Thư viện
Giáo trình Nhập môn trí tuệ nhân tạo
PGS.TS Từ Minh Phương
Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực của khoa học máy tính với mục tiêu nghiên cứu xây dựng và ứng dụng các hệ thống thông minh nhân tạo. Đây là một trong những lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất của khoa học máy tính hiện nay với nhiều kết quả ứng dụng rộng rãi. Nhập môn trí tuệ nhân tạo là môn học mang tính chuyên ngành trong chương trình đào tạo công nghệ thông tin hệ đại học. Mục tiêu của môn học nhằm giúp sinh viên làm quen với khái niệm trí tuệ nhân tạo thông qua việc giới thiệu một số kỹ thuật là ứng dụng cụ thể. Với việc học về trí tuệ nhân tạo, một mặt, sinh viên sẽ được làm quen với những phương pháp, cách giải quyết vấn đề không thuộc lĩnh vực toán lời rạc hoặc giải thuật truyền thống, chẳng hạn các phương pháp dựa trên heuristics, các phương pháp dựa trên tri thức, dữ liệu. Mặt khác, sinh viên sẽ được làm quen với khả năng ứng dụng tiềm tàng các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong nhiều bài toán thực tế. Do trí tuệ nhân tạo hiện đã phát triển với khá nhiều lĩnh vực chuyên sâu nên việc lựa chọn các nội dung để giới thiệu cho sinh viên là vấn đề không đơn giản. Trong cuốn sách này, các nội dung được lựa chọn hoặc là những nội dung có tính tiêu biểu, kinh điển của trí tuệ nhân tạo như biểu diễn tri thức bằng logic, các phương pháp tìm kiếm, hoặc là những kỹ thuật có nhiều ứng dụng và đang có tính thời sự hiện nay, tiêu biểu là phương pháp suy diễn xác suất và các kỹ thuật học máy. Trong khuôn khổ có hạn của cuốn sách với tính chất là giáo trình, phần giới thiệu về việc sử dụng kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong ứng dụng cụ thể không được trình bày nhiều. Chúng tôi dành phần lựa chọn ứng dụng cụ thể cho giảng viên trong quá trình lên lớp và hướng dẫn sinh viên. Tùy điều kiện, giảng viên có thể lựa chọn trong danh mục ứng dụng rất phong phú để giới thiệu và minh họa cho các nội dung của cuốn sách. Nội dung cuốn sách được trình bày thành 5 chương: Chương 1. Giới thiệu chung về trí tuệ nhân tạo: là phần giới thiệu tổng quan về trí tuệ nhân tạo bao gồm khái niệm, lịch sử hình thành, sơ lược về những kỹ thuật và ứng dụng tiêu biểu. Nội dung chương không đi quá sâu vào việc định nghĩa chính xác trí tuệ nhân tạo là gì, thay vào đó, người đọc được giới thiệu về những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu và lịch sử phát triển, trước khi làm quen với nội dung cụ thể trong các chương sau. Chương 2. Giải quyết vấn đề bằng tìm kiếm: trình bày cách giải quyết vấn đề bằng phương pháp tìm kiếm. Các phương pháp tìm kiếm bao gồm: tìm kiếm không có thông tin (tìm kiếm mù), tìm kiếm có thông tin, và tìm kiếm cục bộ. Khác với một số tài liệu khác về trí tuệ nhân tạo, nội dung về tìm kiếm có đối thủ không được đề cập đến trong tài liệu này. Một số nội dung như giải thuật di truyền có thể bỏ qua trong phần nhập môn và dùng để tham khảo do tương đối phức tạp so với các kỹ thuật khác. Chương 3. Biểu diễn tri thức và lập luận logic: tóm tắt về vấn đề sử dụng, biểu diễn tri thức và lập luận, trước khi đi sâu trình bày về biểu diễn tri thức và lập luận sử dụng logic. Trong hai hệ thống logic được trình bày là logic mệnh đề và logic vị từ, nội dung chương được dành nhiều hơn cho logic vị từ. Do nội dung về lập trình logic hiện không còn ứng dụng nhiều, chúng tôi không giới thiệu về vấn đề lập trình và xây dựng ứng dụng cụ thể ở đây. Chương 4. Lập luận xác suất: là mở rộng của biểu diễn tri thức và lập luận với việc sử dụng nguyên tắc suy diễn xác suất và mạng Bayes. Sau khi trình bày về sự cần thiết của lập luận trong điều kiện không rõ ràng cùng với nguyên tắc lập luận xác suất, phần chính của chương tập trung vào khái niệm cùng với ứng dụng mạng Bayes trong biểu diễn tri thức và lập luận. Chương 5. Học máy: là chương nhập môn về học máy. Trong chương này, người đọc được làm quen với khái niệm, nguyên tắc và ứng dụng của học máy. Trong phạm vi chương cũng trình bày bốn kỹ thuật học máy dùng cho phân loại là cây quyết định, phân loại Bayes, phân loại dựa trên ví dụ và hồi quy logistic, cùng với một số kỹ thuật đánh giá mô hình và lựa chọn đặc trưng. Đây là những phương pháp đơn giản, dễ giới thiệu, thuận tiện để trình bày với tính chất nhập môn. Đồng thời, đây cũng là những phương pháp có tính đại diện trong học máy, cần thiết cho người nghiên cứu về lĩnh vực này. Do ưu điểm và sự phổ biến của Support Vector Machines, phương pháp phân loại này cũng được giới thiệu, nhưng ở mức tóm tắt, không đi vào chi tiết để phù hợp với trình độ nhập môn. Cuốn sách được biên soạn từ kinh nghiệm giảng dạy học phần Nhập môn trí tuệ nhân tạo của tác giả tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, trên cơ sở tiếp thu phản hồi từ đồng nghiệp và sinh viên. Cuốn sách có thể sử dụng làm tài liệu học tập cho sinh viên đại học ngành công nghệ thông tin và các ngành liên quan, ngoài ra có thể sử dụng với mục đích tham khảo cho những người quan tâm tới trí tuệ nhân tạo.
