Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và truyền thông nói chung và Thương mại điện tử nói riêng làm cho vấn đề đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với các hệ thống lưu trữ và truyền thông. Trong đó, lý thuyết về mật mã hóa và các kỹ thuật giấu tin trong đa phương tiện đóng một vai trò rất quan trọng. Hiện nay, Nhà nước ta đang triển khai dịch vụ Công qua hệ thống Internet. Khi chuyển tải hoặc lưu trữ thông tin trên môi trường Internet, việc mất thông tin hoặc thông tin bị sửa đổi cho mục đích xấu là khó tránh khỏi. Ngoài ra, các hệ thống thanh toán liên ngân hàng, Thương mại điện tử (TMĐT), và quản lý các văn bản Công đang được phổ biến rộng rãi nên đã xuất hiện ngày càng tinh vi sự giả mạo, đánh cắp thông tin hoặc thay đổi nội dung thông tin là những hiện tượng đáng lo ngại. Do đó, giải pháp mật mã học và giấu tin trong đa phương tiện là những giải pháp không thể thiếu, không những thế chúng cần được nghiên cứu và phát triển.
Nội dung của cuốn sách gồm 6 chương: Chương 1: Vấn đề an toàn – an ninh thông tin Chương 2: Một số kiến thức bổ trợ Chương 3: Một số hệ mật mã cổ điển Chương 4: Một số hệ mật mã hiện đại Chương 5: Lược đồ chữ ký chống chối bỏ Chương 6: Giấu tin trong đa phương tiện và vấn đề phát hiện ảnh chứa thông tin ẩn. Hy vọng cuốn sách sẽ thực sự hữu ích đối với các sinh viên, các cán bộ nghiên cứu, các học viên cao học về lĩnh vực mật mã và an toàn thông tin. Cuốn sách cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho tất cả các bạn đọc yêu thích về an toàn thông tin nói riêng và công nghệ thông tin nói chung.
Nhằm cung cấp cho bạn đọc những nhận thức về hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với những thách thức thời đại đối với lợi ích quốc gia, các cuộc khủng bố và tấn công mạng; một số quy định của pháp luật về bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu của một số quốc gia tiêu biểu về không gian mạng và chiến tranh không gian mạng; về bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia Việt Nam; Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã kết hợp cùng các chuyên gia về an toàn thông tin xuất bản cuốn sách “Hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia - Thách thức toàn cầu và giải pháp”.
Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
5G (5th Generation) hay được gọi là thế hệ thứ 5 của mạng di động với nhiều cải tiến hơn so với 4G. 5G được thiết kế để tăng tốc độ và khả năng phản hồi nhanh chóng của mạng không dây. 5G được ra đời để kế thừa 4G, nhờ đó mà tốc độ tải xuống nhanh hơn, truyền phát dữ liệu mượt mà hơn. 5G không chỉ cải tiến về tốc độ mà nó sẽ mở ra những ứng dụng hoàn toàn mới và tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong những năm tiếp theo. Ngoài các ứng dụng với con người là trung tâm ngày càng rộng khắp, chẳng hạn thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường, phát luồng video 4k, các mạng 5G còn hỗ trợ các nhu cầu truyền thông các ứng dụng thông tin máy - máy (machine to machine), máy - người (machine to human) để làm cho cuộc sống của chúng ta an toàn và tiện lợi hơn.
Mặc dù các hệ thống truyền thông 5G sẽ cung cấp các cải thiện đáng kể so với các hệ thống trước nó, nhưng chúng không thể thực hiện các yêu cầu của các hệ thống tự động và thông minh tương lai sẽ xuất hiện sau 10 năm nữa. Các mạng 5G sẽ không có đủ dung lượng cho một mạng hoàn toàn tự động và thông minh để cung cấp mọi thứ như là một dịch vụ và trải nghiệm thực tế ảo. Sự phát triển nhanh của các hệ thống tự động đặt trọng tâm vào số liệu có thể vượt quá các khả năng của các hệ thống 5G. Một số thiết bị như các thiết bị thực tế ảo sẽ vượt quá khả năng của sau 5G (B5G: Beyond 5G) vì chúng đòi hỏi tốc độ số liệu tối thiểu 10Gbit/s.
