Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Chuyển đổi số là câu chuyện mới đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia với những mức độ và cách thức khác nhau. Ở nước ta, Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã nhanh chóng lan tỏa trên cả nước. “Chuyển đổi số” đã thành một từ được nói đến hàng ngày trên truyền thông. Cuộc sống của người dân cũng đang dần gắn nhiều hơn với môi trường thực-số. Nhiều doanh nghiệp đang tích cực tìm hiểu và thực hiện chuyển đổi số. Hầu hết các tỉnh thành và bộ ngành đã công bố đề án chuyển đổi số. Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số đã được thành lập và hoạt động để giúp Chính phủ điều hành công cuộc chuyển đổi số của đất nước.
Nhận thức về chuyển đổi số liên quan đến hai vấn đề chính: “chuyển đổi số là gì và vì sao phải làm?” và “làm chuyển đổi số thế nào?”. Trong khi vấn đề thứ nhất được nói đến nhiều thời gian qua, những câu hỏi của vấn đề thứ hai như “cần làm gì để chuyển đổi số?”, “phải bắt đầu từ đâu?”, “ai làm chuyển đổi số?”, “thành bại của chuyển đổi số vì sao?”, “tổ chức việc thực hiện chuyển đổi số thế nào?”… vẫn đang rất cần được trả lời và làm rõ.
Hai năm trước chúng tôi viết cuốn sách “Hỏi đáp về chuyển đổi số” với 200 câu hỏi và trả lời để chia sẻ nhận thức ban đầu của mình về chuyển đổi số là gì. Mong muốn tìm câu trả lời về làm chuyển đổi số thế nào dẫn chúng tôi đến những thách thức mới. Những cuốn sách đã xuất bản trên thế giới phần lớn mô tả các hoạt động cụ thể về chuyển đổi số của doanh nghiệp trong bối cảnh của các nước phát triển và ít về phương pháp làm chuyển đổi số. Gần hai năm qua khi tìm hiểu, trao đổi, trải nghiệm với nhận thức dần rõ hơn, chúng tôi đề xuất phương pháp luận ST-235 về làm chuyển đối số, và viết cuốn sách này để chia sẻ với cộng đồng.
Phương pháp luận ST-235 có cốt lõi là tư duy hệ thống được mô tả với hai phần. Phần một (ST) xác định mô hình hệ sinh thái thực-số của các tổ chức với tám hợp phần chia thành các nhóm về hoạt động chính (sản phẩm-dịch vụ, quy trình vận hành, quản trị-quản lý), về nhân tố thành bại (con người, thể chế, công nghệ), về dữ liệu và kết nối, và về an toàn an ninh hệ thống. Chuyển đổi số của một tổ chức về bản chất là xây dựng hệ sinh thái thực-số của mình từ hệ sinh thái hiện tại, và việc này được thực hiện theo phương thức mô tả ở phần hai (235) của ST-235, với 2 nguyên lý, 3 cặp nguyên tắc, và 5 nội dung cốt lõi cần làm.
Hai nguyên lý của ST-235 là tư tưởng chủ đạo và dẫn dắt toàn bộ quá trình chuyển đổi số, xác định rằng chuyển đổi số là quá trình tự thay đổi một cách hệ thống và chuyển đổi số là quá trình liên tục đổi mới sáng tạo với dữ liệu và kết nối. Ba cặp nguyên tắc của ST-235 xác định những điều cần tuân theo khi thực hiện chuyển đổi số, gồm tổng thể và toàn diện, đồng bộ và đột phá, chính chủ và lãnh đạo. Năm vấn đề cốt lõi mỗi tổ chức cần thực hiện khi chuyển đổi số là con người, thể chế, công nghệ, lộ trình, và quản trị thực thi.