5572 lượt xem
Chuyện đời làm báo
Minh Đức
Khi Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam, máy bay Mỹ ném bom, bắn phá các cơ sở kinh tế, các khu dân cư khiến tất cả các trường học ở Hà Nội và ở các thành phố lớn phải sơ tán về nông thôn. Cũng giống như các bạn cùng trang lứa, tôi đã phải một mình về làng Đại Từ - huyện Thanh Trì - Hà Nội để tiếp tục được đi học. Người dân vùng nông thôn đã mở vòng tay đón và cho chúng tôi ở nhờ ngay trong nhà họ. Một lần tôi được nhà báo có bút danh là “Bút Thép” phỏng vấn. Nội dung câu hỏi xoay quanh vấn đề “Cuộc sống ở nông thôn”, tôi đã rất thật thà “tâm sự” cùng ông (theo cách nhìn của một trẻ thơ) về những khó khăn trong đó có cả việc phải dùng nước ao tù làm nước sinh hoạt. “Tâm sự” của tôi được đăng tải trên báo Thiếu niên tiền phong. Thế là một cuộc “búa rìu dư luận” của những người bạn cùng lứa đã “nhắm” vào tôi. Thậm chí có những “cô bạn” đã “chụp mũ” và “quy chụp” tôi thuộc tầng lớp “tiểu tư sản”!!! Nỗi oan xuất phát từ việc “nói thật” - đã để lại ấn tượng khó phai trong tâm trí tôi. Điều nực cười là việc mà nhà báo “Bút Thép” hướng dẫn dư luận chỉ trích tôi thì chỉ hơn 10 năm sau khi Việt Nam thống nhất đã trở thành tiêu chí phấn đấu của nhà nước - phấn đấu để người dân được dùng nước sạch. Nỗi oan này khiến tôi, khi trở thành nhà báo đã định hướng cho mình trong công việc phải có “cái tâm” trong sáng; phải “nói thẳng - nói thật”. Suốt chặng đường làm báo, tôi đã được gặp nhiều người từ những người dân gặp nạn khi quyết tâm chống lại những người “móc túi” nhà nước như kỹ sư Hứa Thúy Lan, như những người dân ở Quảng Ninh bị những người nhân danh các cơ quan công quyền “bớt xén” tiền đền bù khi phải nhường đất để mở rộng quốc lộ 18A và quốc lộ 10 v.v… đến những nhân vật đã trở thành những nhân chứng lịch sử như Đại tá Bùi Tùng, người thảo lời đầu hàng cho Đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống Việt Nam Cộng hòa, trong ngày 30/4/1975; chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thuộc “lực lượng thứ 3” khi miền Nam chưa được giải phóng, 4 chiến sĩ trên chiếc xe tăng 390, chiếc xe đầu tiên đâm đổ cửa Dinh Độc Lập ở Sài Gòn trong ngày 30/4/1975; Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, tác giả của Dinh Độc Lập; rồi viên tướng Gomit, người Xê-nê-gan nhưng có tâm hồn Việt Nam và hát rất hay… Tôi cũng đã thấy, đã biết được những mảng tối của cuộc sống, biết được sự tráo trở của một số người lợi dụng chức quyền hành dân; biết được nỗi khổ của người dân và cũng gặp được những con người chân chính. Như tôi đã phát biểu tại Hội thảo toàn quốc “Trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo trong đấu tranh chống tiêu cực” được tổ chức tại Hà Nội cuối năm 2002: “Những bài chống tiêu cực không chỉ là những bài chứa đựng những con số trái ngược nhau để từ đó tìm ra những khuất tất trong xây dựng cơ bản, trong công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) mà các phóng sự đó phải mang tính nhân văn thông qua việc giải quyết tốt vấn đề đặt ra đối với số phận của những người chống tiêu cực”. Để có được một phóng sự điều tra chống tiêu cực là cả một quá trình khó khăn, vất vả mà chỉ những ai từng tham gia mới ý thức được.
2432 lượt xem
Phỏng vấn trong chính luận truyền hình
TS. Trần Bảo Khánh

Trong hoạt động báo chí, phỏng vấn là công việc gắn liền với những kĩ năng cần thiết của nhà báo, thường được nhìn nhận từ hai khía cạnh: là một phương pháp công tác và một thể loại báo chí, phỏng vấn được coi là chìa khóa của thành công trong quá trình tác nghiệp của nhà báo. Ở truyền hình cũng vậy, phỏng vấn thực sự là công việc vừa khó khăn, vừa hấp dẫn để có những thông tin hấp dẫn công chúng. Vì vậy, để chinh phục được những khán giả truyền hình hiện nay trước sự cạnh tranh của các phương tiện truyền thông mới, bên cạnh những tác phẩm báo chí của nhiều thể loại khác, rất cần những cuộc phỏng vấn với đầy đủ các khía cạnh của một cuộc đấu trí giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn.
