Tiếng Việt
Chọn ngôn ngữ
Tiếng Việt
English
Cuốn sách kể câu chuyện về sóng vô tuyến điện, vai trò của sóng vô tuyến đối với đời sống xã hội và vai trò của quản lý tần số…
"IPv6 toàn tập - Làm chủ giao thức thế hệ mới" là tài liệu hữu ích cho sinh viên, kỹ sư, quản trị hệ thống và những người đang chuẩn bị cho tương lại số. Cuốn sách không chỉ đi từ căn bản đến nâng cao mà còn tích hợp ví dụ thực tế, bài tập và công cụ hỗ trợ, giúp triển khai IPv6 hiệu quả, tiết kiệm và an toàn.
Đây cũng là lời tri ân đến cộng đồng công nghệ Việt Nam - những người đang kiến tạo tương lai số cho đất nước/ Hành trình từ IPv4 sáng IPv6 không chỉ là đổi mới kỹ thuật, mà là cuộc cách mạng xây dựng nền tảng Internet sẵn sàng cho IoT, 5G, AI và các công nghệ tương lai.
Chuyển đổi số là câu chuyện mới đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia với những mức độ và cách thức khác nhau. Ở nước ta, Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã nhanh chóng lan tỏa trên cả nước. “Chuyển đổi số” đã thành một từ được nói đến hàng ngày trên truyền thông. Cuộc sống của người dân cũng đang dần gắn nhiều hơn với môi trường thực-số. Nhiều doanh nghiệp đang tích cực tìm hiểu và thực hiện chuyển đổi số. Hầu hết các tỉnh thành và bộ ngành đã công bố đề án chuyển đổi số. Ủy ban Quốc gia về Chuyển đổi số đã được thành lập và hoạt động để giúp Chính phủ điều hành công cuộc chuyển đổi số của đất nước.
Nhận thức về chuyển đổi số liên quan đến hai vấn đề chính: “chuyển đổi số là gì và vì sao phải làm?” và “làm chuyển đổi số thế nào?”. Trong khi vấn đề thứ nhất được nói đến nhiều thời gian qua, những câu hỏi của vấn đề thứ hai như “cần làm gì để chuyển đổi số?”, “phải bắt đầu từ đâu?”, “ai làm chuyển đổi số?”, “thành bại của chuyển đổi số vì sao?”, “tổ chức việc thực hiện chuyển đổi số thế nào?”… vẫn đang rất cần được trả lời và làm rõ.
Hai năm trước chúng tôi viết cuốn sách “Hỏi đáp về chuyển đổi số” với 200 câu hỏi và trả lời để chia sẻ nhận thức ban đầu của mình về chuyển đổi số là gì. Mong muốn tìm câu trả lời về làm chuyển đổi số thế nào dẫn chúng tôi đến những thách thức mới. Những cuốn sách đã xuất bản trên thế giới phần lớn mô tả các hoạt động cụ thể về chuyển đổi số của doanh nghiệp trong bối cảnh của các nước phát triển và ít về phương pháp làm chuyển đổi số. Gần hai năm qua khi tìm hiểu, trao đổi, trải nghiệm với nhận thức dần rõ hơn, chúng tôi đề xuất phương pháp luận ST-235 về làm chuyển đối số, và viết cuốn sách này để chia sẻ với cộng đồng.
Phương pháp luận ST-235 có cốt lõi là tư duy hệ thống được mô tả với hai phần. Phần một (ST) xác định mô hình hệ sinh thái thực-số của các tổ chức với tám hợp phần chia thành các nhóm về hoạt động chính (sản phẩm-dịch vụ, quy trình vận hành, quản trị-quản lý), về nhân tố thành bại (con người, thể chế, công nghệ), về dữ liệu và kết nối, và về an toàn an ninh hệ thống. Chuyển đổi số của một tổ chức về bản chất là xây dựng hệ sinh thái thực-số của mình từ hệ sinh thái hiện tại, và việc này được thực hiện theo phương thức mô tả ở phần hai (235) của ST-235, với 2 nguyên lý, 3 cặp nguyên tắc, và 5 nội dung cốt lõi cần làm.