Cuốn sách được chia thành sáu chương. Chương Một tóm tắt những khái niệm và vấn đề cơ bản của chuyển đổi số. Chương Hai giới thiệu phương pháp luận ST-235. Bốn chương tiếp theo trình bày về làm chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực kinh tế-xã hội, các địa phương và doanh nghiệp nhìn theo phương pháp luận ST-235.
Chúng tôi chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Nhóm Thinktank VINASA vì những điều được chia sẻ, được học tập từ các thảo luận về chuyển đổi số vào các sáng thứ bảy hàng tuần. Chúng tôi chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình với những động viên và khuyến khích hoàn thành cuốn sách; cảm ơn các tỉnh thành, các tập đoàn, các doanh nghiệp, tổ chức, trường học, các đơn vị tổ chức tập huấn chuyển đổi số… đã cho chúng tôi cơ hội đến trao đổi, giới thiệu ST-235 và nhận được nhiều câu hỏi thú vị; cảm ơn Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, tổ chức GIZ và 11 trường dạy nghề về hoạt động chuyển đổi số chúng tôi được tham gia trong gần hai năm qua; cảm ơn Cục Tin học hóa (hiện nay là Cục Chuyển đổi số quốc gia), Bộ Thông tin và Truyền thông; cảm ơn Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã hợp tác với chúng tôi làm cuốn sách này.
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Trong kiến trúc tổng thể của Trí tuệ nhân tạo (AI) và Xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) hiện đại, đại số tuyến tính là nền tảng toán học chi phối cách dữ liệu được biểu diễn, biến đổi và kết hợp để tạo ra tri thức. Nếu xem xác suất–thống kê cung cấp nguyên lý mô hình hoá sự bất định và xây dựng tiêu chuẩn đánh giá, còn giải tích cung cấp cơ chế tối ưu hoá để mô hình tự điều chỉnh tham số, thì Đại số tuyến tính (Linear Algebra) chính là ngôn ngữ cấu trúc hoá toàn bộ phép tính trong học sâu: từ biểu diễn ngôn ngữ đến cơ chế suy luận và kiến trúc mạng.
Điểm xuất phát của NLP hiện đại là việc chuyển đổi ngôn ngữ rời rạc (token, từ, câu) thành các đối tượng liên tục trong không gian nhiều chiều. Quá trình đó được thực hiện bằng embeddings với mỗi đơn vị ngôn ngữ được gán một vector . Từ đây, hầu hết các phép toán cốt lõi của mô hình trở thành các phép biến đổi tuyến tính và phép toán trên ma trận/tensor: các tầng tuyến tính, chuẩn hoá, chiếu không gian, rút trích đặc trưng, và ghép nối thông tin. Trong Transformer, Attention có thể được nhìn như một chuỗi thao tác đại số tuyến tính trên các ma trận truy vấn-khóa-giá trị (Q, K, V), trong đó tích vô hướng, nhân ma trận và chuẩn hoá đóng vai trò trung tâm để lượng hoá mức độ liên quan và tổng hợp ngữ cảnh.
Trên bình diện tối ưu hoá và suy luận, đại số tuyến tính còn là nền tảng để hiểu hình học của không gian biểu diễn: chuẩn (norm) và khoảng cách để đo độ tương đồng ngữ nghĩa, trực giao và phép chiếu để tách thành phần thông tin, trị riêng và phân rã ma trận để phân tích cấu trúc (PCA, SVD), cũng như điều kiện tốt của bài toán để đảm bảo tính ổn định tính toán. Trong huấn luyện mô hình, các đối tượng gradient và cập nhật tham số cũng được biểu diễn dưới dạng vector–ma trận, cho phép triển khai hiệu quả trên phần cứng song song (GPU/TPU).