Nghiên cứu về phỏng vấn và phỏng vấn truyền hình, trước đây đã từng có một số công trình ở nhiều cấp độ khác nhau. Cuốn sách “Phỏng vấn trong chính luận truyền hình” mà các bạn cầm trên tay cũng là một trong số những nghiên cứu về phỏng vấn, nhưng chủ yếu trên bình diện của chính luận truyền hình. Nội dung cuốn sách đề cập tới khá nhiều các khía cạnh khác nhau trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn của các chương trình chính luận đang thực hiện trên sóng của VTV và một số kênh truyền hình khác.
Cuốn sách ra mắt bạn đọc chắc chắn khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý quý báu của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn ở những lần xuất bản sau.

7579 lượt xem
Kỹ năng giao tiếp
Nguyễn Thị Anh Đào, ThS. Đoàn Chí Thiện
Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng mềm cực kỳ quan trọng trong thế kỷ 21. Đó là một tập hợp những qui tắc, nghệ thuật, cách ứng xử , đối đáp được đúc rút qua kinh nghiệm thực tế hằng ngày giúp mọi người giao tiếp hiệu quả thuyết phục hơn khi áp dụng thuần thục kỹ năng giao tiếp. Trong những năm gần đây, theo đánh giá của một số doanh nghiệp khi tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp ra trường thường có ý kiến cho rằng: Hạn chế lớn nhất của hầu hết sinh viên chủ yếu trên các mặt thuộc về kỹ năng mềm, mà đặc biệt là kỹ năng giao tiếp. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra lựa chọn kỹ năng giao tiếp như thế nào cho phù hợp với sinh viên bậc giáo dục cao đẳng và đại học để đảm bảo phù hợp với mục tiêu giáo dục đào tạo, nội dung chương trình cũng như phương thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá và đặc biệt là nhu cầu thực tiễn. Nhằm giúp mọi đối tượng nói chung và sinh viên nói riêng nâng cao kỹ năng giao tiếp, Thạc sỹ Đoàn Chí Thiện và Thạc sỹ Nguyễn Thị Anh Đào – Đại học Đà Nẵng biên soạn cuốn sách “Kỹ năng giao tiếp”. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương, cụ thể như sau: Chương 1. Khái niệm về kỹ năng giao tiếp Chương 2. Các nguyên tắc khi giao tiếp Chương 3. Các loại hình giao tiếp Chương 4. Tính cách, kỹ năng cần thiết và tư thế trong giao tiếp Chương 5. Mối quan hệ, ứng xử và các kiểu trong giao tiếp Hy vọng rằng, với những hướng dẫn cụ thể mang tính hệ thống hóa sẽ góp phần tạo nên diện mạo mới cho hoạt động kỹ năng giao tiếp, một lĩnh vực còn khá mới mẻ trong giáo dục Việt Nam hiện nay. Việc trang bị các kiến thức kỹ năng giao tiếp sẽ giúp sinh viên có nhiều cơ hội việc làm cũng như phát triển sự nghiệp tốt hơn trong tương lai.
4307 lượt xem
Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụng nhằm hiểu rõ Điểm mạnh ( Strengths), Điểm yếu ( Weaknesses), Cơ hội ( Opportunities) và Nguy cơ ( Threats) trong phân tích kinh doanh của một doanh nghiệp. Thông qua phân tích SWOT, doanh nghiệp sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Trong quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, hiệu quả cao giúp bạn có cái nhìn tổng thể không chỉ về chính doanh nghiệp của mình mà còn thấy được những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp bạn. • Điểm mạnh là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tích cực hoặc có lợi giúp bạn đạt được mục tiêu. • Điểm yếu là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. • Cơ hội là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp lợi đạt được mục tiêu. • Nguy cơ là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. Có thể thấy, mục đích của phân tích SWOT là nhằm xác định thế mạnh mà bạn đang nắm giữ cũng như những điểm hạn chế cần phải khắc phục. Nói cách khác, SWOT chỉ ra cho bạn đâu là nơi để bạn tấn công và đâu là nơi bạn cần phòng thủ. Cuối cùng, kết quả SWOT cần phải được áp dụng một cách hợp lý trong việc đề ra một Kế hoạch hành động (Action plan) thông minh và hiệu quả. Thấy rõ tầm quan trọng của SWOT, trường Đào tạo Doanh nhân PTI, nơi đào tạo hàng nghìn nhà lãnh đạo cấp cao và cấp trung, đã tổ chức biên soạn cuốn sách “Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh”. Hy vọng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể hiểu rõ SWOT để vận dụng thành công vào mô hình kinh doanh của doanh nghiệp mình.
