian biểu diễn: chuẩn (norm) và khoảng cách để đo độ tương đồng ngữ nghĩa, trực giao và phép chiếu để tách thành phần thông tin, trị riêng và phân rã ma trận để phân tích cấu trúc (PCA, SVD), cũng như điều kiện tốt của bài toán để đảm bảo tính ổn định tính toán. Trong huấn luyện mô hình, các đối tượng gradient và cập nhật tham số cũng được biểu diễn dưới dạng vector–ma trận, cho phép triển khai hiệu quả trên phần cứng song song (GPU/TPU).
Vì vậy, cuốn sách Đại số tuyến tính và ứng dụng trong Trí tuệ nhân tạo và Xử lý ngôn ngữ tự nhiên sẽ hệ thống hoá các khái niệm Đại số tuyến tính cốt lõi như vector, không gian vector, tích vô hướng, chuẩn và khoảng cách, ma trận và phép biến đổi tuyến tính, hệ phương trình tuyến tính, trị riêng–vector riêng, các phép phân rã (đặc biệt SVD), cùng các đối tượng tensor và phép toán liên quan, đặc biệt là ứng dụng cụ thể trong các mô hình AI và NLP như xây dựng và phân tích embeddings, attention, giảm chiều, nén biểu diễn, đánh giá tương đồng ngữ nghĩa và thiết kế kiến trúc tính toán hiệu quả.
Cuốn sách không tập trung chi tiết và sâu về kiến thức Đại số tuyến tính mà chỉ hệ thống hóa lại kiến thức toán nền tảng và ứng dụng trong AI và NLP. Mục tiêu của cuốn sách là hướng đến việc thu hẹp khoảng cách giữa toán học trừu tượng với ứng dụng trong khoa học–kỹ thuật, đặc biệt trong AI và NLP. Từ định nghĩa và công thức, người học sẽ được trải nghiệm thú vị việc ứng dụng Đại số tuyến tính để xây dựng hệ thống AI và NLP thực tế với đầy đủ các bước của quy trình từ xây dựng dữ liệu, tiền xử lý, vector hóa dữ liệu, xây dựng mô hình, cài đặt thuật toán, chạy thử nghiệm, trực quan hóa kết quả và phân tích chỉ số đánh giá. Tác giả kỳ vọng rằng, thông qua trải nghiệm này, bạn đọc sẽ nhận thức rõ lớp toán học nền tảng nằm bên dưới mỗi mô hình và thuật toán AI/NLP, từ đó có nền móng vững chắc để tiếp tục nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo một cách bền vững.
Chuyển đổi số là câu chuyện mới đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia với những mức độ và cách thức khác nhau. Ở nước ta, Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã nhanh chóng lan tỏa trên cả nước. “Chuyển đổi số” đã thành một từ được nói đến hàng ngày trên truyền thông. Cuộc sống của người dân cũng đang dần gắn nhiều hơn với môi trường thực-số. Nhiều doanh nghiệp đang tích cực tìm hiểu và thực hiện chuyển đổi số. Hầu hết các tỉnh thành và bộ ngành đã công bố đề án chuyển đổi số. Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số đã được thành lập và hoạt động để giúp Chính phủ điều hành công cuộc chuyển đổi số của đất nước.
Nhận thức về chuyển đổi số liên quan đến hai vấn đề chính: “chuyển đổi số là gì và vì sao phải làm?” và “làm chuyển đổi số thế nào?”. Trong khi vấn đề thứ nhất được nói đến nhiều thời gian qua, những câu hỏi của vấn đề thứ hai như “cần làm gì để chuyển đổi số?”, “phải bắt đầu từ đâu?”, “ai làm chuyển đổi số?”, “thành bại của chuyển đổi số vì sao?”, “tổ chức việc thực hiện chuyển đổi số thế nào?”… vẫn đang rất cần được trả lời và làm rõ.
Hai năm trước chúng tôi viết cuốn sách “Hỏi đáp về chuyển đổi số” với 200 câu hỏi và trả lời để chia sẻ nhận thức ban đầu của mình về chuyển đổi số là gì. Mong muốn tìm câu trả lời về làm chuyển đổi số thế nào dẫn chúng tôi đến những thách thức mới. Những cuốn sách đã xuất bản trên thế giới phần lớn mô tả các hoạt động cụ thể về chuyển đổi số của doanh nghiệp trong bối cảnh của các nước phát triển và ít về phương pháp làm chuyển đổi số. Gần hai năm qua khi tìm hiểu, trao đổi, trải nghiệm với nhận thức dần rõ hơn, chúng tôi đề xuất phương pháp luận ST-235 về làm chuyển đối số, và viết cuốn sách này để chia sẻ với cộng đồng.