Vì vậy, cuốn sách Đại số tuyến tính và ứng dụng trong Trí tuệ nhân tạo và Xử lý ngôn ngữ tự nhiên sẽ hệ thống hoá các khái niệm Đại số tuyến tính cốt lõi như vector, không gian vector, tích vô hướng, chuẩn và khoảng cách, ma trận và phép biến đổi tuyến tính, hệ phương trình tuyến tính, trị riêng–vector riêng, các phép phân rã (đặc biệt SVD), cùng các đối tượng tensor và phép toán liên quan, đặc biệt là ứng dụng cụ thể trong các mô hình AI và NLP như xây dựng và phân tích embeddings, attention, giảm chiều, nén biểu diễn, đánh giá tương đồng ngữ nghĩa và thiết kế kiến trúc tính toán hiệu quả.
Cuốn sách không tập trung chi tiết và sâu về kiến thức Đại số tuyến tính mà chỉ hệ thống hóa lại kiến thức toán nền tảng và ứng dụng trong AI và NLP. Mục tiêu của cuốn sách là hướng đến việc thu hẹp khoảng cách giữa toán học trừu tượng với ứng dụng trong khoa học–kỹ thuật, đặc biệt trong AI và NLP. Từ định nghĩa và công thức, người học sẽ được trải nghiệm thú vị việc ứng dụng Đại số tuyến tính để xây dựng hệ thống AI và NLP thực tế với đầy đủ các bước của quy trình từ xây dựng dữ liệu, tiền xử lý, vector hóa dữ liệu, xây dựng mô hình, cài đặt thuật toán, chạy thử nghiệm, trực quan hóa kết quả và phân tích chỉ số đánh giá. Tác giả kỳ vọng rằng, thông qua trải nghiệm này, bạn đọc sẽ nhận thức rõ lớp toán học nền tảng nằm bên dưới mỗi mô hình và thuật toán AI/NLP, từ đó có nền móng vững chắc để tiếp tục nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo một cách bền vững.
Hiện nay, trong bối cảnh khoa học công nghệ ngày càng phát triển, các quốc gia trên thế giới từng bước triển khai thúc đẩy chương trình chuyển đổi số, Chính phủ Việt Nam cũng đã và đang đang có những kế hoạch cụ thể triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia. Phát triển Chính phủ số có toàn bộ hoạt động an toàn trên môi trường số, có mô hình hoạt động được thiết kế lại và vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số là rất quan trọng. Do đó, việc Chính phủ nghiên cứu để hoàn thiện tổ chức và hoạt động, ứng dụng nền tảng, công nghệ hiện đại tinh gọn cơ cấu tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động là rất quan trọng. Trong bối cảnh đó, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với TS. Phạm Ngọc Huyền biên soạn và xuất bản cuốn sách “Ứng dụng nền tảng số trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ”
"IPv6 toàn tập - Làm chủ giao thức thế hệ mới" là tài liệu hữu ích cho sinh viên, kỹ sư, quản trị hệ thống và những người đang chuẩn bị cho tương lại số. Cuốn sách không chỉ đi từ căn bản đến nâng cao mà còn tích hợp ví dụ thực tế, bài tập và công cụ hỗ trợ, giúp triển khai IPv6 hiệu quả, tiết kiệm và an toàn.
Đây cũng là lời tri ân đến cộng đồng công nghệ Việt Nam - những người đang kiến tạo tương lai số cho đất nước/ Hành trình từ IPv4 sáng IPv6 không chỉ là đổi mới kỹ thuật, mà là cuộc cách mạng xây dựng nền tảng Internet sẵn sàng cho IoT, 5G, AI và các công nghệ tương lai.
Trước yêu cầu đảm bảo an toàn, ổn định và bền vững cho hạ tầng Internet quốc gia, việc xây dựng một tài liệu chuyên môn về DNS có tính hệ thống, toàn diện, cập nhật và phù hợp với đặc thù kỹ thuật - quản lý tại Việt Nam là hết sức cần thiết. Cuốn sách cung cấp tri thức chuyên sâu về kiến trúc, quản trị, vận hành, tối ưu và bảo mật hệ thống DNS, đồng thời cập nhật các xu hướng công nghệ mới như DNS trong môi trường IPv6, DNSSEC, Anycast, CDN, DNS-over-HTTPS/TLS cũng như ứng dụng, tích hợp DNS với các công nghệ mới như 5G, IoT, AI, Blochchain, Edge-Computing, ...