Để khắc phục các hạn chế của 5G nhằm hỗ trợ các yêu cầu mới, cần phát triển một hệ thống không dây thế hệ 6 (6G) với các tính năng hấp dẫn mới. Các động lực chính của 6G sẽ là sự hội tụ của tất cả các tính năng cũ như mật độ mạng cao, thông lượng cao, độ tin cậy cao, tiêu thụ công suất thấp và kết nối số đông. 6G cũng sẽ tiếp tục xu thế của các thế hệ trước như đưa ra các dịch vụ mới cùng với các công nghệ bổ sung mới. Các dịch vụ mới bao gồm AI, các thiết bị đeo thông minh, các thiết bị cấy trên người, giao thông tự động, các thiết bị thực tế ảo, cảm biến và lập bản đồ 3D. Yêu cầu quan trọng nhất đối với các mạng 6G là khả năng xử lý khối lượng lớn số liệu và kết nối tốc độ số liệu cao trên một thiết bị.
Cuốn sách giới thiệu những câu chuyện về chuyển đổi số của Việt Nam, bao gồm các câu chuyện thành công được thực tiễn kiểm chứng là hiệu quả, có thể tham khảo nhân rộng và các câu chuyện sưu tầm có những ý tưởng, giải pháp tiềm năng
Cuốn sách "Chuyên Tin 11: Các chuyên đề chọn lọc với ngôn ngữ C++ (Lý thuyết, bài tập và lời giải)" được biên soạn nhằm cung cấp các chuyên đề chọn lọc với các bài Toán Tin nâng cao cho học sinh các khối chuyên lớp 11, định hướng tới những kỹ thuật lập trình cơ bản để giải những bài toán khó trên máy tính.
Nội dung của cuốn sách gồm 5 chương giới thiệu về: Advanced Data Structures; Graph; Advanced Sorting; Ứng dụng các chiến lược thiết kế thuật toán nâng cao; Thiết kế và và phát triển một số sản phẩm phần mềm ứng dụng.
FJCAI 2026 không chỉ là một sự kiện công bố khoa học, mà còn là không gian kết nối giữa
nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, giữa trường đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp, và
giữa thế hệ chuyên gia đi trước với lực lượng nghiên cứu trẻ đang phát triển mạnh mẽ.
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Trong kiến trúc tổng thể của Trí tuệ nhân tạo (AI) và Xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) hiện đại, đại số tuyến tính là nền tảng toán học chi phối cách dữ liệu được biểu diễn, biến đổi và kết hợp để tạo ra tri thức. Nếu xem xác suất–thống kê cung cấp nguyên lý mô hình hoá sự bất định và xây dựng tiêu chuẩn đánh giá, còn giải tích cung cấp cơ chế tối ưu hoá để mô hình tự điều chỉnh tham số, thì Đại số tuyến tính (Linear Algebra) chính là ngôn ngữ cấu trúc hoá toàn bộ phép tính trong học sâu: từ biểu diễn ngôn ngữ đến cơ chế suy luận và kiến trúc mạng.
Điểm xuất phát của NLP hiện đại là việc chuyển đổi ngôn ngữ rời rạc (token, từ, câu) thành các đối tượng liên tục trong không gian nhiều chiều. Quá trình đó được thực hiện bằng embeddings với mỗi đơn vị ngôn ngữ được gán một vector . Từ đây, hầu hết các phép toán cốt lõi của mô hình trở thành các phép biến đổi tuyến tính và phép toán trên ma trận/tensor: các tầng tuyến tính, chuẩn hoá, chiếu không gian, rút trích đặc trưng, và ghép nối thông tin. Trong Transformer, Attention có thể được nhìn như một chuỗi thao tác đại số tuyến tính trên các ma trận truy vấn-khóa-giá trị (Q, K, V), trong đó tích vô hướng, nhân ma trận và chuẩn hoá đóng vai trò trung tâm để lượng hoá mức độ liên quan và tổng hợp ngữ cảnh.
Trên bình diện tối ưu hoá và suy luận, đại số tuyến tính còn là nền tảng để hiểu hình học của không gian biểu diễn: chuẩn (norm) và khoảng cách để đo độ tương đồng ngữ nghĩa, trực giao và phép chiếu để tách thành phần thông tin, trị riêng và phân rã ma trận để phân tích cấu trúc (PCA, SVD), cũng như điều kiện tốt của bài toán để đảm bảo tính ổn định tính toán. Trong huấn luyện mô hình, các đối tượng gradient và cập nhật tham số cũng được biểu diễn dưới dạng vector–ma trận, cho phép triển khai hiệu quả trên phần cứng song song (GPU/TPU).
Vì vậy, cuốn sách Đại số tuyến tính và ứng dụng trong Trí tuệ nhân tạo và Xử lý ngôn ngữ tự nhiên sẽ hệ thống hoá các khái niệm Đại số tuyến tính cốt lõi như vector, không gian vector, tích vô hướng, chuẩn và khoảng cách, ma trận và phép biến đổi tuyến tính, hệ phương trình tuyến tính, trị riêng–vector riêng, các phép phân rã (đặc biệt SVD), cùng các đối tượng tensor và phép toán liên quan, đặc biệt là ứng dụng cụ thể trong các mô hình AI và NLP như xây dựng và phân tích embeddings, attention, giảm chiều, nén biểu diễn, đánh giá tương đồng ngữ nghĩa và thiết kế kiến trúc tính toán hiệu quả.
Cuốn sách không tập trung chi tiết và sâu về kiến thức Đại số tuyến tính mà chỉ hệ thống hóa lại kiến thức toán nền tảng và ứng dụng trong AI và NLP. Mục tiêu của cuốn sách là hướng đến việc thu hẹp khoảng cách giữa toán học trừu tượng với ứng dụng trong khoa học–kỹ thuật, đặc biệt trong AI và NLP. Từ định nghĩa và công thức, người học sẽ được trải nghiệm thú vị việc ứng dụng Đại số tuyến tính để xây dựng hệ thống AI và NLP thực tế với đầy đủ các bước của quy trình từ xây dựng dữ liệu, tiền xử lý, vector hóa dữ liệu, xây dựng mô hình, cài đặt thuật toán, chạy thử nghiệm, trực quan hóa kết quả và phân tích chỉ số đánh giá. Tác giả kỳ vọng rằng, thông qua trải nghiệm này, bạn đọc sẽ nhận thức rõ lớp toán học nền tảng nằm bên dưới mỗi mô hình và thuật toán AI/NLP, từ đó có nền móng vững chắc để tiếp tục nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo một cách bền vững.
Các kỹ thuật lập trình được minh họa qua những bài toán cụ thể tương đương với trình độ nâng cao của học sinh học sinh và sinh viên, đặc biệt bám sát chương trình Tin học dành cho khối chuyên Tin
Các kỹ thuật lập trình và phương pháp xây dựng thuật giải cho những bài toán thường được dùng rộng rãi trong quá trình thiết kế và cài đặt các phần mềm ứng dụng trong thực tiễn, cho nên việc sớm làm chủ các tri thức này là rất cần thiết.
Nội dung sách gồm 13 chương:
Chương 1 : Nhập, xuất dữ liệu
Chương 2: Số học
Chương 3 : Số nguyên tố
Chương 4 : Tập hợp
Chương 5 : Hoán vị
Chương 6 : Tổ hợp
Chương 7 : Sắp xếp
Chương 8 : Tìm kiếm
Chương 9 : Phương pháp Tham
Chương 10 : Phương pháp chia để trị
Chương 11 : Phương pháp quy hoạch động
Chương 12 : Phương pháp quay lui
Chương 13 : ROBOT
Nhằm khuyến khích toàn dân nâng cao nhận thức và đưa mục tiêu phát triển chuyển đổi số vào cuộc sống, theo đề nghị của Bộ Thông tin và Truyền thông, được sự đồng thuận của tác giả David L Rodgers, Trường Doanh nhân PACE đã phối hợp với Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tổ chức xuất bản cuốn sách “Tóm lược Chuyển đổi số - Chiến lược & Lộ trình” nhằm cung cấp một phiên bản tinh gọn từ 02 cuốn sách giá trị trên, phù hợp cho cả hai đối tượng độc giả: những người quan tâm đến chuyển đổi số ở tầm chiến lược và những người thực thi chuyển đổi số.
Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại hộ gia đình/hợp tác xã là cuốn sách tập trung giới thiệu vai trò và lợi ích của công nghệ số trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp và kinh tế hộ. Nội dung sách trình bày các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong tổ chức sản xuất, quản lý quy trình, truy xuất nguồn gốc, bảo quản và chế biến sản phẩm. Đồng thời, sách phân tích cách thức tận dụng nền tảng số, thương mại điện tử và mạng xã hội để mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm. Cuốn sách cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong quá trình chuyển đổi số ở hộ gia đình và hợp tác xã hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các mô hình, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực quản lý, tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho khu vực kinh tế nông thôn.
Từ hơn hai thế kỷ qua lịch sử phát triển loài người còn được nhìn theo các giai đoạn phát triển của công nghiệp: cơ khí hóa, điện khí hóa và tự động hóa. Mỗi giai đoạn này đều bắt đầu với các đột phá lớn của khoa học và công nghệ, dẫn đến thay đổi sâu sắc của sản xuất công nghiệp và ảnh hưởng tới mọi mặt của kinh tế và xã hội. Ở mỗi giai đoạn phát triển ấy, luôn có những quốc gia vượt lên và phát triển.
Việt Nam đã luôn đứng ngoài những cơ hội đó của lịch sử.
Thập kỷ này được xem như bắt đầu của một giai đoạn mới, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với những đột phá của các công nghệ số trên môi trường số, mở ra những cơ hội số của sản xuất thông minh và một xã hội thông minh, mở ra những thay đổi sâu sắc cho xã hội loài người.
Tháng 6/2020, Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Chương trình hướng đến xây dựng Việt Nam thành một quốc gia số lấy người dân là trung tâm với ba mục tiêu: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Chính phủ yêu cầu các bộ ngành, các địa phương nhanh chóng xây dựng chiến lược và chương trình chuyển đổi số của mình và khuyến khích các doanh nghiệp tích cực thực hiện chuyển đổi số.
Chuyển đổi số là cốt lõi của phát triển trong kỷ nguyên số, là cơ hội có một không hai để Việt Nam có thể vượt lên trong một vài thập kỷ tới.
Chúng ta không thể một lần nữa bỏ lỡ cơ hội nhiều chục năm mới có của lịch sử.
Cuốn “Hỏi đáp về Chuyển đổi số” là một nỗ lực chia sẻ nhận thức và kinh nghiệm ban đầu của các tác giả về chuyển đổi số. Cuốn sách được viết dưới dạng những câu hỏi và câu trả lời. Mỗi câu hỏi đề cập đến một vấn đề hay một khía cạnh của chuyển đổi số và trả lời của các tác giả. Cuốn sách được chia thành 5 phần, gồm câu hỏi chung về chuyển đổi số, đột phá của AI và các công nghệ số, chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Câu hỏi trong mỗi phần lại được gộp theo nhóm các vấn đề chuyển đổi số đặt ra là gì, tại sao, thế nào, bao giờ, ai liên quan…
Chuyển đổi số là câu chuyện mới đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia với những mức độ và cách thức khác nhau. Ở nước ta, Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã nhanh chóng lan tỏa trên cả nước. “Chuyển đổi số” đã thành một từ được nói đến hàng ngày trên truyền thông. Cuộc sống của người dân cũng đang dần gắn nhiều hơn với môi trường thực-số. Nhiều doanh nghiệp đang tích cực tìm hiểu và thực hiện chuyển đổi số. Hầu hết các tỉnh thành và bộ ngành đã công bố đề án chuyển đổi số. Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số đã được thành lập và hoạt động để giúp Chính phủ điều hành công cuộc chuyển đổi số của đất nước.