Hai nguyên lý của ST-235 là tư tưởng chủ đạo và dẫn dắt toàn bộ quá trình chuyển đổi số, xác định rằng chuyển đổi số là quá trình tự thay đổi một cách hệ thống và chuyển đổi số là quá trình liên tục đổi mới sáng tạo với dữ liệu và kết nối. Ba cặp nguyên tắc của ST-235 xác định những điều cần tuân theo khi thực hiện chuyển đổi số, gồm tổng thể và toàn diện, đồng bộ và đột phá, chính chủ và lãnh đạo. Năm vấn đề cốt lõi mỗi tổ chức cần thực hiện khi chuyển đổi số là con người, thể chế, công nghệ, lộ trình, và quản trị thực thi.
Cuốn sách được chia thành sáu chương. Chương Một tóm tắt những khái niệm và vấn đề cơ bản của chuyển đổi số. Chương Hai giới thiệu phương pháp luận ST-235. Bốn chương tiếp theo trình bày về làm chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực kinh tế-xã hội, các địa phương và doanh nghiệp nhìn theo phương pháp luận ST-235.
Chúng tôi chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Nhóm Thinktank VINASA vì những điều được chia sẻ, được học tập từ các thảo luận về chuyển đổi số vào các sáng thứ bảy hàng tuần. Chúng tôi chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình với những động viên và khuyến khích hoàn thành cuốn sách; cảm ơn các tỉnh thành, các tập đoàn, các doanh nghiệp, tổ chức, trường học, các đơn vị tổ chức tập huấn chuyển đổi số… đã cho chúng tôi cơ hội đến trao đổi, giới thiệu ST-235 và nhận được nhiều câu hỏi thú vị; cảm ơn Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, tổ chức GIZ và 11 trường dạy nghề về hoạt động chuyển đổi số chúng tôi được tham gia trong gần hai năm qua; cảm ơn Cục Tin học hóa (hiện nay là Cục Chuyển đổi số quốc gia), Bộ Thông tin và Truyền thông; cảm ơn Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã hợp tác với chúng tôi làm cuốn sách này.
Nội dung sách xoay quanh hai bạn nhỏ tìm hiểu về thế giới IoT, 5G và thành phố thông minh. Họ đã được gặp "chuyên gia RF" - một bạn Robot giải thích về IoT (Internet of Thing) và 5G một cách dễ hiểu.
LỜI GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng trên toàn cầu, công nghệ thông tin (CNTT) trở thành nền tảng thiết yếu và là công cụ không thể thiếu trong mọi lĩnh vực của đời sống. Với sinh viên đại học, việc nắm vững kiến thức cơ bản về CNTT không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là điều kiện tiên quyết để học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả trong thời đại số.
Tài liệu Tin học đại cương B được xây dựng nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng nền tảng về CNTT, bao gồm: nguyên lý hoạt động của máy tính điện tử, hệ điều hành, mạng máy tính, Internet, các công cụ tin học văn phòng như MS Word, MS PowerPoint, MS Excel; kỹ năng phân tích và trực quan hóa dữ liệu; cũng như nhận biết các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Blockchain.
Tài liệu bài giảng này được biên soạn trên cơ sở bám sát đề cương học phần chính thức, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa học tập cá nhân và làm việc nhóm, giữa tư duy phân tích và kỹ năng ứng dụng. Mỗi chương đều được thiết kế nhằm giúp sinh viên không chỉ hiểu bản chất của vấn đề mà còn có thể vận dụng linh hoạt vào học tập, nghiên cứu và các tình huống thực tiễn.
Tài liệu hướng đến việc hỗ trợ sinh viên phát triển toàn diện năng lực công nghệ thông tin cơ bản, làm nền tảng vững chắc cho các học phần chuyên ngành và môi trường nghề nghiệp sau này.
Nhóm giảng viên biên soạn mong muốn tài liệu này sẽ trở thành người bạn đồng hành hữu ích trong hành trình học tập và khám phá thế giới số của các bạn sinh viên.
Mọi góp ý, phản hồi từ người học là nguồn động lực quan trọng để chúng tôi tiếp tục hoàn thiện tài liệu tốt hơn trong các phiên bản sau.
Mọi liên hệ xin gửi về địa chỉ email: thuthuy@ntu.edu.vn.
