Thư viện
Giáo trình giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán hàng
TỔNG CÔNG TY BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Giáo trình Giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán hàng đã được biên soạn, gồm 04 chương, nhằm trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về thị trường; về Marketing; các khái niệm cơ bản về giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán hàng; các luận điểm cơ bản trong giao tiếp; những yêu cầu đối với người bán hàng bưu điện, rèn luyện kỹ năng bán hàng bưu điện..
2626 lượt xem
Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài
PGS. TS. Trương Minh Dục
Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi quốc gia. Quá trình đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam dẫu có lúc thăng trầm, những bước thịnh suy, song đã hun đúc nên truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất để gìn giữ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cả ở trên bộ, trên biển và trên không. Điều này đã được khẳng định trong các Tuyên ngôn độc lập: Nam quốc sơn hà (thời Tiền Lê - Lý); Bình Ngô đại cáo thời Hậu Lê; Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992… Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, đã được Nhà nước Việt Nam, các thế hệ người Việt Nam chiếm hữu, bảo vệ, quản lý, khai thác. Điều này, không chỉ được lưu lại trong cổ sử Việt Nam, mà còn được quốc tế thừa nhận trong các tư liệu còn lưu trữ. Trong hơn một thế kỷ qua, các nhà khoa học ở trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu và đã công bố những công trình sưu tập, nghiên cứu khoa học có liên quan đến những tư liệu nằm trong thư tịch, sách, bản đồ cổ… có giá trị pháp lý chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong những năm gần đây, trước tình hình Trung Quốc gia tăng áp lực tranh giành chủ quyền và các quyền, lợi ích trong Biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, nằm trong yêu sách về “đường chữ U đứt đoạn” (“đường lưỡi bò”) mà họ đã đơn phương công bố, dư luận trong nước và dư luận quốc tế đã có những phản ứng mạnh mẽ, nhiều tranh luận học thuật, nhiều công trình nghiên cứu về Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã được công bố. Những nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống tư liệu có giá trị khoa học về lịch sử, pháp lý... để chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách “Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài” của PGS.TS Trương Minh Dục đã tập hợp và hệ thống hóa nguồn thư tịch, tư liệu khá phong phú, cũ và mới, của Việt Nam và nước ngoài, đặc biệt những tư liệu mới sưu tầm ở các địa phương có liên quan đến việc Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã quản lý, bảo vệ và khai thác quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nội dung cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1: Vài nét về địa lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sự tiếp cận của các tộc người Việt Nam trước thế kỷ XV. Chương 2: Chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam (từ thời Hậu Lê - thế kỷ XV đến năm 1975). Chương 3: Tư liệu nước ngoài trực tiếp và gián tiếp khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Chương 4: Đấu tranh để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa từ sau khi thống nhất đất nước đến nay. Việc tiếp tục phát hiện, sưu tầm và hệ thống hóa những tư liệu, tài liệu, chứng cứ, nhất là những tư liệu chứng minh Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi hai quần đảo này còn là đất vô chủ và đã tiến hành thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình. Rõ ràng, đây là công việc hết sức cần thiết và quan trọng, cần được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và cần có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung. Cuốn sách này sẽ là sự đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện hồ sơ pháp lý của các cơ quan quản lý và các tổ chức nghiên cứu khoa học có liên quan của Việt Nam vì sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông nói chung và tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng.