6639 lượt xem
Thương mại điện tử
TS Nguyễn Viết Khôi, Ao Thu Hoài
Cuốn sách “Thương mại điện tử” được ra đời lần đầu tiên vào năm 2001 và sau 15 năm được dần hoàn thiện theo hướng phát triển của khoa học với mong muốn cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản của TMĐT dưới góc độ kinh tế: lợi ích, nền tảng, các hình thức ứng dụng cũng như xu hướng phát triển. Đồng thời, cũng giới thiệu với học viên những vấn đề cần thiết nhất trong sáu chương. Chương I: Giới thiệu tổng quan về thương mại điện tử, bao gồm bức tranh toàn cảnh về phát triển thương mại điện tử ở đầu thế kỷ XXI, các khái niệm cơ bản và quan trọng nhất liên quan đến thương mại điện tử, đặc trưng, chức năng và các hoạt động của thương mại điện tử, lợi ích và hạn chế và cuối cùng là lịch sử phát triển thương mại điện tử. Chương II: Giới thiệu về cơ sở hạ tầng phát triển, hay có thể hiểu là những yếu tố tiền đề cần xem xét để có thể phát triển được thương mại điện tử, chẳng hạn như công nghệ, tình hình kinh tế xã hội, pháp luật ở địa phương.v.v... Chương III: Giới thiệu về mô hình giao dịch điện tử như B2B, B2C.v.v... Chương IV: Bao gồm các nội dung liên quan đến thanh toán trực tuyến như quy trình, công cụ, an ninh bảo mật trong hệ thống thanh toán. Chương V: Hướng dẫn cách thức xây dựng một giải pháp thương mại điện tử, từ lập kế hoạch đến triển khai kinh doanh và đầu tư công nghệ. Chương VI: Giới thiệu tổng quan về tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
5036 lượt xem
Tiếng anh chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Ths. Nguyễn Thị Huệ, ThS. Phạm Thị Nguyên Thư
Trước tình hình đổi mới của đất nước, việc mở rộng giao lưu kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, tiếng Anh đã và đang trở thành ngôn ngữ giao tiếp của nhiều quốc gia trên phạm vi toàn cầu. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các doanh nghiệp trong nước ngày càng phải trực tiếp cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường trong và ngoài nước. Một trong các điểm yếu của doanh nghiệp nước ta là trình độ tiếng Anh của cán bộ quản lý và kinh doanh còn khá hạn chế. Để giúp các doanh nghiệp Việt Nam tự tin và từng bước tiến vững chắc trong tiến trình hội nhập và cạnh tranh, và các sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh có thể tiếp thu kiến thức Anh ngữ chuyên ngành một cách có hệ thống, chúng tôi đã nghiên cứu, biên soạn và phối hợp với Nhà xuất bản Bưu điện xuất bản cuốn sách “English for Business Management”. Nội dung cuốn sách gồm 10 bài học (bằng tiếng Anh) về các lĩnh vực quản trị kinh doanh như: Kinh tế học, Thị trường, Sản phẩm, Giá cả, Lạm phát, Tài chính, Kế toán và Kiểm toán... được sắp xếp và khai thác theo trình tự khoa học. Hơn nữa cuốn sách còn giúp người học củng cố hệ thống ngữ pháp, cấu trúc câu và sự phát triển từ vựng theo mức độ tăng dần để người học phát triển khả năng tư duy, diễn đạt trong mọi tình huống. Cuốn sách sẽ góp phần nhanh chóng nâng cao trình độ tiếng Anh chuyên ngành Quản trị kinh doanh cho các cán bộ quản lý - kinh doanh và các sinh viên chuyên ngành QTKD các trường Đại học, Cao đẳng và bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực này.
3077 lượt xem
Công nghệ IP/MPLS và các mạng riêng ảo
TS. Nguyễn TIến Ban
Cuốn sách trình bày những vấn đề kỹ thuật cơ bản liên quan đến việc xây dựng, vận hành các mạng truyền thông băng rộng trên nền IP/MPLS và các giải pháp triển khai để cung cấp dịch vụ trao đổi thông tin an toàn và bảo mật cho khách hàng thông qua công nghệ mạng riêng ảo. Nội dung sách gồm 7 chương: Chương 1: Tổng quan về mạng truyền thông Chương 2: Kỹ thuật mạng IP Chương 3: Kỹ thuật mạng MPLS Chương 4: Công nghệ mạng riêng ảo Chương 5: Mạng riêng ảo trên nền IPSec Chương 6: Mạng riêng ảo trên nền SSL Chương 7: Mạng riêng ảo trên nền MPLS Hy vọng cuốn sách sẽ thực sự hữu ích cho các bạn sinh viên đại học, cao đẳng, học viên cao học chuyên ngành điện tử viễn thông và công nghệ thông tin, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho các kỹ sư, các nhà thiết kế, tư vấn mạng và các doanh nghiệp lớn,...
2155 lượt xem
Luật Viễn thông và Nghị định chi tiết thi hành
Bộ Thông tin và Truyền thông

Luật này quy định về hoạt động viễn thông, bao gồm đầu tư, kinh doanh viễn thông; viễn thông công ích; quản lý viễn thông; xây dựng công trình viễn thông; quyền và nghĩa vụcủa tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động viễn thông. Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động viễn thông tại Việt Nam.

1977 lượt xem
Quản lý dự án công nghệ thông tin
ThS Trần Nguyên Hương, CN Lê Hương Giang, Lê Văn Phùng
Trong quyển sách “Kỹ nghệ phần mềm”, Tiến sỹ Roger S. Pressman đã viết: “Quản lý dự án phần mềm là tầng dầu trong tiến trình kỹ nghệ phần mềm. Ta gọi nó là một tầng, thay vì là một bước hay hoạt động, bởi vì nó phủ lên toàn bộ tiến trình phát triển từ đầu đến cuối”. Việc quản lý dự án phần mềm cung cấp những hiểu biết về phạm vi công việc cần làm, những rủi ro phải chịu, các nguồn lực cần tới, nhiệm vụ cần hoàn thành, những cột mốc cần theo dõi, chi phí phải chi tiêu và lịch biểu phải tuân thủ. Quản lý dự án phần mềm rất quan trọng cho sự thành công của dự án nên cả người phụ trách dự án với tất cả các thành viên tham gia dự án phải hiểu cách tiến hành nó, hiểu cách làm việc trong khuôn khổ do dự án lập ra. Trong thực tế, do thiếu được trang bị kiến thức đầy đủ về phương pháp quản lý dự án phần mềm, hay nói rộng ra là dự án công nghệ thông tin, nên nhiều dự án công nghệ thông tin đã không thực sự thành công. Tuy có một vài cuốn sách về quản lý dự án đã được xuất bản, nhưng nhìn chung, sách quản lý dự án chuyên khảo trong từng lĩnh vực hẹp còn quá ít. Do vậy việc thực hành quản lý dự án, nhất là quản lý dự án về công nghệ thông tin còn gặp nhiều lúng túng. Với ý nguyện muốn phục vụ công tác quản lý dự án công nghệ thông tin có hiệu quả hơn, nhóm tác giả, do TS. Lê Văn Phùng làm chủ biên, đã tiến hành biên soạn cuốn sách “ trên cơ sở các tài liệu sưu tập được và từ chính các kinh nghiệm mà các tác giả đã trải qua trong quá trình thực hiện và quản lý dự án công nghệ thông tin ở Việt Nam. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: Chương 1. Dự án và quản lý dự án Chương 2. Lập kế hoạch dự án công nghệ thông tin Chương 3. Các phương tiện phục vụ quản lý dự án Chương 4. Tổ chức triển khai, giám sát và điều chỉnh kế hoạch dự án Chương 5. Quản lý các hoạt động kết thúc dự án Đối tượng phục vụ của cuốn sách này chủ yếu là cho những người làm công nghệ thông tin, cho tất cả các bạn yêu thích, muốn thực hành về quản lý dự án. Chúng tôi hy vọng cuốn sách còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng nghiệp trong giảng dạy, nghiên cứu trên các lĩnh vực có liên quan đến khoa học quản lý. Nội dung cuốn sách này đặc biệt thích hợp với sinh viên cao đẳng, đại học và trên đại học ngành Hệ thống thông tin quản lý trong Công nghệ thông tin.
4584 lượt xem
Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài
PGS. TS. Trương Minh Dục
Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi quốc gia. Quá trình đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam dẫu có lúc thăng trầm, những bước thịnh suy, song đã hun đúc nên truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất để gìn giữ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cả ở trên bộ, trên biển và trên không. Điều này đã được khẳng định trong các Tuyên ngôn độc lập: Nam quốc sơn hà (thời Tiền Lê - Lý); Bình Ngô đại cáo thời Hậu Lê; Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992… Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, đã được Nhà nước Việt Nam, các thế hệ người Việt Nam chiếm hữu, bảo vệ, quản lý, khai thác. Điều này, không chỉ được lưu lại trong cổ sử Việt Nam, mà còn được quốc tế thừa nhận trong các tư liệu còn lưu trữ. Trong hơn một thế kỷ qua, các nhà khoa học ở trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu và đã công bố những công trình sưu tập, nghiên cứu khoa học có liên quan đến những tư liệu nằm trong thư tịch, sách, bản đồ cổ… có giá trị pháp lý chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong những năm gần đây, trước tình hình Trung Quốc gia tăng áp lực tranh giành chủ quyền và các quyền, lợi ích trong Biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, nằm trong yêu sách về “đường chữ U đứt đoạn” (“đường lưỡi bò”) mà họ đã đơn phương công bố, dư luận trong nước và dư luận quốc tế đã có những phản ứng mạnh mẽ, nhiều tranh luận học thuật, nhiều công trình nghiên cứu về Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã được công bố. Những nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống tư liệu có giá trị khoa học về lịch sử, pháp lý... để chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách “Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài” của PGS.TS Trương Minh Dục đã tập hợp và hệ thống hóa nguồn thư tịch, tư liệu khá phong phú, cũ và mới, của Việt Nam và nước ngoài, đặc biệt những tư liệu mới sưu tầm ở các địa phương có liên quan đến việc Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã quản lý, bảo vệ và khai thác quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nội dung cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1: Vài nét về địa lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sự tiếp cận của các tộc người Việt Nam trước thế kỷ XV. Chương 2: Chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam (từ thời Hậu Lê - thế kỷ XV đến năm 1975). Chương 3: Tư liệu nước ngoài trực tiếp và gián tiếp khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Chương 4: Đấu tranh để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa từ sau khi thống nhất đất nước đến nay. Việc tiếp tục phát hiện, sưu tầm và hệ thống hóa những tư liệu, tài liệu, chứng cứ, nhất là những tư liệu chứng minh Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi hai quần đảo này còn là đất vô chủ và đã tiến hành thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình. Rõ ràng, đây là công việc hết sức cần thiết và quan trọng, cần được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và cần có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung. Cuốn sách này sẽ là sự đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện hồ sơ pháp lý của các cơ quan quản lý và các tổ chức nghiên cứu khoa học có liên quan của Việt Nam vì sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông nói chung và tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng.
2047 lượt xem
Giáo trình Xác xuất và Thống kê
PGS.TS Lê Bá Long
Giáo trình được biên soạn cho Hệ đại học chuyên ngành Điện tử viễn thông và Công nghệ thông tin, dựa trên nền chương trình khung của Bộ Giáo dục - Đào tạo và theo đề cương chương trình của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông phê duyệt năm 2007, cùng với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm của tác giả theo định hướng ứng dụng cho các ngành kỹ thuật. Nội dung giáo trình gồm 6 chương, tương ứng với 4 đơn vị học trình: Chương 1: Các khái niệm cơ bản về xác suất Chương 2: Biến ngẫu nhiên và các đặc trưng của chúng Chương 3: Véc tơ ngẫu nhiên và các đặc trưng cơ bản của chúng Chương 4: Luật số lớn và định lý giới hạn Chương 5: Thống kê toán học Chương 6: Quá trình ngẫu nhiên và chuỗi Markov. Điều kiện tiên quyết cho môn học xác suất và thống kê là hai môn toán cao cấp đại số và giải tích trong chương trình toán đại cương. Một số giáo trình trình bày lý thuyết xác suất trên cơ sở hệ tiên đề Kolmogorov, trong đó xác suất là một độ đo σ - cộng tính các định trong σ- đại số các biến cố. Với cách xây dựng này, các khái niệm và định lý được trình bày ngắn gọn hơn, mạch lạc hơn, tổng quát hơn. Tuy nhiên vì sự hạn chế về thời gian của chương trình toán dành cho ngành kỹ thuật nên tác giả lựa chọn cách tiếp cận lý thuyết xác suất theo hướng ứng dụng mà không theo hướng hệ tiên đề. Một số khái niệm được hình thành từ các ví dụ cụ thể, nhiều kết quả và định lý chỉ được phát biểu và minh họa chứ không có điều kiện để chứng minh chi tiết. Giáo trình được trình bày phù hợp với người tự học. Trước khi nghiên cứu nội dung chi tiết, bạn đọc nên xem phần giới thiệu của mỗi chương để thấy được mục đích, ý nghĩa, yêu cầu chính của chương đó. Tại mỗi chương, mỗi nội dung bạn đọc có thể tự đọc và hiểu được cặn kẽ thông qua cách diễn đạt và chỉ dẫn rõ ràng. Đặc biệt bạn đọc nên chú ý đến các nhận xét để hiểu sâu hơn hoặc mở rộng tổng quát hơn các kết quả và hướng ứng dụng vào thực tế. Trong giáo trình tác giả đưa vào nhiều ví dụ minh họa trực tiếp cho các khái niệm, định lý hoặc các thuật toán, vì vậy sẽ giúp người đọc dễ dàng hơn khi tiếp thu bài học. Cuối mỗi chương đều có các câu hỏi luyện tập và bài tập. Bộ câu hỏi này bao trùm toàn bộ nội dung trong chương: có những câu kiểm tra trực tiếp các kiến thức vừa được học nhưng cũng có những câu đòi hỏi bạn đọc phải vận dụng một cách tổng hợp và sáng tạo các kiến thức để giải quyết. Vì vậy việc giải các bài tập này giúp bạn đọc nắm chắc hơn lý thuyết và tự kiểm tra được mức độ tiếp thu lý thuyết của mình.
2792 lượt xem
Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc
Nguyễn Văn Khoan, Đỗ Quang Hưng
Trong việc tìm hiểu, nghiên cứu cuộc đời yêu nước - cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, có một điều chúng ta rất dễ nhận thấy đó là sự thống nhất - có thể gọi là sự kết hợp, chặt chẽ giữa hai mục tiêu giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thể hiện rõ nét trong sự nghiệp báo chí của Người. Và trong thực tế, sự nghiệp báo chí của Người là vô cùng phong phú và sáng tạo, gắn liền và phục vụ đắc lực yêu cầu của từng thời kỳ hoạt động, không chỉ giới hạn vào phạm vi báo chí trong nước mà còn mở rộng ra cả phạm vi nước ngoài (Trung Quốc, Liên Xô, Pháp, Thái Lan), kể cả báo chí của Quốc tế Cộng sản. Cuốn sách “Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc” của GS. Đỗ Quang Hưng và TS. Nguyễn Văn Khoan đã đáp ứng đúng yêu cầu của công việc tìm hiểu - nghiên cứu và học tập tư tưởng của Người một cách chính xác, khoa học. Để biên soạn cuốn sách này, nhóm biên soạn đã có nhiều công phu trong việc khai thác, thu thập tư liệu từ nhiều nguồn và nhiều phía, tuy rằng chủ yếu là thừa hưởng kết quả sưu tầm và nghiên cứu của các tập “Hồ Chí Minh tuyển tập” và “toàn tập” đã được công bố rộng rãi trong nhiều năm qua, nhưng đã có sự điều chỉnh, bổ sung thêm một số tư liệu mới được khai thác từ các trung tâm lưu trữ trong nước và nước ngoài, đặc biệt là có sự đóng góp kịp thời và hiệu quả của “Thư mục các bài viết của Nguyễn Ái Quốc” đăng trên báo L’Humanité (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp do nhà sử học Pháp Alain Ruscio (là Giám đốc Trung tâm thông tin các tư liệu về nước Việt Nam hiện đại - viết tắt là C. I. D.) xuất bản nhân dịp kỷ niệm 100 năm báo Nhân đạo mới ra mắt bạn đọc (1904 - 2004), dưới đề mục chung “Vấn đề thuộc địa trên báo Nhân đạo”. Nội dung phong phú và khoa học của cuốn sách “Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc” được giới thiệu theo một cấu trúc chặt chẽ và hợp lý. Cuốn sách giới thiệu khá tỉ mỉ tình hình ra đời và phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ những ngày đầu, và phát triển liên tục cho tới ngày nay, và vai trò to lớn, có tính quyết định, mở đường khai lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đó. Cuốn sách gồm hai phần chính: Phần I giới thiệu 26 bài viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh theo thời gian, bài sớm nhất là “Tâm địa thực dân” năm 1919 cho tới bài cuối cùng là “Trả lời phỏng vấn của Sáclơ Phuốcniô” năm 1969, chỉ trước khi Người đi xa một thời gian ngắn. Phần II giới thiệu 12 bài viết của một số nhà khoa học nghiên cứu về các bài báo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn có Phụ lục lần lượt giới thiệu Tổng mục các bài viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trên báo L’Humanité của Đảng Cộng sản Pháp và cuối cùng là một số tài liệu, bản chụp bài viết của Nguyễn Ái Quốc bằng tiếng Việt - Pháp - Anh - Hán. Có thể khẳng định rằng cơ cấu như vậy là chặt chẽ và hoàn chỉnh đối với một công trình mang tính giới thiệu thông tin. Chỉ tiếc rằng nếu trong Phần I bên cạnh tên bài báo có cả thông tin về bài báo đăng trên số nào, ngày nào thì sẽ cụ thể, khoa học hơn.
3764 lượt xem
Bưu chính điện tử
ThS. Ao Thu Hoài, CN. Lê Sỹ Linh, TS. Nguyễn Đăng Hậu
Công nghệ hiện đại đang được coi là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và ngành Bưu chính nói riêng. Việc ứng dụng các công nghệ thông tin vào hoạt động sản xuất Bưu chính sẽ mang lại hiệu quả cao do tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng dịch vụ. Thực tế đã có nhiều doanh nghiệp đã và đang thúc đẩy việc xây dựng các cổng giao dịch điện tử hoặc tham gia các dịch vụ mua bán hàng thông qua Internet, mạng Bưu chính trên Internet, nhiều trang thương mại điện tử mở ra thực hiện việc phát hàng đến tận nhà với phương thức thanh toán thuận lợi. Để đáp ứng nhu cầu bạn đọc tìm hiểu về vấn đề này, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “Bưu chính điện tử” do tác giả TS. Nguyễn Đăng Hậu, ThS. Ao Thu Hoài, CN. Lê Sỹ Linh biên soạn. Cuốn sách gồm sáu chương đề cập đến các nội dung: Giới thiệu về Internet, WWW, trang Web; Khái niệm về thương mại điện tử; Kinh doanh thương mại điện tử; Khái quát về Bưu chính điện tử; Hoạt động của Bưu chính điện tử; Các điều kiện cần thiết cho phát triển Bưu chính điện tử. Hy vọng, cuốn sách sẽ là tư liệu cần thiết cho các lãnh đạo, các cán bộ quản lý của các cơ quan, đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam, các nhà quản trị doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Bưu chính, các cán bộ phụ trách công tác vận hành và khai thác mạng lưới Bưu chính; đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các giáo viên, các học viên, sinh viên các cơ sở đào tạo chuyên ngành Bưu chính và những người quan tâm đến vấn đề này.
7833 lượt xem
Lý thuyết số và Chuyên đề nâng cao
Phạm Đức Hiệp, Lưu Bá Thắng, Trần Thị Hồng Dung, Trần Trung Tình, Đàm Văn Nhỉ
Cuốn sách trình bày những kiến thức cơ bản nhất về Lý thuyết số. Chương 1 tập trung trình bày về chia hết, đồng dư, biểu diễn số, Định lý nhỏ Fermat, Định lý Euler, Định lý Wilson và các Hàm số học cơ bản. Các vấn đề về phương trình đồng dư, phương trình đồng dư bậc hai và hệ phương trình đồng dư được trình bày chi tiết trong chương 2, đặc biệt là Định lý Trung Hoa về dư, ký hiệu Legendre, ký hiệu Jacobi về số chính phương mod p. Chương 3 tập trung trình bày một vài phương trình về nghiệm nguyên cổ điển, chẳng hạn Phương trình Pythagore, Phương trình Pell, Phương trình Mordell. Với mục đích dùng cho đối tượng từ cuối cấp trung học cơ sở tới sinh viên đại học nên sách được trình bày, chứng minh chỉ dùng những kiến thức toán sơ cấp xuyên suốt từ chương 1 đến chương 3. Xen lẫn những chứng minh sơ cấp, sách cũng có những bình luận nếu dùng kiến thức của toán cao cấp, đặc biệt đại số hiện đại. Đặc biệt, Chương 4 dành cho việc giới thiệu một số chuyên đề nâng cao và vần đề lý thuyết số được nhiều nhà toán học quan tâm trong suốt quá trình phát triển. Sau mỗi Mục và Chương đều có nhiều ví dụ tổng hợp kèm theo lời giải chi tiết để giúp các bạn hình thành kỹ năng giải toán số học. Các bài tập cuối mỗi chương không có hướng dẫn giải giúp các bạn ôn luyện kiến thức, tìm kiếm thách thức, rèn luyện tư duy khi giải các bài tập này. Việc đặt các bài tập cuối chương như một sự gợi ý cho việc giải chúng. Hơn nữa việc giải các bài tập giống như việc tập làm các nghiên cứu nhỏ giúp bạn đọc phát triển khả năng tư duy logic, độc lập, sáng tạo rất có ích cho tương lai
4045 lượt xem
Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
TS. Nguyễn Thành Lợi
Sự ra đời các phương tiện truyền thông mới đã và đang tác động sâu sắc đến “bữa tiệc thông tin” của công chúng hiện đại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự “sinh tồn” của các phương tiện truyền thông truyền thống, đặt ra cho các tòa soạn và nhà báo những thách thức chưa từng có. Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ kỹ thuật số, Internet đã và đang tác động sâu sắc, đa dạng, phong phú đến “món ăn” tinh thần hàng ngày của công chúng truyền thông hiện đại. Đặc biệt, với sự ra đời của các thiết bị di động, những màn hình tương tác trở thành phương tiện truyền thông thông minh để mỗi giây, cư dân mạng có thể tải và chia sẻ hàng tỉ byte thông tin. Điều đó khiến cuộc va chạm giữa phương tiện truyền thông truyền thống và mới, giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dù thừa nhận hay không, truyền thông xã hội vẫn là một thực thể truyền thông đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống truyền thông hiện đại, tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng, tác động không nhỏ đến ngành báo chí truyền thông thế giới đương đại. Có thể thấy, truyền thông Internet ra đời tạo ra xu hướng hội tụ truyền thông và đa phương tiện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự vận động và phát triển của báo chí truyền thông hiện đại. Vậy, hội tụ truyền thông là gì? Sự xuất hiện của kỷ nguyên truyền thông số đã khiến nghiệp vụ báo chí truyền thông có những thay đổi căn bản. Những thay đổi đó tác động như thế nào đến tiến trình hội tụ truyền thông? Từ tòa soạn đơn loại hình đến đa phương tiện rồi phát triển tới tòa soạn hội tụ là sự phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong bối cảnh chung đó, các tòa soạn báo ở Việt Nam nên sắp xếp và thay đổi mô hình tổ chức như thế nào để thích ứng với xu thế phát triển chung của thế giới hiện đại? Đây là những vấn đề đang được báo giới, học giả cũng như các nhà báo hết sức quan tâm. Có thể khẳng định, sự xuất hiện thời đại truyền thông hội tụ không làm thay đổi bản chất của báo chí, mà báo chí vẫn cần sự phát hiện và khai quật của nhà báo chuyên nghiệp, vẫn cần sự gia công trong khâu biên tập và khâu xuất bản, vẫn phải thông qua phương tiện truyền thông để đưa sản phẩm báo chí tới công chúng. Và sự thay đổi của nó là tốc độ truyền phát thông tin và phương thức tiếp nhận thông tin. Nắm vững các kỹ năng làm báo hiện đại vẫn là yêu cầu quan trọng nhất của người làm báo trong môi trường truyền thông hiện nay. Trong môi trường hội tụ truyền thông, những nghiên cứu về sự thay đổi và bất biến của nghiệp vụ báo chí truyền thông ở nước ta vẫn còn khá ít ỏi. Cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi giới thiệu với độc giả những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm - nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyền thông. Tác giả đã giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới, tác giả đã làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, phóng viên, biên tập viên và những người muốn nghiên cứu lĩnh vực này. Tìm tòi, trình bày và giải thích là mục đích của tác giả viết cuốn sách này, khi tiếp xúc với những vấn đề mà nhà nghiên cứu cảm thấy xa lạ, hoặc khi bản thân vấn đề đó còn khá mới mẻ, người nghiên cứu sẽ phải có những nhận thức sơ bộ đối với đề tài. Sau khi những nhận thức dần được hình thành, hoạt động nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở khâu miêu tả và đánh giá lý thuyết của nước ngoài, mà cần có sự áp dụng sâu hơn vào thực tiễn đào tạo và làm báo của nước nhà. Nghiên cứu khoa học bắt nguồn từ quan sát, nhưng cuối cùng phải giải thích về sự vật mình quan sát được, cần áp dụng phương pháp nào đó để giải thích, ví dụ phương pháp xã hội học, phương pháp tâm lý học truyền thông. Góc độ phân tích phương pháp nghiên cứu của mỗi người mỗi khác mới cho ra đời những quan điểm mới mẻ, có tác dụng gợi mở cho độc giả và ngành khoa học. Công trình nghiên cứu của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi đã đưa ra những vấn đề mới mang tính gợi mở cho các cuộc thảo luận tiếp theo của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và độc giả trong nước. Đây là hướng đi khá mới mẻ, cũng là một sự thử nghiệm rất đáng quý.
7364 lượt xem