Cuốn sách Bộ Kiến thức cốt lõi về an toàn thông tin (IS-BOK) 2.0 là tài liệu quan trọng giúp các chuyên gia an toàn thông tin xây dựng nền tảng kiến thức và cập nhật các xu hướng mới trong lĩnh vực này. Do Hiệp hội AiSP phát triển với sự hỗ trợ từ CSA và IMDA, IS-BOK 2.0 kế thừa phiên bản đầu tiên (2009) và phản ánh sự phát triển nhanh chóng của an toàn mạng tại Singapore. Nội dung sách liên kết với Khung kỹ năng ICT quốc gia, tham khảo luật và thực tiễn quốc tế, góp phần xây dựng một hệ sinh thái an ninh mạng năng động, luôn được cập nhật và mở rộng hợp tác toàn cầu.
Tại Việt Nam, dữ liệu mở được xem là một trong các nền móng để phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số theo Chiến lược phát triển Kinh tế số, Xã hội số quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Chính phủ cũng đã ban hành Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030, theo đó, dữ liệu và dữ liệu mở sẽ góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, đưa Việt Nam vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đạt mức thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và đạt mức thu nhập cao vào năm 2045.
Cuốn sách “Hệ sinh thái dữ liệu chính phủ mở cho doanh nghiệp Việt Nam” được biên soạn nhằm đạt được mục tiêu về xây dựng dữ liệu mở của cơ quan nhà nước phục vụ xây dựng chính phủ số, phát triển kinh tế số và xã hội số, để hiện thực hóa được các lợi ích của dữ liệu mở của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp, cần các nghiên cứu về mô hình triển khai hệ thống dữ liệu mở của chính phủ cũng như cần đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng tới việc chấp nhận sử dụng dịch vụ dữ liệu mở của các doanh nghiệp.
Câu chuyện giúp trẻ hiểu EMC là khả năng giúp thiết bị điện tử không gây nhiễu nhau, khuyến khích chọn sản phẩm có chứng nhận EMC và giới thiệu vai trò của Cục Tần số trong giữ “không gian sóng sạch”.
Cuốn sách giới thiệu những câu chuyện về chuyển đổi số của Việt Nam, bao gồm các câu chuyện thành công được thực tiễn kiểm chứng là hiệu quả, có thể tham khảo nhân rộng và các câu chuyện sưu tầm có những ý tưởng, giải pháp tiềm năng
5G (5th Generation) hay được gọi là thế hệ thứ 5 của mạng di động với nhiều cải tiến hơn so với 4G. 5G được thiết kế để tăng tốc độ và khả năng phản hồi nhanh chóng của mạng không dây. 5G được ra đời để kế thừa 4G, nhờ đó mà tốc độ tải xuống nhanh hơn, truyền phát dữ liệu mượt mà hơn. 5G không chỉ cải tiến về tốc độ mà nó sẽ mở ra những ứng dụng hoàn toàn mới và tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong những năm tiếp theo. Ngoài các ứng dụng với con người là trung tâm ngày càng rộng khắp, chẳng hạn thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường, phát luồng video 4k, các mạng 5G còn hỗ trợ các nhu cầu truyền thông các ứng dụng thông tin máy - máy (machine to machine), máy - người (machine to human) để làm cho cuộc sống của chúng ta an toàn và tiện lợi hơn.
Mặc dù các hệ thống truyền thông 5G sẽ cung cấp các cải thiện đáng kể so với các hệ thống trước nó, nhưng chúng không thể thực hiện các yêu cầu của các hệ thống tự động và thông minh tương lai sẽ xuất hiện sau 10 năm nữa. Các mạng 5G sẽ không có đủ dung lượng cho một mạng hoàn toàn tự động và thông minh để cung cấp mọi thứ như là một dịch vụ và trải nghiệm thực tế ảo. Sự phát triển nhanh của các hệ thống tự động đặt trọng tâm vào số liệu có thể vượt quá các khả năng của các hệ thống 5G. Một số thiết bị như các thiết bị thực tế ảo sẽ vượt quá khả năng của sau 5G (B5G: Beyond 5G) vì chúng đòi hỏi tốc độ số liệu tối thiểu 10Gbit/s.
