Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Năm 1948, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, mục đích của thi đua là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Ngày nay, khi giặc ngoại xâm đã được đánh đuổi thì giặc đói và giặc dốt là hai mục tiêu chính, xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Diệt giặc đói chính là xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất của người dân; diệt giặc dốt là giảm nghèo thông tin, nâng cao hiểu biết góp phần nâng cao đời sống tinh thần.
Ngày 18/01/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 90/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025”, mục tiêu của Chương trình là giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, trong đó có giảm nghèo về thông tin. Trên cơ sở đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 06/2022/TT-BTTTT ngày 30/6/2022 hướng dẫn thực hiện dự án truyền thông và giảm nghèo về thông tin thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền - Nguyễn Thị Thanh Thủy - Nguyễn Thị Lý - Lê Thị Hồng Nhung biên soạn và xuất bản cuốn sách “Chuyển đổi số nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã”.
Hợp tác xã với vai trò là thành phần kinh tế tập thể trong nền kinh tế, đang từng bước Chuyển đổi số nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh và tiếp cận thị trường trong xu hướng phát triển của nền kinh tế số hiện nay. Chuyển đổi số trong hợp tác xã ở Việt Nam có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển nền kinh tế quốc gia trong tiến trình phát triển và hội nhập.
Nội dung cuốn sách trên cơ sở phân tích thực trạng chuyển đổi số của các hợp tác xã và nhìn nhận những vấn đề đặt ra với vấn đề chuyển đổi số của các hợp tác xã, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong hợp tác xã hiện nay.
Chuyển đổi số là câu chuyện mới đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia với những mức độ và cách thức khác nhau. Ở nước ta, Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã nhanh chóng lan tỏa trên cả nước. “Chuyển đổi số” đã thành một từ được nói đến hàng ngày trên truyền thông. Cuộc sống của người dân cũng đang dần gắn nhiều hơn với môi trường thực-số. Nhiều doanh nghiệp đang tích cực tìm hiểu và thực hiện chuyển đổi số. Hầu hết các tỉnh thành và bộ ngành đã công bố đề án chuyển đổi số. Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số đã được thành lập và hoạt động để giúp Chính phủ điều hành công cuộc chuyển đổi số của đất nước.
Nhận thức về chuyển đổi số liên quan đến hai vấn đề chính: “chuyển đổi số là gì và vì sao phải làm?” và “làm chuyển đổi số thế nào?”. Trong khi vấn đề thứ nhất được nói đến nhiều thời gian qua, những câu hỏi của vấn đề thứ hai như “cần làm gì để chuyển đổi số?”, “phải bắt đầu từ đâu?”, “ai làm chuyển đổi số?”, “thành bại của chuyển đổi số vì sao?”, “tổ chức việc thực hiện chuyển đổi số thế nào?”… vẫn đang rất cần được trả lời và làm rõ.
Hai năm trước chúng tôi viết cuốn sách “Hỏi đáp về chuyển đổi số” với 200 câu hỏi và trả lời để chia sẻ nhận thức ban đầu của mình về chuyển đổi số là gì. Mong muốn tìm câu trả lời về làm chuyển đổi số thế nào dẫn chúng tôi đến những thách thức mới. Những cuốn sách đã xuất bản trên thế giới phần lớn mô tả các hoạt động cụ thể về chuyển đổi số của doanh nghiệp trong bối cảnh của các nước phát triển và ít về phương pháp làm chuyển đổi số. Gần hai năm qua khi tìm hiểu, trao đổi, trải nghiệm với nhận thức dần rõ hơn, chúng tôi đề xuất phương pháp luận ST-235 về làm chuyển đối số, và viết cuốn sách này để chia sẻ với cộng đồng.
Phương pháp luận ST-235 có cốt lõi là tư duy hệ thống được mô tả với hai phần. Phần một (ST) xác định mô hình hệ sinh thái thực-số của các tổ chức với tám hợp phần chia thành các nhóm về hoạt động chính (sản phẩm-dịch vụ, quy trình vận hành, quản trị-quản lý), về nhân tố thành bại (con người, thể chế, công nghệ), về dữ liệu và kết nối, và về an toàn an ninh hệ thống. Chuyển đổi số của một tổ chức về bản chất là xây dựng hệ sinh thái thực-số của mình từ hệ sinh thái hiện tại, và việc này được thực hiện theo phương thức mô tả ở phần hai (235) của ST-235, với 2 nguyên lý, 3 cặp nguyên tắc, và 5 nội dung cốt lõi cần làm.