Nhận thức về chuyển đổi số liên quan đến hai vấn đề chính: “chuyển đổi số là gì và vì sao phải làm?” và “làm chuyển đổi số thế nào?”. Trong khi vấn đề thứ nhất được nói đến nhiều thời gian qua, những câu hỏi của vấn đề thứ hai như “cần làm gì để chuyển đổi số?”, “phải bắt đầu từ đâu?”, “ai làm chuyển đổi số?”, “thành bại của chuyển đổi số vì sao?”, “tổ chức việc thực hiện chuyển đổi số thế nào?”… vẫn đang rất cần được trả lời và làm rõ.
Hai năm trước chúng tôi viết cuốn sách “Hỏi đáp về chuyển đổi số” với 200 câu hỏi và trả lời để chia sẻ nhận thức ban đầu của mình về chuyển đổi số là gì. Mong muốn tìm câu trả lời về làm chuyển đổi số thế nào dẫn chúng tôi đến những thách thức mới. Những cuốn sách đã xuất bản trên thế giới phần lớn mô tả các hoạt động cụ thể về chuyển đổi số của doanh nghiệp trong bối cảnh của các nước phát triển và ít về phương pháp làm chuyển đổi số. Gần hai năm qua khi tìm hiểu, trao đổi, trải nghiệm với nhận thức dần rõ hơn, chúng tôi đề xuất phương pháp luận ST-235 về làm chuyển đối số, và viết cuốn sách này để chia sẻ với cộng đồng.
Phương pháp luận ST-235 có cốt lõi là tư duy hệ thống được mô tả với hai phần. Phần một (ST) xác định mô hình hệ sinh thái thực-số của các tổ chức với tám hợp phần chia thành các nhóm về hoạt động chính (sản phẩm-dịch vụ, quy trình vận hành, quản trị-quản lý), về nhân tố thành bại (con người, thể chế, công nghệ), về dữ liệu và kết nối, và về an toàn an ninh hệ thống. Chuyển đổi số của một tổ chức về bản chất là xây dựng hệ sinh thái thực-số của mình từ hệ sinh thái hiện tại, và việc này được thực hiện theo phương thức mô tả ở phần hai (235) của ST-235, với 2 nguyên lý, 3 cặp nguyên tắc, và 5 nội dung cốt lõi cần làm.
Hai nguyên lý của ST-235 là tư tưởng chủ đạo và dẫn dắt toàn bộ quá trình chuyển đổi số, xác định rằng chuyển đổi số là quá trình tự thay đổi một cách hệ thống và chuyển đổi số là quá trình liên tục đổi mới sáng tạo với dữ liệu và kết nối. Ba cặp nguyên tắc của ST-235 xác định những điều cần tuân theo khi thực hiện chuyển đổi số, gồm tổng thể và toàn diện, đồng bộ và đột phá, chính chủ và lãnh đạo. Năm vấn đề cốt lõi mỗi tổ chức cần thực hiện khi chuyển đổi số là con người, thể chế, công nghệ, lộ trình, và quản trị thực thi.
Cuốn sách được chia thành sáu chương. Chương Một tóm tắt những khái niệm và vấn đề cơ bản của chuyển đổi số. Chương Hai giới thiệu phương pháp luận ST-235. Bốn chương tiếp theo trình bày về làm chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực kinh tế-xã hội, các địa phương và doanh nghiệp nhìn theo phương pháp luận ST-235.
Chúng tôi chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Nhóm Thinktank VINASA vì những điều được chia sẻ, được học tập từ các thảo luận về chuyển đổi số vào các sáng thứ bảy hàng tuần. Chúng tôi chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình với những động viên và khuyến khích hoàn thành cuốn sách; cảm ơn các tỉnh thành, các tập đoàn, các doanh nghiệp, tổ chức, trường học, các đơn vị tổ chức tập huấn chuyển đổi số… đã cho chúng tôi cơ hội đến trao đổi, giới thiệu ST-235 và nhận được nhiều câu hỏi thú vị; cảm ơn Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, tổ chức GIZ và 11 trường dạy nghề về hoạt động chuyển đổi số chúng tôi được tham gia trong gần hai năm qua; cảm ơn Cục Tin học hóa (hiện nay là Cục Chuyển đổi số quốc gia), Bộ Thông tin và Truyền thông; cảm ơn Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã hợp tác với chúng tôi làm cuốn sách này.