Để khắc phục các hạn chế của 5G nhằm hỗ trợ các yêu cầu mới, cần phát triển một hệ thống không dây thế hệ 6 (6G) với các tính năng hấp dẫn mới. Các động lực chính của 6G sẽ là sự hội tụ của tất cả các tính năng cũ như mật độ mạng cao, thông lượng cao, độ tin cậy cao, tiêu thụ công suất thấp và kết nối số đông. 6G cũng sẽ tiếp tục xu thế của các thế hệ trước như đưa ra các dịch vụ mới cùng với các công nghệ bổ sung mới. Các dịch vụ mới bao gồm AI, các thiết bị đeo thông minh, các thiết bị cấy trên người, giao thông tự động, các thiết bị thực tế ảo, cảm biến và lập bản đồ 3D. Yêu cầu quan trọng nhất đối với các mạng 6G là khả năng xử lý khối lượng lớn số liệu và kết nối tốc độ số liệu cao trên một thiết bị.
Những năm gần đây, mạng xã hội đã có bước phát triển mạnh mẽ, tác động lớn đến đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mạng xã hội đã trở thành một thuật ngữ phổ biến với những tính năng đa dạng cho phép người dùng kết nối, chia sẻ, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả. Không thể phủ nhận vai trò tích cực của mạng xã hội, song cũng phải nhận thấy mạng xã hội cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng và an ninh trật tự.
Hiện nay, tại Việt Nam có rất nhiều các mạng xã hội, một số các mạng xã hội tiêu biểu hay được sử dụng như: Facebook, Zalo, Twitter, YouTube,… Số lượng người dùng mạng xã hội ở Việt Nam ngày càng gia tăng ở tất cả các lứa tuổi và điều đó đặt ra những vấn đề, thách thức về mặt an toàn, bảo mật thông tin riêng tư của người dùng. Nhất là trong bối cảnh có hàng trăm vụ lộ lọt thông tin người dùng, hàng triệu vụ tấn công lừa đảo người dùng được thực hiện thông qua mạng xã hội được báo cáo hàng năm.
Nhằm cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cơ bản nhất về mạng xã hội, đặc biệt là những nguy cơ, vấn đề an toàn liên quan khi sử dụng mạng xã hội, đồng thời sẽ giúp bạn đọc hình thành những kỹ năng cơ bản để đảm bảo an toàn cho bản thân khi sử dụng mạng xã hội, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã kết hợp cùng các chuyên gia về An toàn thông tin xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn sử dụng mạng xã hội an toàn dành cho người dân”.
Nội dung cuốn sách gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Mạng xã hội và sử dụng mạng xã hội an toàn
Chương 2: Nguy cơ gây mất an toàn khi sử dụng mạng xã hội và giải pháp phòng ngừa
Chương 3: Xử lý, khắc phục sự cố mất an toàn khi sử dụng mạng xã hội
Năm 1948, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, mục đích của thi đua là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Ngày nay, khi giặc ngoại xâm đã được đánh đuổi thì giặc đói và giặc dốt là hai mục tiêu chính, xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Diệt giặc đói chính là xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất của người dân; diệt giặc dốt là giảm nghèo thông tin, nâng cao hiểu biết góp phần nâng cao đời sống tinh thần.
Ngày 18/01/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 90/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025”, mục tiêu của Chương trình là giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, trong đó có giảm nghèo về thông tin. Trên cơ sở đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 06/2022/TT-BTTTT ngày 30/6/2022 hướng dẫn thực hiện dự án truyền thông và giảm nghèo về thông tin thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025.
Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ giao, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phối hợp với nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền - Nguyễn Thị Thanh Thủy - Nguyễn Thị Lý - Lê Thị Hồng Nhung biên soạn và xuất bản cuốn sách “Chuyển đổi số nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã”.
Hợp tác xã với vai trò là thành phần kinh tế tập thể trong nền kinh tế, đang từng bước Chuyển đổi số nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh và tiếp cận thị trường trong xu hướng phát triển của nền kinh tế số hiện nay. Chuyển đổi số trong hợp tác xã ở Việt Nam có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển nền kinh tế quốc gia trong tiến trình phát triển và hội nhập.
Nội dung cuốn sách trên cơ sở phân tích thực trạng chuyển đổi số của các hợp tác xã và nhìn nhận những vấn đề đặt ra với vấn đề chuyển đổi số của các hợp tác xã, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong hợp tác xã hiện nay.