Hai nguyên lý của ST-235 là tư tưởng chủ đạo và dẫn dắt toàn bộ quá trình chuyển đổi số, xác định rằng chuyển đổi số là quá trình tự thay đổi một cách hệ thống và chuyển đổi số là quá trình liên tục đổi mới sáng tạo với dữ liệu và kết nối. Ba cặp nguyên tắc của ST-235 xác định những điều cần tuân theo khi thực hiện chuyển đổi số, gồm tổng thể và toàn diện, đồng bộ và đột phá, chính chủ và lãnh đạo. Năm vấn đề cốt lõi mỗi tổ chức cần thực hiện khi chuyển đổi số là con người, thể chế, công nghệ, lộ trình, và quản trị thực thi.
Cuốn sách được chia thành sáu chương. Chương Một tóm tắt những khái niệm và vấn đề cơ bản của chuyển đổi số. Chương Hai giới thiệu phương pháp luận ST-235. Bốn chương tiếp theo trình bày về làm chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực kinh tế-xã hội, các địa phương và doanh nghiệp nhìn theo phương pháp luận ST-235.
Chúng tôi chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Nhóm Thinktank VINASA vì những điều được chia sẻ, được học tập từ các thảo luận về chuyển đổi số vào các sáng thứ bảy hàng tuần. Chúng tôi chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình với những động viên và khuyến khích hoàn thành cuốn sách; cảm ơn các tỉnh thành, các tập đoàn, các doanh nghiệp, tổ chức, trường học, các đơn vị tổ chức tập huấn chuyển đổi số… đã cho chúng tôi cơ hội đến trao đổi, giới thiệu ST-235 và nhận được nhiều câu hỏi thú vị; cảm ơn Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, tổ chức GIZ và 11 trường dạy nghề về hoạt động chuyển đổi số chúng tôi được tham gia trong gần hai năm qua; cảm ơn Cục Tin học hóa (hiện nay là Cục Chuyển đổi số quốc gia), Bộ Thông tin và Truyền thông; cảm ơn Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã hợp tác với chúng tôi làm cuốn sách này.
Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và làn sóng chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực Công nghiệp Văn hóa. Công nghệ số đã thay đổi triệt để mô hình sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm văn hóa, đồng thời mở ra không gian sáng tạo vô tận với các loại hình mới như nghệ thuật số, thực tế ảo và nền tảng nội dung số. Sự chuyển dịch này đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới trong đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực có đủ năng lực thích ứng và dẫn dắt sự phát triển của Công nghiệp Văn hóa trong kỷ nguyên số.
Vị thế của Công nghiệp Văn hóa ngày càng được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra việc làm, đồng thời là phương tiện hữu hiệu để bảo tồn, phát huy bản sắc và quảng bá hình ảnh quốc gia ra thế giới. Sự chuyển dịch sâu rộng này đặt ra những yêu cầu mới và khắt khe đối với nguồn nhân lực. Nền tảng kiến thức truyền thống không còn đủ, thị trường đang tìm kiếm những chuyên gia có khả năng kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy nghệ thuật, kỹ năng quản lý kinh doanh
sáng tạo và năng lực ứng dụng công nghệ số để tạo ra các sản phẩm văn hóa có giá trị cao trong môi trường số.
The Fourth Industrial Revolution and the ongoing wave of digital transformation are profoundly influencing all areas of life worldwide, particularly the Cultural Industry. Digital technology has fundamentally reshaped the models of production, distribution, and consumption of cultural products, while simultaneously opening up boundless creative spaces through emerging forms such as digital art, virtual reality, and digital content platforms. This transformation presents an urgent need for innovation in education and training to provide human resources capable of adapting to, and leading the evolution of the Cultural Industry in the digital era.
The position of Cultural Industry is increasingly recognized as a key economic sector that plays an essential role in driving economic growth, generating employment, and serving as an effective means of preserving, promoting, and disseminating national identity and cultural values globally. This profound transformation sets forth new and demanding requirements for human resources.
Traditional knowledge alone is no longer sufficient; the market now seeks for professionals who can integrate artistic thinking, creative business management skills, and the ability to apply digital technology to generate high-value cultural products in the digital environment.
"Sáng tạo sản phẩm số - Ai cũng dùng AI - Ứng dụng Power BI Service và AutoML trong lĩnh vực dầu khí" là cuốn sách đầu tiên trong loạt sách "Ai cũng dùng AI" của Viện Dầu khí Việt Nam. Đây là một cuốn sách cung cấp giá trị kiến thức và nguồn cảm hứng cho những ai muốn tiến xa hơn trong thế giới số.