2118 lượt xem
Phản biện xã hội của báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật
Phan Văn Kiền
Những năm gần đây, khái niệm “phản biện xã hội” và vai trò phản biện xã hội của báo chí đã và đang trở thành những vấn đề “nóng” thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Phản biện xã hội và vai trò phản biện xã hội của báo chí truyền thông cũng được nhiều sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh lựa chọn làm công trình tốt nghiệp cho các bậc từ cử nhân đến tiến sĩ. Tuy nhiên, sự xuất hiện của phản biện xã hội trong các công trình nói trên chủ yếu ở dạng bài viết hoặc một chương để phục vụ cho quá trình nghiên cứu chứ chưa hệ thống hóa một cách toàn diện và đa chiều như là một chuyên luận hoặc chuyên khảo. Thạc sĩ Phan Văn Kiền là một trong những người đầu tiên tại Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường ĐKHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học với đề tài về phản biện xã hội trên báo chí. Từ đó đến nay, đề tài này trở thành một vệt nghiên cứu rõ nét trong các cấp học của Phan Văn Kiền, từ cử nhân, thạc sĩ và đang thực hiện luận án tiến sĩ. Có thể nói, cuốn sách “Phản biện xã hội của báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật” của ThS Phan Văn Kiền là công trình chuyên khảo đầu tiên, bước đầu tìm hiểu một cách toàn diện và hệ thống về vấn đề phản biện xã hội trên báo chí Việt Nam hiện nay. Chuyên khảo này thể hiện niềm đam mê của một người nghiên cứu trẻ với một đề tài mới mẻ nhưng không dễ thực hiện. Thay vì cấu trúc theo các chương như những công trình nghiên cứu khác, cuốn sách được chia làm hai phần chính: Phần thứ nhất là: Một số vấn đề về phản biện xã hội của báo chí Việt Nam, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phản biện xã hội và phản biện xã hội trên báo chí; Phần thứ hai là: Phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam hiện đại qua một số sự kiện nổi bật, phần này tác giả tập trung phân tích một số trường hợp phản biện xã hội của các tác phẩm báo chí tiêu biểu. Kết cấu này mặc dù đơn giản nhưng rất rõ ràng và logic về mặt nội dung. Trong phần thứ nhất, tác giả đã trình bày một cách vừa khái quát, vừa cụ thể về những vấn đề liên quan tới phản biện xã hội và phản biện xã hội trên báo chí. Thành công nhất của phần này là tác giả mặc dù tham khảo rất nhiều công trình nghiên cứu trước đó về phản biện xã hội nhưng những vấn đề được đề cập lại không trùng với các công trình đó. Bằng những kiến giải mạch lạc và có lý, tác giả đã cho người đọc hình dung một hệ thống chặt chẽ của phản biện xã hội trên báo chí từ nguồn gốc đến khái niệm, những vấn đề chung về vai trò phản biện xã hội của báo chí, thực trạng phản biện xã hội của báo chí và cả những rào cản khách quan, chủ quan của báo chí trong việc thực hiện vai trò phản biện xã hội. Phần thứ hai, tác giả tập trung khảo sát sâu bốn sự kiện nổi bật trên báo chí trong thời gian vừa qua. Bốn sự kiện được lựa chọn đều là những sự kiện tiêu biểu, đậm nét phản biện xã hội của báo chí và mỗi sự kiện đều có một màu sắc phản biện riêng. Thành công của tác giả là không chỉ phân tích những nội dung phản biện của mỗi sự kiện trên báo chí, mà còn chỉ rõ được những phương thức, nghệ thuật phản biện của từng sự kiện trong các loạt bài khảo sát. Dù đây mới chỉ là công trình chuyên khảo bước đầu về phản biện xã hội trên báo chí, cũng là công trình đầu tay của tác giả Phan Văn Kiền, nhưng nó cho thấy đam mê và công phu của tác giả trong việc chuẩn bị tư liệu cũng như quá trình khảo sát. Lần tái bản này, công trình đã được bổ sung thêm nhiều tư liệu và nhiều phân tích phong phú, cụ thể và sát với tình hình thời sự báo chí những năm gần đây hơn. Trên thực tế, tác giả cũng đang không ngừng bổ sung thêm vào những kiến thức được xây dựng từ trước về vấn đề này bằng việc thực hiện luận án tiến sĩ báo chí học về vai trò phản biện xã hội của báo chí. Với sự trân trọng đam mê, năng lực của tác giả cũng như nội dung, chủ đề chuyên khảo, tôi xin giới thiệu công trình này tới bạn đọc
1741 lượt xem
Bưu chính điện tử
ThS. Ao Thu Hoài, CN. Lê Sỹ Linh, TS. Nguyễn Đăng Hậu
Công nghệ hiện đại đang được coi là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và ngành Bưu chính nói riêng. Việc ứng dụng các công nghệ thông tin vào hoạt động sản xuất Bưu chính sẽ mang lại hiệu quả cao do tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng dịch vụ. Thực tế đã có nhiều doanh nghiệp đã và đang thúc đẩy việc xây dựng các cổng giao dịch điện tử hoặc tham gia các dịch vụ mua bán hàng thông qua Internet, mạng Bưu chính trên Internet, nhiều trang thương mại điện tử mở ra thực hiện việc phát hàng đến tận nhà với phương thức thanh toán thuận lợi. Để đáp ứng nhu cầu bạn đọc tìm hiểu về vấn đề này, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “Bưu chính điện tử” do tác giả TS. Nguyễn Đăng Hậu, ThS. Ao Thu Hoài, CN. Lê Sỹ Linh biên soạn. Cuốn sách gồm sáu chương đề cập đến các nội dung: Giới thiệu về Internet, WWW, trang Web; Khái niệm về thương mại điện tử; Kinh doanh thương mại điện tử; Khái quát về Bưu chính điện tử; Hoạt động của Bưu chính điện tử; Các điều kiện cần thiết cho phát triển Bưu chính điện tử. Hy vọng, cuốn sách sẽ là tư liệu cần thiết cho các lãnh đạo, các cán bộ quản lý của các cơ quan, đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam, các nhà quản trị doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Bưu chính, các cán bộ phụ trách công tác vận hành và khai thác mạng lưới Bưu chính; đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các giáo viên, các học viên, sinh viên các cơ sở đào tạo chuyên ngành Bưu chính và những người quan tâm đến vấn đề này.