Phương pháp luận ST-235 có cốt lõi là tư duy hệ thống được mô tả với hai phần. Phần một (ST) xác định mô hình hệ sinh thái thực-số của các tổ chức với tám hợp phần chia thành các nhóm về hoạt động chính (sản phẩm-dịch vụ, quy trình vận hành, quản trị-quản lý), về nhân tố thành bại (con người, thể chế, công nghệ), về dữ liệu và kết nối, và về an toàn an ninh hệ thống. Chuyển đổi số của một tổ chức về bản chất là xây dựng hệ sinh thái thực-số của mình từ hệ sinh thái hiện tại, và việc này được thực hiện theo phương thức mô tả ở phần hai (235) của ST-235, với 2 nguyên lý, 3 cặp nguyên tắc, và 5 nội dung cốt lõi cần làm.
Hai nguyên lý của ST-235 là tư tưởng chủ đạo và dẫn dắt toàn bộ quá trình chuyển đổi số, xác định rằng chuyển đổi số là quá trình tự thay đổi một cách hệ thống và chuyển đổi số là quá trình liên tục đổi mới sáng tạo với dữ liệu và kết nối. Ba cặp nguyên tắc của ST-235 xác định những điều cần tuân theo khi thực hiện chuyển đổi số, gồm tổng thể và toàn diện, đồng bộ và đột phá, chính chủ và lãnh đạo. Năm vấn đề cốt lõi mỗi tổ chức cần thực hiện khi chuyển đổi số là con người, thể chế, công nghệ, lộ trình, và quản trị thực thi.
Cuốn sách được chia thành sáu chương. Chương Một tóm tắt những khái niệm và vấn đề cơ bản của chuyển đổi số. Chương Hai giới thiệu phương pháp luận ST-235. Bốn chương tiếp theo trình bày về làm chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực kinh tế-xã hội, các địa phương và doanh nghiệp nhìn theo phương pháp luận ST-235.
Chúng tôi chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Nhóm Thinktank VINASA vì những điều được chia sẻ, được học tập từ các thảo luận về chuyển đổi số vào các sáng thứ bảy hàng tuần. Chúng tôi chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình với những động viên và khuyến khích hoàn thành cuốn sách; cảm ơn các tỉnh thành, các tập đoàn, các doanh nghiệp, tổ chức, trường học, các đơn vị tổ chức tập huấn chuyển đổi số… đã cho chúng tôi cơ hội đến trao đổi, giới thiệu ST-235 và nhận được nhiều câu hỏi thú vị; cảm ơn Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, tổ chức GIZ và 11 trường dạy nghề về hoạt động chuyển đổi số chúng tôi được tham gia trong gần hai năm qua; cảm ơn Cục Tin học hóa (hiện nay là Cục Chuyển đổi số quốc gia), Bộ Thông tin và Truyền thông; cảm ơn Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã hợp tác với chúng tôi làm cuốn sách này.
Nội dung sách cung cấp những kiến thức cơ bản về IoT như: kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong và rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của IoT, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong” do TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng (nguyên Trưởng Bộ môn Vô tuyến - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) biên soạn.
Nội dung của cuốn sách gồm 6 chương:
Chương 1. Tổng quan về IoT
Chương 2. Kiến trúc mạng và ngăn xếp giao thức Internet
Chương 3. Kiến trúc và các giao thức IoT
Chương 4. Điện toán đám mây và sương mù cho IoT
Chương 5. IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0
Chương 6. IoT trong các hệ thống 4G LTE và 5G
Hy vọng, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các trường đại học, các chuyên gia, kỹ sư và bạn đọc quan tâm đến khái niệm, công nghệ và các ứng dụng của IoT.
Nhằm cung cấp cho bạn đọc những nhận thức về hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với những thách thức thời đại đối với lợi ích quốc gia, các cuộc khủng bố và tấn công mạng; một số quy định của pháp luật về bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu của một số quốc gia tiêu biểu về không gian mạng và chiến tranh không gian mạng; về bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia Việt Nam; Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã kết hợp cùng các chuyên gia về an toàn thông tin xuất bản cuốn sách “Hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia - Thách thức toàn cầu và giải pháp”.
Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh (HUFLIT), là một trong những địa điểm đào tạo Công nghệ thông tin hàng đầu ở Việt Nam. Các giảng viên đều tích cực tham gia nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng đào tạo. Cuốn sách này là Kỷ yếu của Hội thảo Khoa học cấp Trường về Công nghệ thông tin, được tổ chức vào ngày 28/09/2020, với sự tham gia của 29 bài báo là kết quả nghiên cứu của các giảng viên HUFLIT và một số giảng viên trường bạn. Các bài báo khoa học được chọn đăng trong kỷ yếu tập trung vào ba hướng chính: ▪ Nghiên cứu chuyên sâu về Công nghệ thông tin ▪ Nghiên cứu về giải pháp Công nghệ thông tin trong công nghiệp ▪ Nghiên cứu giải pháp Công nghệ thông tin trong Đào tạo
Tần số cứu sinh – Nhịp thở đại dương là cuốn sách giúp bạn đọc khám phá vai trò đặc biệt của tần số vô tuyến điện trong công tác thông tin liên lạc trên biển, góp phần bảo đảm an toàn hàng hải và hỗ trợ tìm kiếm, cứu nạn. Thông qua những câu chuyện gần gũi và kiến thức khoa học dễ hiểu, cuốn sách cho thấy phổ tần số vô tuyến điện là tài nguyên quý giá của quốc gia, được quản lý và sử dụng hiệu quả để phục vụ phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và cứu hộ khẩn cấp. Hình ảnh "nhịp thở đại dương" gợi lên sự kết nối bền bỉ giữa con người với biển cả thông qua những tín hiệu vô hình nhưng mang ý nghĩa sống còn. Tác phẩm góp phần nâng cao nhận thức về việc bảo vệ, khai thác hợp lý tài nguyên tần số vô tuyến điện và khơi dậy ý thức trách nhiệm của mỗi công dân trong kỷ nguyên số. Đây là cuốn sách bổ ích dành cho bạn đọc yêu thích khoa học, công nghệ và mong muốn hiểu thêm về những giá trị thầm lặng đang bảo vệ sự an toàn của cuộc sống.
LỜI GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng trên toàn cầu, công nghệ thông tin (CNTT) trở thành nền tảng thiết yếu và là công cụ không thể thiếu trong mọi lĩnh vực của đời sống. Với sinh viên đại học, việc nắm vững kiến thức cơ bản về CNTT không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là điều kiện tiên quyết để học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả trong thời đại số.
Tài liệu Tin học đại cương B được xây dựng nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng nền tảng về CNTT, bao gồm: nguyên lý hoạt động của máy tính điện tử, hệ điều hành, mạng máy tính, Internet, các công cụ tin học văn phòng như MS Word, MS PowerPoint, MS Excel; kỹ năng phân tích và trực quan hóa dữ liệu; cũng như nhận biết các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Blockchain.
Tài liệu bài giảng này được biên soạn trên cơ sở bám sát đề cương học phần chính thức, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa học tập cá nhân và làm việc nhóm, giữa tư duy phân tích và kỹ năng ứng dụng. Mỗi chương đều được thiết kế nhằm giúp sinh viên không chỉ hiểu bản chất của vấn đề mà còn có thể vận dụng linh hoạt vào học tập, nghiên cứu và các tình huống thực tiễn.
Tài liệu hướng đến việc hỗ trợ sinh viên phát triển toàn diện năng lực công nghệ thông tin cơ bản, làm nền tảng vững chắc cho các học phần chuyên ngành và môi trường nghề nghiệp sau này.
Nhóm giảng viên biên soạn mong muốn tài liệu này sẽ trở thành người bạn đồng hành hữu ích trong hành trình học tập và khám phá thế giới số của các bạn sinh viên.
Mọi góp ý, phản hồi từ người học là nguồn động lực quan trọng để chúng tôi tiếp tục hoàn thiện tài liệu tốt hơn trong các phiên bản sau.
Mọi liên hệ xin gửi về địa chỉ email: thuthuy@ntu.edu.vn.
Tại Việt Nam, dữ liệu mở được xem là một trong các nền móng để phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số theo Chiến lược phát triển Kinh tế số, Xã hội số quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Chính phủ cũng đã ban hành Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030, theo đó, dữ liệu và dữ liệu mở sẽ góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, đưa Việt Nam vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đạt mức thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và đạt mức thu nhập cao vào năm 2045.
Cuốn sách “Hệ sinh thái dữ liệu chính phủ mở cho doanh nghiệp Việt Nam” được biên soạn nhằm đạt được mục tiêu về xây dựng dữ liệu mở của cơ quan nhà nước phục vụ xây dựng chính phủ số, phát triển kinh tế số và xã hội số, để hiện thực hóa được các lợi ích của dữ liệu mở của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp, cần các nghiên cứu về mô hình triển khai hệ thống dữ liệu mở của chính phủ cũng như cần đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng tới việc chấp nhận sử dụng dịch vụ dữ liệu mở của các doanh nghiệp.