Mục tiêu của nhóm tác giả khi viết cuốn sách này không chỉ là truyền đạt kiến thức, mà còn là khơi dậy niềm đam mê sáng tạo. Chúng tôi muốn quý vị, những nhà nghiên cứu, những người làm việc trong ngành dầu khí, sẽ thấy được tiềm năng to lớn của công nghệ số trong việc cải thiện công việc của mình.
Đặc biệt, cuốn sách này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về công nghệ AI, Power BI Service và AutoML - những công nghệ đang thay đổi cách chúng ta làm việc, học hỏi và tạo ra giá trị. Đồng thời, chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ số trong ngành dầu khí. Trong suốt hơn 60 năm qua, ngành Dầu khí Việt Nam đã cung cấp nguồn năng lượng cho đất nước, thúc đẩy sự phát triển không chỉ về kinh tế mà còn đối với nhiều lĩnh vực khác. Những người làm việc trong ngành Dầu khí đã cống hiến, đã chịu trách nhiệm với sứ mệnh lớn lao này. Bây giờ, hãy tưởng tượng rằng, nếu bạn có thêm một người đồng hành không biết mệt mỏi, luôn sẵn sàng hỗ trợ, có khả năng học hỏi nhanh chóng và giúp cải thiện hiệu suất công việc. Đó chính là AI, công nghệ trí tuệ nhân tạo.
Đến với "Sáng tạo sản phẩm số - Ai cũng dùng AI - Ứng dụng Power BI Service và AutoML trong lĩnh vực dầu khí", bạn sẽ thấy rõ hơn về sức mạnh của Power BI Service và AutoML - những công cụ giúp bạn nhanh chóng tổ chức, biểu diễn và chia sẻ dữ liệu cũng như sản phẩm của mình. Đây là những công cụ tiện lợi, như một bước đệm để bạn tiếp cận và ứng dụng công nghệ AI vào công việc nghiên cứu khoa học của mình.
Công nghệ AI không còn xa lạ nữa khi chúng ta có ChatGPT và những công cụ AI khác dựa trên ngôn ngữ tự nhiên, giúp bạn tạo ra các tri thức mới, đồng thời hỗ trợ cho phương pháp làm việc truyền thống trong ngành dầu khí. Điều thú vị nhất là, đây chỉ mới là khởi đầu. "Ai cũng dùng AI" sẽ tiếp tục giới thiệu đến bạn những công cụ và kiến thức cao cấp hơn thông qua ngôn ngữ lập trình Python, cùng với sự áp dụng của các mô hình vật lý - địa chất từ các chuyên gia của Viện Dầu khí Việt Nam.
Với cuốn sách này, Viện Dầu khí Việt Nam mong muốn bạn không chỉ học hỏi kiến thức mới mà còn tìm thấy niềm đam mê, sức mạnh sáng tạo từ bên trong, để cùng chúng tôi khám phá và tạo ra những giá trị mới cho ngành dầu khí và đất nước. Với AI, tất cả các cán bộ làm việc trong ngành dầu khí, từ thượng nguồn tới hạ nguồn, từ kỹ thuật tới kinh tế, quản lý, đều có thể tận dụng những công cụ mới mạnh mẽ này để tối ưu hóa công việc, tạo ra các giải pháp mới và tiếp tục sứ mệnh tìm kiếm, khai thác nguồn năng lượng cho đất nước.
Chúng ta đang ở trên con đường mới mà AI sẽ giúp chúng ta đi nhanh hơn, xa hơn. "Sáng tạo sản phẩm số - Ai cũng dùng AI - Ứng dụng Power BI Service và AutoML trong lĩnh vực dầu khí" chính là bước khởi đầu, là cầu nối giữa con người, dầu khí và thế giới của AI. Với sự hỗ trợ của AI, chúng ta sẽ cùng nhau tiếp tục sứ mệnh cao cả, đảm bảo nguồn năng lượng cho sự phát triển bền vững của đất nước
Những năm gần đây, mạng xã hội đã có bước phát triển mạnh mẽ, tác động lớn đến đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mạng xã hội đã trở thành một thuật ngữ phổ biến với những tính năng đa dạng cho phép người dùng kết nối, chia sẻ, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả. Không thể phủ nhận vai trò tích cực của mạng xã hội, song cũng phải nhận thấy mạng xã hội cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng và an ninh trật tự.