Bên cạnh các nội dung lỹ thuyết, sách còn tập trung vào các hướng dẫn triển khai thực tiễn, gắn với nhu cầu và điều kiện kỹ thuật tại các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, dữ liệu mở được xem là một trong các nền móng để phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số theo Chiến lược phát triển Kinh tế số, Xã hội số quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Chính phủ cũng đã ban hành Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030, theo đó, dữ liệu và dữ liệu mở sẽ góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, đưa Việt Nam vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đạt mức thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và đạt mức thu nhập cao vào năm 2045.
Cuốn sách “Hệ sinh thái dữ liệu chính phủ mở cho doanh nghiệp Việt Nam” được biên soạn nhằm đạt được mục tiêu về xây dựng dữ liệu mở của cơ quan nhà nước phục vụ xây dựng chính phủ số, phát triển kinh tế số và xã hội số, để hiện thực hóa được các lợi ích của dữ liệu mở của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp, cần các nghiên cứu về mô hình triển khai hệ thống dữ liệu mở của chính phủ cũng như cần đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng tới việc chấp nhận sử dụng dịch vụ dữ liệu mở của các doanh nghiệp.
Nội dung của giáo trình giới thiệu một cách tổng quát các nguyên tắc cơ bản của anten đến các hệ thống anten thông minh, tiên tiến. Giáo trình trình bày bắt đầu từ lý thuyết đến nguyên lý cũng như các nguyên tắc áp dụng cho thiết kế anten trong các hệ thống truyền thông vô tuyến hiện nay. Nội dung lý thuyết trong mỗi chương đều bao gồm các công thức toán học với phân tích chi tiết, minh họa cụ thể để các sinh viên chuyên ngành Điện tử - Viễn thông với mức học trung bình trở lên có thể đọc hiểu, nắm bắt được kiến thức và không quá khó khăn trong việc phân tích cũng như thiết kế các loại hình anten cơ bản. Bên cạnh đó, với kinh nghiệm là sinh viên, kỹ sư, giảng viên, nhóm tác giả mong muốn tiên phong trong việc cập nhật những tiến bộ trong công nghệ anten tiên tiến, giúp sinh viên có thể làm chủ được công nghệ mới, nhanh chóng bắt kịp được công việc sau khi tốt nghiệp. Với mục tiêu như vậy, nội dung của sách được bố cục như sau:
Chương 1. Tổng quan về kỹ thuật anten: Trình bày tổng quan về các loại hình anten cũng như
vai trò, vị trí của anten trong hệ thống truyền thông vô tuyến. Nội dung của chương cũng đi sâu
vào giới thiệu cơ chế bức xạ của anten cơ bản và phân bố dòng điện trên anten dây mỏng, là nguyên lý cốt lõi cũng như kiến thức nền tảng cho việc phân tích cơ chế bức xạ và phân bố dòng điện trên các loại hình anten có cấu trúc khác.
Chương 2. Các tham số cơ bản của anten: Giới thiệu một số tham số cơ bản của anten, các đặc trưng cũng như tiêu chuẩn, phương thức để đánh giá anten. Nội dung này được dựa trên các khái niệm đã được chuẩn hóa trong IEEE Std 145-1983 dành cho lĩnh vực anten.
Chương 3. Anten dây tuyến tính: Giới thiệu và phân tích các cấu trúc cơ bản và đơn giản nhất của anten dây, một trong những loại hình anten lâu đời nhất, đơn giản nhất, rẻ nhất, phổ biến nhất và vẫn còn xuất hiện trong khá nhiều ứng dụng thực tế ngày nay.
Chương 4. Công nghệ MIMO: Giới thiệu sơ lược các đặc tính cũng như lợi điểm của hệ thống MIMO và anten trong hệ thống MIMO. Trong đó, thách thức lớn cho các hệ thống anten MIMO hiện nay là ảnh hưởng tương hỗ khi các phần tử anten được đặt khá gần nhau. Vì vậy, nội dung chương này cũng giới thiệu các giải pháp cùng những nghiên cứu đã công bố gần đây trong việc giải quyết vấn đề này.
Chương 5. Anten tái cấu hình: Giới thiệu tổng quan về vai trò của anten tái cấu hình trong hệ thống truyền thông tiên tiến cũng như các phương pháp, kỹ thuật để tái cấu hình cho anten. Chương 6. Một số loại hình anten tiên tiến khác: Giới thiệu một số công nghệ thiết kế anten tiên tiến dựa trên kiến trúc bức xạ nhằm tạo ra các anten có kích thước nhỏ, băng thông rộng, đa băng,… áp dụng phần nhiều cho các ứng dụng anten trên thiết bị đầu cuối di động như anten PIFA, anten Fractal, anten Fibonacci. Giáo trình do TS. Dương Thị Thanh Tú làm chủ biên; TS. Hoàng Phương Thảo và PGS.TS. Nguyễn Quốc Trung góp ý, hiệu chỉnh. Chúng tôi hy vọng rằng giáo trình này sẽ là tài liệu giảng dạy hữu ích cho đào tạo đại học và sau đại học đối với sinh viên chuyên ngành vô tuyến, kỹ thuật vô tuyến điện tử và thông tin liên lạc, kỹ thuật viễn thông. Giáo trình cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho môn học liên quan đến lĩnh vực anten và siêu cao tần và người học quan tâm đến lĩnh vực này. Do hạn chế của thời lượng nên nội dung của giáo trình không trình bày tất cả các kỹ thuật, phương pháp phân tích cũng như các loại hình anten tiên tiến có trong thực tế. Tuy nhiên, người học có thể hoàn thiện thêm kiến thức về lĩnh vực anten bằng cách đọc các tài liệu tham khảo dẫn ra ở cuối sách.
Cuốn sách Bộ Kiến thức cốt lõi về an toàn thông tin (IS-BOK) 2.0 là tài liệu quan trọng giúp các chuyên gia an toàn thông tin xây dựng nền tảng kiến thức và cập nhật các xu hướng mới trong lĩnh vực này. Do Hiệp hội AiSP phát triển với sự hỗ trợ từ CSA và IMDA, IS-BOK 2.0 kế thừa phiên bản đầu tiên (2009) và phản ánh sự phát triển nhanh chóng của an toàn mạng tại Singapore. Nội dung sách liên kết với Khung kỹ năng ICT quốc gia, tham khảo luật và thực tiễn quốc tế, góp phần xây dựng một hệ sinh thái an ninh mạng năng động, luôn được cập nhật và mở rộng hợp tác toàn cầu.
Nhằm cung cấp cho bạn đọc những nhận thức về hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với những thách thức thời đại đối với lợi ích quốc gia, các cuộc khủng bố và tấn công mạng; một số quy định của pháp luật về bảo vệ hệ thống thông tin trọng yếu của một số quốc gia tiêu biểu về không gian mạng và chiến tranh không gian mạng; về bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia Việt Nam; Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã kết hợp cùng các chuyên gia về an toàn thông tin xuất bản cuốn sách “Hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia - Thách thức toàn cầu và giải pháp”.
Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, Toán học và Công nghệ thông tin ngày càng khẳng định vai trò nền tảng trong sự phát triển của khoa học, công nghệ và nền kinh tế tri thức. Những bước tiến vượt bậc trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, học máy, phân tích dữ liệu lớn, an toàn thông tin hay tính toán hiệu năng cao đều được xây dựng trên cơ sở các lý thuyết toán học hiện đại cùng các phương pháp và công cụ của công nghệ thông tin. Sự gắn kết chặt chẽ giữa Toán học và Công nghệ thông tin không chỉ thúc đẩy sự phát triển của khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, mà còn tạo ra những động lực quan trọng cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn ngày càng trở nên cấp thiết.
Các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng khoa học cần không ngừng đổi mới tư duy nghiên cứu, thúc đẩy các hướng nghiên cứu liên ngành, cập nhật nội dung và phương pháp đào tạo, đồng thời tăng cường hợp tác học thuật nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng của các kết quả khoa học.
Nhằm tạo diễn đàn học thuật để các nhà khoa học, giảng viên, nhà nghiên cứu và chuyên gia trao đổi các kết quả nghiên cứu mới, chia sẻ kinh nghiệm và thảo luận những vấn đề khoa học và thực tiễn liên quan đến sự phát triển của Toán học và Công nghệ thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số, Trường Đại học Hải Dương tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Toán học và Công nghệ thông tin trong kỷ nguyên số: Thách thức và cơ hội” vào ngày 27 tháng 3 năm 2026 tại Trung tâm Văn hóa Xứ Đông, phường Tân Hưng, thành phố Hải Phòng. Kỷ yếu hội thảo tập hợp hơn 60 bài báo khoa học của các nhà nghiên cứu, giảng viên và chuyên gia đến từ nhiều trường đại học và viện nghiên cứu trong cả nước. Nội dung các bài viết tập trung vào các hướng nghiên cứu như Toán học, Toán ứng dụng, khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin và các nghiên cứu liên ngành giữa Toán học và Công nghệ thông tin. Các công trình được tuyển chọn không chỉ góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đang được quan tâm mà còn gợi mở nhiều hướng nghiên cứu và ứng dụng mới trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ số.
Ban Biên tập Kỷ yếu Hội thảo trân trọng cảm ơn sự tham gia và đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các tác giả; đồng thời cảm ơn Ban Tổ chức, các tiểu ban chuyên môn hội thảo cùng các đơn vị liên quan đã tích cực phối hợp trong quá trình tổ chức hội thảo và biên tập, xuất bản kỷ yếu.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong quá trình tuyển chọn và biên tập, kỷ yếu khó tránh khỏi những hạn chế nhất định. Ban Biên tập rất mong tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và bạn đọc để kỷ yếu ngày càng hoàn thiện hơn.
BAN BIÊN TẬP KỶ YẾU
Năm 1948, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, mục đích của thi đua là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Ngày nay, khi giặc ngoại xâm đã được đánh đuổi thì giặc đói và giặc dốt là hai mục tiêu chính, xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Diệt giặc đói chính là xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất của người dân; diệt giặc dốt là giảm nghèo thông tin, nâng cao hiểu biết góp phần nâng cao đời sống tinh thần.
Ngày 18/01/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 90/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025”, mục tiêu của Chương trình là giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, trong đó có giảm nghèo về thông tin. Trên cơ sở đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 06/2022/TT-BTTTT ngày 30/6/2022 hướng dẫn thực hiện dự án truyền thông và giảm nghèo về thông tin thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền - Nguyễn Thị Thanh Thủy - Nguyễn Thị Lý - Lê Thị Hồng Nhung biên soạn và xuất bản cuốn sách “Chuyển đổi số nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã”.
Hợp tác xã với vai trò là thành phần kinh tế tập thể trong nền kinh tế, đang từng bước Chuyển đổi số nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh và tiếp cận thị trường trong xu hướng phát triển của nền kinh tế số hiện nay. Chuyển đổi số trong hợp tác xã ở Việt Nam có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển nền kinh tế quốc gia trong tiến trình phát triển và hội nhập.
Nội dung cuốn sách trên cơ sở phân tích thực trạng chuyển đổi số của các hợp tác xã và nhìn nhận những vấn đề đặt ra với vấn đề chuyển đổi số của các hợp tác xã, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong hợp tác xã hiện nay.