8085 lượt xem
Biên tập Báo chí
TS. Nguyễn Quang Hòa
Cuốn sách mà bạn đang cầm trên tay là giáo trình chính thức của Học viện Báo chí - Tuyên truyền, được viết để phục vụ giảng dạy môn Biên tập báo chí cho sinh viên, những người sẽ trở thành phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí, nhà xuất bản trong tương lai. Đồng thời, nó cũng rất bổ ích cho những người đang làm công tác biên tập, phóng viên báo chí. Ở Chương 1, tác giả đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác biên tập như “khái niệm”, “đặc điểm của công tác biên tập”, “vai trò của biên tập viên” và những vấn đề đặt ra với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ biên tập viên. Từ Chương 2, cuốn sách nói rõ các bước lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, kế hoạch đột xuất; quy trình xuất bản ở các tòa soạn báo, từ bản thảo của phóng viên tới tờ báo trên tay bạn đọc (hoặc các trang điện tử, chương trình phát thanh, truyền hình). Cuốn sách còn trả lời các câu hỏi: - Những ai biên tập báo chí? Vị trí và đặc điểm của công tác biên tập là gì? - Những loại lỗi phổ biến trên báo và các lỗi hi hữu, xảy ra trong các hoàn cảnh đặc biệt. - Những nguyên tắc khi biên tập. - Người biên tập cần những tố chất gì, những loại kiến thức gì để hoàn thành tốt công việc trong các tòa soạn đa phương tiện? - Những điều cần chú ý khi biên tập các chuyên đề Xây dựng Đảng, Kinh tế, Văn hóa xã hội, Pháp luật, Thể thao... Tác giả cũng chỉ ra những kẽ hở trong quy trình biên tập, đó chính là những cạm bẫy đối với người biên tập và đưa ra cách khắc phục.
9057 lượt xem
Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
TS. Nguyễn Thành Lợi
Sự ra đời các phương tiện truyền thông mới đã và đang tác động sâu sắc đến “bữa tiệc thông tin” của công chúng hiện đại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự “sinh tồn” của các phương tiện truyền thông truyền thống, đặt ra cho các tòa soạn và nhà báo những thách thức chưa từng có. Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ kỹ thuật số, Internet đã và đang tác động sâu sắc, đa dạng, phong phú đến “món ăn” tinh thần hàng ngày của công chúng truyền thông hiện đại. Đặc biệt, với sự ra đời của các thiết bị di động, những màn hình tương tác trở thành phương tiện truyền thông thông minh để mỗi giây, cư dân mạng có thể tải và chia sẻ hàng tỉ byte thông tin. Điều đó khiến cuộc va chạm giữa phương tiện truyền thông truyền thống và mới, giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dù thừa nhận hay không, truyền thông xã hội vẫn là một thực thể truyền thông đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống truyền thông hiện đại, tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng, tác động không nhỏ đến ngành báo chí truyền thông thế giới đương đại. Có thể thấy, truyền thông Internet ra đời tạo ra xu hướng hội tụ truyền thông và đa phương tiện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự vận động và phát triển của báo chí truyền thông hiện đại. Vậy, hội tụ truyền thông là gì? Sự xuất hiện của kỷ nguyên truyền thông số đã khiến nghiệp vụ báo chí truyền thông có những thay đổi căn bản. Những thay đổi đó tác động như thế nào đến tiến trình hội tụ truyền thông? Từ tòa soạn đơn loại hình đến đa phương tiện rồi phát triển tới tòa soạn hội tụ là sự phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong bối cảnh chung đó, các tòa soạn báo ở Việt Nam nên sắp xếp và thay đổi mô hình tổ chức như thế nào để thích ứng với xu thế phát triển chung của thế giới hiện đại? Đây là những vấn đề đang được báo giới, học giả cũng như các nhà báo hết sức quan tâm. Có thể khẳng định, sự xuất hiện thời đại truyền thông hội tụ không làm thay đổi bản chất của báo chí, mà báo chí vẫn cần sự phát hiện và khai quật của nhà báo chuyên nghiệp, vẫn cần sự gia công trong khâu biên tập và khâu xuất bản, vẫn phải thông qua phương tiện truyền thông để đưa sản phẩm báo chí tới công chúng. Và sự thay đổi của nó là tốc độ truyền phát thông tin và phương thức tiếp nhận thông tin. Nắm vững các kỹ năng làm báo hiện đại vẫn là yêu cầu quan trọng nhất của người làm báo trong môi trường truyền thông hiện nay. Trong môi trường hội tụ truyền thông, những nghiên cứu về sự thay đổi và bất biến của nghiệp vụ báo chí truyền thông ở nước ta vẫn còn khá ít ỏi. Cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi giới thiệu với độc giả những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm - nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyền thông. Tác giả đã giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới, tác giả đã làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, phóng viên, biên tập viên và những người muốn nghiên cứu lĩnh vực này. Tìm tòi, trình bày và giải thích là mục đích của tác giả viết cuốn sách này, khi tiếp xúc với những vấn đề mà nhà nghiên cứu cảm thấy xa lạ, hoặc khi bản thân vấn đề đó còn khá mới mẻ, người nghiên cứu sẽ phải có những nhận thức sơ bộ đối với đề tài. Sau khi những nhận thức dần được hình thành, hoạt động nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở khâu miêu tả và đánh giá lý thuyết của nước ngoài, mà cần có sự áp dụng sâu hơn vào thực tiễn đào tạo và làm báo của nước nhà. Nghiên cứu khoa học bắt nguồn từ quan sát, nhưng cuối cùng phải giải thích về sự vật mình quan sát được, cần áp dụng phương pháp nào đó để giải thích, ví dụ phương pháp xã hội học, phương pháp tâm lý học truyền thông. Góc độ phân tích phương pháp nghiên cứu của mỗi người mỗi khác mới cho ra đời những quan điểm mới mẻ, có tác dụng gợi mở cho độc giả và ngành khoa học. Công trình nghiên cứu của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi đã đưa ra những vấn đề mới mang tính gợi mở cho các cuộc thảo luận tiếp theo của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và độc giả trong nước. Đây là hướng đi khá mới mẻ, cũng là một sự thử nghiệm rất đáng quý.
7617 lượt xem
Quản trị bán hàng
Trần Thị Thập
Bán hàng là một hoạt động chức năng cơ bản nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thế giới, các quan điểm về bán hàng cũng được phát triển nhanh chóng theo thời gian: vai trò của người bán hàng là người cung cấp sản phẩm, dịch vụ và xác định người bán hàng là người sáng tạo giá trị. Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường đang trên đà phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng quan tâm đến khâu bán hàng và quản trị bán hàng. Các sinh viên ngành Quản trị kinh doanh và Marketing, trong tương lai nhiều người sẽ trở thành người quản trị bán hàng, và hơn ai hết họ sẽ phải nắm rõ Quản trị bán hàng là gì?? Cuốn sách “Quản trị bán hàng” là một công cụ khá hoàn chỉnh bao quát toàn diện các kiến thức cơ bản của Nghề bán hàng, các kỹ thuật quan trọng và phương pháp kỹ năng bán hàng, cách thức lập kế hoạch và tổ chức bán hàng và cuối cùng là phương thức kiểm soát và đánh giá bán hàng. Khi các sinh viên ngành Quản trị kinh doanh và Marketing được tiếp cận đầy đủ với kiến thức chuyên môn của công tác bán hàng, họ sẽ nhận thức vị trí, vai trò của người quản trị bán hàng và nhân viên bán hàng trong doanh nghiệp, hiểu và vận dụng tốt các kỹ năng cần thiết đối với người quản trị bán hàng, cuối cùng là nhận thức được tương lai phát triển của hoạt động quản trị bán hàng. Cuốn sách này do TS.Lê Thị Thập - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông biên soạn, trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu cả trong nước và ngoài nước. “Quản trị bán hàng” không chỉ là tài liệu thiết yếu dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh và Marketing, mà các nhà quản trị doanh nghiệp cũng sẽ tìm thấy nhiều thông tin, quan điểm mới về quản trị bán hàng.
6970 lượt xem
Nghề báo - Những bài nhớ đời
TS. Nguyễn Quang Hòa
Công việc của phóng viên đòi hỏi họ phải “xục xạo” mọi nơi. Họ phải đối mặt với những sức ép, khó khăn, cạm bẫy nguy hiểm rình rập trong quá trình tác nghiệp thế nào? Còn các biên tập viên, lãnh đạo Ban Thư ký Tòa soạn chỉ ngồi nhà, trong các căn phòng mát lạnh vào mùa hè, ấm áp trong mùa đông, tại sao không ai bảo họ sướng? Nghề báo - Những bài học nhớ đời sẽ giải đáp các câu hỏi đó và hơn thế nữa. Qua những câu chuyện, cả thành công và thất bại của tác giả cũng như đồng nghiệp ở các tờ báo sẽ cho bạn đọc rất nhiều cung bậc cảm xúc, từ vui vẻ nhẹ nhàng tới nỗi buồn tột độ, những kinh nghiệm quý hơn vàng! Đây cũng là một tài liệu nghiệp vụ bổ ích cho các sinh viên báo chí, các nhà báo trẻ và những ai quan tâm đến công việc của người làm báo.
8802 lượt xem
Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụng nhằm hiểu rõ Điểm mạnh ( Strengths), Điểm yếu ( Weaknesses), Cơ hội ( Opportunities) và Nguy cơ ( Threats) trong phân tích kinh doanh của một doanh nghiệp. Thông qua phân tích SWOT, doanh nghiệp sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Trong quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, hiệu quả cao giúp bạn có cái nhìn tổng thể không chỉ về chính doanh nghiệp của mình mà còn thấy được những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp bạn. • Điểm mạnh là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tích cực hoặc có lợi giúp bạn đạt được mục tiêu. • Điểm yếu là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. • Cơ hội là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp lợi đạt được mục tiêu. • Nguy cơ là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. Có thể thấy, mục đích của phân tích SWOT là nhằm xác định thế mạnh mà bạn đang nắm giữ cũng như những điểm hạn chế cần phải khắc phục. Nói cách khác, SWOT chỉ ra cho bạn đâu là nơi để bạn tấn công và đâu là nơi bạn cần phòng thủ. Cuối cùng, kết quả SWOT cần phải được áp dụng một cách hợp lý trong việc đề ra một Kế hoạch hành động (Action plan) thông minh và hiệu quả. Thấy rõ tầm quan trọng của SWOT, trường Đào tạo Doanh nhân PTI, nơi đào tạo hàng nghìn nhà lãnh đạo cấp cao và cấp trung, đã tổ chức biên soạn cuốn sách “Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh”. Hy vọng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể hiểu rõ SWOT để vận dụng thành công vào mô hình kinh doanh của doanh nghiệp mình.
6871 lượt xem
Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
PGS.TS Nguyễn Văn Dững
Cuốn sách sẽ trang bị những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản, giúp sinh viên tạo lập kiến thức nền tảng và nâng cao kỹ năng về giao tiếp - truyền thông - vận động xã hội trong hoạt động truyền thông và báo chí; tăng cường khả năng hội nhập bình đẳng trong phạm vi khu vực và quốc tế, khả năng hoà nhập vào các nhóm công chúng - xã hội, một yêu cầu rất quan trọng và là một trong những điểm yếu của sinh viên báo chí hiện nay.
9219 lượt xem
Chuyện đời làm báo
Minh Đức
Khi Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam, máy bay Mỹ ném bom, bắn phá các cơ sở kinh tế, các khu dân cư khiến tất cả các trường học ở Hà Nội và ở các thành phố lớn phải sơ tán về nông thôn. Cũng giống như các bạn cùng trang lứa, tôi đã phải một mình về làng Đại Từ - huyện Thanh Trì - Hà Nội để tiếp tục được đi học. Người dân vùng nông thôn đã mở vòng tay đón và cho chúng tôi ở nhờ ngay trong nhà họ. Một lần tôi được nhà báo có bút danh là “Bút Thép” phỏng vấn. Nội dung câu hỏi xoay quanh vấn đề “Cuộc sống ở nông thôn”, tôi đã rất thật thà “tâm sự” cùng ông (theo cách nhìn của một trẻ thơ) về những khó khăn trong đó có cả việc phải dùng nước ao tù làm nước sinh hoạt. “Tâm sự” của tôi được đăng tải trên báo Thiếu niên tiền phong. Thế là một cuộc “búa rìu dư luận” của những người bạn cùng lứa đã “nhắm” vào tôi. Thậm chí có những “cô bạn” đã “chụp mũ” và “quy chụp” tôi thuộc tầng lớp “tiểu tư sản”!!! Nỗi oan xuất phát từ việc “nói thật” - đã để lại ấn tượng khó phai trong tâm trí tôi. Điều nực cười là việc mà nhà báo “Bút Thép” hướng dẫn dư luận chỉ trích tôi thì chỉ hơn 10 năm sau khi Việt Nam thống nhất đã trở thành tiêu chí phấn đấu của nhà nước - phấn đấu để người dân được dùng nước sạch. Nỗi oan này khiến tôi, khi trở thành nhà báo đã định hướng cho mình trong công việc phải có “cái tâm” trong sáng; phải “nói thẳng - nói thật”. Suốt chặng đường làm báo, tôi đã được gặp nhiều người từ những người dân gặp nạn khi quyết tâm chống lại những người “móc túi” nhà nước như kỹ sư Hứa Thúy Lan, như những người dân ở Quảng Ninh bị những người nhân danh các cơ quan công quyền “bớt xén” tiền đền bù khi phải nhường đất để mở rộng quốc lộ 18A và quốc lộ 10 v.v… đến những nhân vật đã trở thành những nhân chứng lịch sử như Đại tá Bùi Tùng, người thảo lời đầu hàng cho Đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống Việt Nam Cộng hòa, trong ngày 30/4/1975; chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thuộc “lực lượng thứ 3” khi miền Nam chưa được giải phóng, 4 chiến sĩ trên chiếc xe tăng 390, chiếc xe đầu tiên đâm đổ cửa Dinh Độc Lập ở Sài Gòn trong ngày 30/4/1975; Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, tác giả của Dinh Độc Lập; rồi viên tướng Gomit, người Xê-nê-gan nhưng có tâm hồn Việt Nam và hát rất hay… Tôi cũng đã thấy, đã biết được những mảng tối của cuộc sống, biết được sự tráo trở của một số người lợi dụng chức quyền hành dân; biết được nỗi khổ của người dân và cũng gặp được những con người chân chính. Như tôi đã phát biểu tại Hội thảo toàn quốc “Trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo trong đấu tranh chống tiêu cực” được tổ chức tại Hà Nội cuối năm 2002: “Những bài chống tiêu cực không chỉ là những bài chứa đựng những con số trái ngược nhau để từ đó tìm ra những khuất tất trong xây dựng cơ bản, trong công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) mà các phóng sự đó phải mang tính nhân văn thông qua việc giải quyết tốt vấn đề đặt ra đối với số phận của những người chống tiêu cực”. Để có được một phóng sự điều tra chống tiêu cực là cả một quá trình khó khăn, vất vả mà chỉ những ai từng tham gia mới ý thức được.
2477 lượt xem
Nguyên lý kế toán
Khoa Kế toán Kiểm toán - ĐH Tài chính Kế toán
Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Với chức năng thông tin và kiểm tra, kế toán có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành hoạt động kinh tế, tài chính; là công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ, có hiệu quả mọi hoạt động kinh tế, tài chính; cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời, công khai, minh bạch nhằm đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý điều hành của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân. Nguyên lý kế toán là môn học bắt buộc thuộc khối kiến thức cơ sở ngành trong chương trình đào tạo ngành kế toán, kiểm toán, tài chính - ngân hàng, quản trị kinh doanh,…Nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Tài chính - Kế toán đã tổ chức biên soạn cuốn sách “Nguyên lý kế toán”. Nội dung sách gồm 8 chương, bao gồm những kiến thức cơ bản về kế toán như: Chức năng, vai trò của kế toán, đối tượng kế toán, phương pháp kế toán, nguyên tắc kế toán... và một số qui định hiện hành của pháp luật về kế toán. Nghiên cứu học phần nguyên lý kế toán là điều kiện tiên quyết cho việc học tập các môn kế toán chuyên ngành cũng như vận dụng vào thực tiễn công tác quản lý kinh tế, tài chính với các mục đích khác nhau. Hy vọng cuốn sách sẽ đáp ứng yếu cầu giảng dạy và học tập của các trường đại học có chuyên ngành kế toán, kiểm toán...
4586 lượt xem
IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong
TS. Phạm Anh Dũng

Nội dung sách cung cấp những kiến thức cơ bản về IoT như: kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong và rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của IoT, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong” do TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng (nguyên Trưởng Bộ môn Vô tuyến - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) biên soạn.

Nội dung của cuốn sách gồm 6 chương:
Chương 1. Tổng quan về IoT
Chương 2. Kiến trúc mạng và ngăn xếp giao thức Internet
Chương 3. Kiến trúc và các giao thức IoT
Chương 4. Điện toán đám mây và sương mù cho IoT
Chương 5. IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0
Chương 6. IoT trong các hệ thống 4G LTE và 5G 
Hy vọng, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các trường đại học, các chuyên gia, kỹ sư và bạn đọc quan tâm đến khái niệm, công nghệ và các ứng dụng của IoT.

5457 lượt xem
Cơ sở dữ liệu quan hệ và Ứng dụng
PGS.TS Nguyễn Bá Tường
Ngày nay, sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng có được những dữ liệu chính xác và kịp thời về các hoạt động của doanh nghiệp, để quản lý và phân tích dữ liệu một cách có hiệu quả nhằm đưa ra được chiến lược cho những hoạt động tiếp theo. Vấn đề quản lý và sử dụng thông tin dần trở thành một ngành công nghiệp có doanh số nhiều tỷ đô la. Người ta coi giá trị của dữ liệu như là một thứ tài sản quý giá của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu không có được sự quản lý một cách hữu hiệu đối với lượng dữ liệu ngày càng lớn này, cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu của các câu hỏi tìm kiếm, lượng dữ liệu này sẽ trở nên vô nghĩa. Chính điều này đã thúc đẩy sự cần thiết có được một cơ sở dữ liệu cũng như một hệ quản trị cơ sở dữ liệu hiệu quả và linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác quản lý cũng như tìm kiếm thông tin. Chúng ta có thể định nghĩa cơ sở dữ liệu như là một bộ sưu tập có tổ chức của các dữ liệu liên quan logic với nhau và được các hệ ứng dụng của một tổ chức cụ thể nào đó sử dụng. Cách tiếp cận cơ sở dữ liệu nhấn mạnh đến tính chia sẻ và tích hợp của dữ liệu trong toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận này, dữ liệu được lưu trữ có tổ chức, tập trung dưới dạng một cơ sở dữ liệu và giữa các dữ liệu có sự liên kết logic với nhau. Trong cuốn sách này một lần nữa chúng tôi muốn nêu có hệ thống những vấn đề quan trọng nhất của cơ sở dữ liệu quan hệ. Môt mô hình dữ liệu xuất hiện trong hầu khắp các bài toán quản lý của doanh nghiệp. Cuốn sách gồm bốn chương: Chương 1 nêu một vài khái niệm, ký hiệu toán học sẽ dùng cho các chương sau. Chương 2 là cơ sở dữ liệu quan hệ trình bày các khái niệm như quan hệ, phụ thuộc hàm, khóa, khóa chính, khóa ngoại, dạng chuẩn, ràng buộc toàn vẹn v.v. Đặc biệt trong chương này chúng tôi có đưa thêm các ví dụ ứng dụng cụ thể và các bước thiết kế một cơ sở dữ liệu. Chương 3 giới thiệu những khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết tập thô, một công cụ đắc lực của khai thác dữ liệu, khai phá tri thức đang được những người làm tin học cả thế giới quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu. Việc nghiên cứu và hiểu biết về tập thô thật sự cần thiết trong nghiên cứu về cơ sở dữ liệu. Chương 4 là chương về hệ tin, một trường hợp tổng quát của khái niệm quan hệ. Hệ tin thực chất là một bảng dữ liệu. Việc đưa hệ tin vào lý thuyết cơ sở dữ liệu giúp chúng ta có cách nhìn tổng thể về mô hình dữ liệu quan hệ. Hệ tin giúp chúng ta dễ dàng diễn đạt một số bài toán như thuật toán Quiland, K-Mean, Bayer v.v.
2726 lượt xem
Tiếng Anh chuyên ngành Điện tử - Viễn thông
Vương Đạo Vy, Đặng Đức Cường, Nguyễn Cẩm Thanh
Cuốn sách “Tiếng Anh chuyên ngành Điện tử - Viễn thông” là tài liệu học tập dành cho cho sinh viên ngành Điện tử -Viễn thông và Công nghệ thông tin, được biên soạn chủ yếu phục vụ cho đối tượng sinh viên năm thứ hai, hoặc tối thiểu đã hoàn thành chương trình tiếng Anh trình độ Elementary. Cuốn sách gồm 20 bài lựa chọn theo những chủ đề cơ bản của chuyên ngành Điện tử - Viễn thông. Nội dung các bài đều hướng vào phát triển kĩ năng đọc hiểu và kỹ năng dịch chuyên ngành. Các bài giới thiệu ngữ pháp (Language focus) được trình bày bằng tiếng Việt giúp cho sinh viên hệ thống hoá hoặc bổ sung những nội dung ngữ pháp cơ bản, thường gặp trong văn phong khoa học - như câu điều kiện, mệnh đề quan hệ, câu bị động v.v... Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp các bài kiểm tra giữa và cuối khoá học, các bài dịch mẫu cũng như phần giải đáp các bài tập của từng bài trong phần phụ lục giúp cho sinh viên tự đánh giá kết quả học tập của mình và tra cứu những đoạn dịch mẫu khi cần.
3004 lượt xem
Công nghệ 4G LTE và chiến lược, lộ trình phát triển ở Việt Nam
PGS.TS Trần Minh Tuấn
Thông tin di động ngày nay đã trở thành một trong những dịch vụ viễn thông phát triển rất nhanh và mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp viễn thông, mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển của thị trường viễn thông di động đã thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu và triển khai các hệ thống thông tin di động mới trong tương lai. Hệ thống di động thế hệ thứ hai với GSM và CDMA là những ví dụ điển hình đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, tuy nhiên thị trường viễn thông ngày càng mở rộng càng thể hiện rõ những hạn chế về dung lượng và băng thông của các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai. Sự ra đời của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba với các công nghệ tiêu biểu như WCDMA hay HSPA là một tất yếu để có thể đáp ứng được nhu cầu truy cập dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, xem phim… với tốc độ cao. Hiện nay, mặc dù các hệ thống thông tin di động thế hệ 2,5G hay 3G vẫn đang phát triển không ngừng nhưng các nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới đã triển khai một chuẩn di động thế hệ mới có rất nhiều tiềm năng và sẽ trở thành chuẩn di động 4G trong thời gian tới, đó là LTE (Long Term Evolution - Sự phát triển dài hạn). Thực tế triển khai công nghệ LTE vừa qua tại nhiều nước đã chứng tỏ khả năng vượt trội của LTE cả trên phương diện công nghệ lẫn khả năng thương mại. Trước đây, muốn truy cập dữ liệu lớn, bạn phải cần có một đường dây cố định để kết nối. Với LTE, chúng ta có thể truy cập tất cả các dịch vụ mọi lúc mọi nơi trong khi vẫn di chuyển như: xem phim chất lượng cao HDTV, điện thoại có hình, chơi game, nghe nhạc trực tuyến, tải cơ sở dữ liệu… với một tốc độ “siêu tốc”. Đó chính là sự khác biệt giữa mạng di động thế hệ thứ 3 (3G) và mạng di động thế hệ thứ tư (4G). Tuy vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam nhưng mạng di động băng rộng 4G đang được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều thay đổi khác biệt so với những mạng di động hiện nay. Bộ Thông tin và Truyền thông rất coi trọng việc phát triển thông tin di động băng rộng các thế hệ tiếp theo để có hạ tầng viễn thông hiện đại, làm nền tảng cho phát triển kinh tế số, góp phần thay đổi cơ cấu tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phục vụ cộng đồng như giám sát và bảo vệ môi trường, xây dựng ngôi nhà thông minh, thành phố thông minh, chăm sóc sức khỏe… Mạng và dịch vụ di động băng rộng công nghệ 4G mở ra cơ hội to lớn cho việc đạt được mục tiêu này.
4729 lượt xem