Hiện nay, tại Việt Nam có rất nhiều các mạng xã hội, một số các mạng xã hội tiêu biểu hay được sử dụng như: Facebook, Zalo, Twitter, YouTube,… Số lượng người dùng mạng xã hội ở Việt Nam ngày càng gia tăng ở tất cả các lứa tuổi và điều đó đặt ra những vấn đề, thách thức về mặt an toàn, bảo mật thông tin riêng tư của người dùng. Nhất là trong bối cảnh có hàng trăm vụ lộ lọt thông tin người dùng, hàng triệu vụ tấn công lừa đảo người dùng được thực hiện thông qua mạng xã hội được báo cáo hàng năm.
Nhằm cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cơ bản nhất về mạng xã hội, đặc biệt là những nguy cơ, vấn đề an toàn liên quan khi sử dụng mạng xã hội, đồng thời sẽ giúp bạn đọc hình thành những kỹ năng cơ bản để đảm bảo an toàn cho bản thân khi sử dụng mạng xã hội, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã kết hợp cùng các chuyên gia về An toàn thông tin xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn sử dụng mạng xã hội an toàn dành cho người dân”.
Nội dung cuốn sách gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Mạng xã hội và sử dụng mạng xã hội an toàn
Chương 2: Nguy cơ gây mất an toàn khi sử dụng mạng xã hội và giải pháp phòng ngừa
Chương 3: Xử lý, khắc phục sự cố mất an toàn khi sử dụng mạng xã hội
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, thương mại điện tử đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế toàn cầu. Sự xuất hiện và lan tỏa của thương mại điện tử không chỉ thay đổi cách thức kinh doanh, mà còn mở rộng khả năng tiếp cận sản phẩm và dịch vụ, giúp kết nối các thị trường và người tiêu dùng trên khắp thế giới. Thương mại điện tử mang đến cho chúng ta sự tiện lợi chưa từng có, khả năng tiếp cận thị trường không giới hạn và tạo động lực mới cho nền kinh tế. Bên cạnh những lợi ích rõ ràng, thương mại điện tử cũng đặt ra những vấn đề lớn cần được xem xét một cách nghiêm túc, đặc biệt là tác động của nó đối với môi trường tự nhiên. Tại giao điểm của tiến bộ công nghệ và nhu cầu phát triển bền vững, việc nghiên cứu và hiểu rõ tác động của thương mại điện tử đối với môi trường không chỉ mang tính cấp thiết mà còn là một yêu cầu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chính sách và phát triển chiến lược kinh doanh.
Cuốn sách giới thiệu những câu chuyện về chuyển đổi số của Việt Nam, bao gồm các câu chuyện thành công được thực tiễn kiểm chứng là hiệu quả, có thể tham khảo nhân rộng và các câu chuyện sưu tầm có những ý tưởng, giải pháp tiềm năng
Nội dung sách cung cấp những kiến thức cơ bản về IoT như: kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong và rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của IoT, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong” do TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng (nguyên Trưởng Bộ môn Vô tuyến - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) biên soạn.
Nội dung của cuốn sách gồm 6 chương:
Chương 1. Tổng quan về IoT
Chương 2. Kiến trúc mạng và ngăn xếp giao thức Internet
Chương 3. Kiến trúc và các giao thức IoT
Chương 4. Điện toán đám mây và sương mù cho IoT
Chương 5. IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0
Chương 6. IoT trong các hệ thống 4G LTE và 5G
Hy vọng, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các trường đại học, các chuyên gia, kỹ sư và bạn đọc quan tâm đến khái niệm, công nghệ và các ứng dụng của IoT.
Nhằm cung cấp cho bạn đọc những nhận thức về hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với những thách thức thời đại đối với lợi ích quốc gia, các cuộc khủng bố và tấn công mạng; một số quy định của pháp luật về bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu của một số quốc gia tiêu biểu về không gian mạng và chiến tranh không gian mạng; về bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia Việt Nam; Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã kết hợp cùng các chuyên gia về an toàn thông tin xuất bản cuốn sách “Hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia - Thách thức toàn cầu và giải pháp”.
Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Hiện nay, trong bối cảnh khoa học công nghệ ngày càng phát triển, các quốc gia trên thế giới từng bước triển khai thúc đẩy chương trình chuyển đổi số, Chính phủ Việt Nam cũng đã và đang đang có những kế hoạch cụ thể triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia. Phát triển Chính phủ số có toàn bộ hoạt động an toàn trên môi trường số, có mô hình hoạt động được thiết kế lại và vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số là rất quan trọng. Do đó, việc Chính phủ nghiên cứu để hoàn thiện tổ chức và hoạt động, ứng dụng nền tảng, công nghệ hiện đại tinh gọn cơ cấu tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động là rất quan trọng. Trong bối cảnh đó, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với TS. Phạm Ngọc Huyền biên soạn và xuất bản cuốn sách “Ứng dụng nền tảng số trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ”