Thư viện
Giáo trình mật mã học và hệ thống thông tin an toàn (Cryptography and Secure Information System)
TS. Thái Thanh Tùng
Với sự bùng nổ của Công nghệ thông tin vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, nhân loại đang bước vào một thời đại mới: Thời đại của nền kinh tế thông tin toàn cầu hóa. Mọi hoạt động xã hội, chính trị, kinh tế trong thời đại mới hiện nay xét cho cùng, thực chất đều là những hoạt động thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin. Trong bối cảnh đó An toàn và Bảo mật thông tin luôn là mối quan tâm hàng đầu trong mọi giao dịch xã hội, đặc biệt là giao dịch điện tử trên môi trường Internet, một môi trường mở, môi trường không được tin cậy. TS. Thái Thanh Tùng dựa trên kinh nghiệm bản thân trong quá trình nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tế trong lĩnh vực an ninh mạng máy tính và bảo mật thông tin, đã tập hợp một số tài liệu cơ sở xuất bản trên thế giới trong những năm gần đây, đồng thời cập nhật những thành tựu mới nhất trong lĩnh vực nói trên để xây dựng nên cuốn sách này. Cuốn sách được trình bày hợp lý với nội dung khá hoàn chỉnh, không những giúp cho người bắt đầu làm quen dễ tiếp thu những kiến thức cơ bản nhất của một lĩnh vực chuyên môn khó mà còn gợi mở những hướng ứng dụng thực tế phong phú cho những người muốn nghiên cứu sâu hơn. Những phụ lục được sưu tầm chọn lọc đưa ra trong phần cuối cuốn sách có ý nghĩa bổ sung cho các phần trình bày chính và cũng là một sự hỗ trợ rất tốt về nguồn tư liệu cho những người muốn đi sâu nghiên cứu. Giáo trình Mật mã học và Hệ thống thông tin an toàn của tác giả Thái Thanh Tùng đã được Ban Công nghệ Viện Nghiên cứu và phát triển Tin học ứng dụng (AIRDI) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu và Hội đồng tư vấn ngành Công nghệ thông tin Viện Đại học Mở Hà Nội đã chấp nhận sử dụng làm giáo trình chính thức để giảng dạy học phần An ninh và Bảo mật thông tin trong chương trình đào tạo Kỹ sư Công nghệ thông tin cũng như Khoa Quốc tế Đại học Quốc gia Hà Nội sử dụng trong chương trình đào tạo Cao học Quản lý Thông tin liên kết với Đại học Lunghwa - Đài Loan.
2029 lượt xem
Giáo trình giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán hàng
TỔNG CÔNG TY BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Giáo trình Giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán hàng đã được biên soạn, gồm 04 chương, nhằm trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về thị trường; về Marketing; các khái niệm cơ bản về giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán hàng; các luận điểm cơ bản trong giao tiếp; những yêu cầu đối với người bán hàng bưu điện, rèn luyện kỹ năng bán hàng bưu điện..
2685 lượt xem
Kỹ nghệ phần mềm
TS. Lê Văn Phùng
Sau 30 năm phát triển, kỹ nghệ phần mềm (Software Engineering - SE) đến nay đã bước vào kỷ nguyên mới, đó là một lĩnh vực phát triển không ngừng qua nhiều giai đoạn và đang thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà khoa học, các kỹ sư phần mềm mà cả những nhà đầu tư hay các doanh nghiệp lớn… Kỹ nghệ phần mềm (hay còn gọi là công trình học phần mềm) được xem như là một tên gọi chỉ cách thức làm phần mềm theo tác phong công nghiệp. Các phương pháp, công cụ, thủ tục của SE đã được chấp nhận và ứng dụng thành công trong rất nhiều lĩnh vực ứng dụng công nghiệp. Các nhà quản lý và chuyên gia công nghệ thông tin đều nhận ra nhu cầu về cách tiếp cận có nguyên tắc hơn tới việc phát triển phần mềm. Kỹ nghệ phần mềm quan tâm đến việc làm thế nào để tạo ra sản phẩm phần mềm đạt hiệu quả nhất. Đó cũng là mục tiêu xuất bản của cuốn sách “Kỹ nghệ phần mềm” do TS. Lê Văn Phùng, Viện Công nghệ thông tin thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) biên soạn. Nội dung sách gồm 7 chương, đề cập đến các khái niệm cơ bản và các tiến trình phát triển trong mỗi hướng kỹ nghệ hướng cấu trúc, hướng đối tượng, hướng thành phần và hướng dịch vụ với cách tiếp cận từ truyền thống đến hiện đại; Các vấn đề cơ bản trong phân tích xác định yêu cầu, phương pháp mô hình hóa yêu cầu, các ký pháp, các kỹ thuật đặc tả; Các chuẩn thiết kế cơ bản dẫn tới hệ thống chất lượng cao và các phương pháp thiết kế để chuyển một mô hình phân tích thành giải pháp phần mềm; Các hoạt động được vận dụng để đảm bảo chất lượng trong suốt tiến trình phần mềm; Vai trò hỗ trợ của máy tính đến tiến trình phát triển phần mềm... Kỹ nghệ phần mềm là một trong những môn học chuyên ngành quan trọng của ngành công nghệ thông tin. Nhiều trường đại học trên cả nước đã sử dụng tài liệu này để giảng dạy và học tập cho sinh viên ngành công nghệ thông tin, từ trình độ cao đẳng, đại học đến trên đại học như thạc sỹ và tiến sỹ chuyên ngành CNTT. Cuốn sách này đã được nhiều bạn trẻ say mê công nghệ thông tin, những người làm phần mềm và các nhà quản lý về công nghệ thông tin tìm đọc.
2498 lượt xem
Chuyện đời làm báo
Minh Đức
Khi Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam, máy bay Mỹ ném bom, bắn phá các cơ sở kinh tế, các khu dân cư khiến tất cả các trường học ở Hà Nội và ở các thành phố lớn phải sơ tán về nông thôn. Cũng giống như các bạn cùng trang lứa, tôi đã phải một mình về làng Đại Từ - huyện Thanh Trì - Hà Nội để tiếp tục được đi học. Người dân vùng nông thôn đã mở vòng tay đón và cho chúng tôi ở nhờ ngay trong nhà họ. Một lần tôi được nhà báo có bút danh là “Bút Thép” phỏng vấn. Nội dung câu hỏi xoay quanh vấn đề “Cuộc sống ở nông thôn”, tôi đã rất thật thà “tâm sự” cùng ông (theo cách nhìn của một trẻ thơ) về những khó khăn trong đó có cả việc phải dùng nước ao tù làm nước sinh hoạt. “Tâm sự” của tôi được đăng tải trên báo Thiếu niên tiền phong. Thế là một cuộc “búa rìu dư luận” của những người bạn cùng lứa đã “nhắm” vào tôi. Thậm chí có những “cô bạn” đã “chụp mũ” và “quy chụp” tôi thuộc tầng lớp “tiểu tư sản”!!! Nỗi oan xuất phát từ việc “nói thật” - đã để lại ấn tượng khó phai trong tâm trí tôi. Điều nực cười là việc mà nhà báo “Bút Thép” hướng dẫn dư luận chỉ trích tôi thì chỉ hơn 10 năm sau khi Việt Nam thống nhất đã trở thành tiêu chí phấn đấu của nhà nước - phấn đấu để người dân được dùng nước sạch. Nỗi oan này khiến tôi, khi trở thành nhà báo đã định hướng cho mình trong công việc phải có “cái tâm” trong sáng; phải “nói thẳng - nói thật”. Suốt chặng đường làm báo, tôi đã được gặp nhiều người từ những người dân gặp nạn khi quyết tâm chống lại những người “móc túi” nhà nước như kỹ sư Hứa Thúy Lan, như những người dân ở Quảng Ninh bị những người nhân danh các cơ quan công quyền “bớt xén” tiền đền bù khi phải nhường đất để mở rộng quốc lộ 18A và quốc lộ 10 v.v… đến những nhân vật đã trở thành những nhân chứng lịch sử như Đại tá Bùi Tùng, người thảo lời đầu hàng cho Đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống Việt Nam Cộng hòa, trong ngày 30/4/1975; chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thuộc “lực lượng thứ 3” khi miền Nam chưa được giải phóng, 4 chiến sĩ trên chiếc xe tăng 390, chiếc xe đầu tiên đâm đổ cửa Dinh Độc Lập ở Sài Gòn trong ngày 30/4/1975; Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, tác giả của Dinh Độc Lập; rồi viên tướng Gomit, người Xê-nê-gan nhưng có tâm hồn Việt Nam và hát rất hay… Tôi cũng đã thấy, đã biết được những mảng tối của cuộc sống, biết được sự tráo trở của một số người lợi dụng chức quyền hành dân; biết được nỗi khổ của người dân và cũng gặp được những con người chân chính. Như tôi đã phát biểu tại Hội thảo toàn quốc “Trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo trong đấu tranh chống tiêu cực” được tổ chức tại Hà Nội cuối năm 2002: “Những bài chống tiêu cực không chỉ là những bài chứa đựng những con số trái ngược nhau để từ đó tìm ra những khuất tất trong xây dựng cơ bản, trong công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) mà các phóng sự đó phải mang tính nhân văn thông qua việc giải quyết tốt vấn đề đặt ra đối với số phận của những người chống tiêu cực”. Để có được một phóng sự điều tra chống tiêu cực là cả một quá trình khó khăn, vất vả mà chỉ những ai từng tham gia mới ý thức được.
2532 lượt xem
Tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức về công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng
Hoàng Thanh Nam, Nguyễn Tuấn Anh
Năm 1997, Việt Nam chính thức kết nối vào mạng máy tính toàn cầu Internet. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn là một trong những quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng số người sử dụng Internet cao nhất trên thế giới. Theo số liệu mới được công bố bởi Tổ chức thống kê số liệu Internet quốc tế (internetworldstats), tính đến tháng 6/2015, Việt Nam đã có 45,5 triệu người (tương đương 48% dân số) sử dụng Internet. Bên cạnh những lợi ích, Internet cũng ẩn chứa nhiều rủi ro cho mọi đối tượng người dùng. Điều này đã chứng minh qua thực tế nhiều năm nay. Internet đã trở thành không phải một “mảnh đất màu mỡ” mà là một miền không gian vô cùng hấp dẫn cho đủ loại tội phạm, từ những kẻ lừa đảo vặt cho đến các tổ chức khủng bố. Nạn nhân cũng rất đa dạng, từ những người dân bình thường cho đến các công ty đa quốc gia và cả những siêu cường quốc trên thế giới. Trong đó, người ta thường nhắc đến những cuộc tấn công mạng vào các công ty, tổ chức lớn với mức thiệt hại nhiều triệu USD. Nhưng thực tế thì đối tượng dễ bị tổn thương hơn cả lại chính là những người dân bình thường – những người có hiểu biết hạn chế về những hiểm họa rình rập họ khi họ tham gia vào mạng Internet - với mức thiệt hại khi xảy ra sự cố có thể chỉ vài trăm ngàn đồng, cũng có thể lên đến hàng tỷ đồng. Với mục đích tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức về công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các chuyên gia thuộc Học viện Kỹ thuật Mật mã xuất bản cuốn sách “Tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức về công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng” nhằm cung cấp cho bạn đọc những thông tin căn bản nhất, sát với thực tế nhất về vấn đề này; qua đó bạn đọc sẽ hình dung được những hiểm họa mà họ sẽ phải đối mặt khi sử dụng dịch vụ mạng Internet. Họ cũng sẽ nhận thức được rằng không chỉ những công ty, tổ chức lớn mới cần phải quan tâm đến vấn đề đảm bảo an toàn thông tin, mà mỗi một người dân bình thường cũng phải có hiểu biết về vấn đề này. Và bạn đọc cũng sẽ được cung cấp những kiến thức căn bản về cách thức phòng tránh các tấn công từ mạng. Cuốn sách này được cấu trúc thành bốn chương. Chương thứ nhất là chương tổng quan, làm sáng tỏ khái niệm an toàn thông tin và hiểm họa an toàn thông tin, phần nội dung chính của chương là bức tranh tình hình an toàn thông tin trên thế giới và trong nước trong thời gian vừa qua. Chương thứ hai điểm qua một số văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực an toàn thông tin, hoặc trong nội dung có những quy phạm liên quan đến an toàn thông tin, trong đó giới thiệu chi tiết về Luật an toàn thông tin mạng. Chương thứ ba trình bày về những nguy cơ mất an toàn thông tin trên mạng Internet nói riêng và trên mạng máy tính nói chung. Những nguy cơ được đề cập ở đây là rất thực tế, chúng hoàn toàn có thể xảy ra với bất kỳ người nào, bất kỳ hệ thống nào có kết nối vào mạng. Và chương thứ tư trình bày về các giải pháp đảm bảo an toàn thông tin trên mạng. Các giải pháp được cung cấp ở mức căn bản để phù hợp với đông đảo đối tượng bạn đọc từ cán bộ, viên chức, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu về nội dung này; và quan trọng là nó mang lại cái nhìn tổng thể về giải pháp đảm bảo an toàn thông tin mạng.
2608 lượt xem
Hướng dẫn sử dụng các dịch vụ bưu chính
TS. Trần Thị Thập
Bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin là những lĩnh vực thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. Trong thời đại bùng nổ các phương tiện truyền thông hiện đại thì bưu chính vẫn khẳng định vai trò quan trọng và khó có thể thay thế được, đó là kết nối mọi người và phát triển thương mại thông qua việc chuyển phát vật lý những tài liệu và hàng hóa từ người gửi đến người nhận. Tại Việt Nam, khá nhiều người không biết hết những dịch vụ tiện ích cho cuộc sống mà bưu chính có thể cung cấp, cũng như không hiểu đầy đủ các qui định khi tham gia sử dụng dịch vụ nên khá nhiều trường hợp đáng tiếc đã xảy ra. Nhiều người đã mất tiền hoặc đồ vật quí, thậm chí cả các tài liệu quí do không biết lựa chọn dịch vụ phù hợp… Hướng dẫn sử dụng các dịch vụ bưu chính là cuốn sách cẩm nang cho mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp khi tham gia sử dụng dịch vụ bưu chính. Sách do TS.Trần Thị Thập - Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông biên soạn. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan về dịch vụ bưu chính; Chương 2: Quy định pháp luật đối với doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính và người sử dụng dịch vụ bưu chính; Chương 3: Giới thiệu một số dịch vụ bưu chính điển hình; Chương 4: Hướng dẫn sử dụng dịch vụ bưu chính; Chương 5: Giới thiệu về tem bưu chính và mã địa chỉ bưu chính. Phần phụ lục là danh mục mã địa chỉ bưu chính của các tỉnh trong cả nước để bạn đọc tiện tham khảo.
7271 lượt xem
IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong
TS. Phạm Anh Dũng

Nội dung sách cung cấp những kiến thức cơ bản về IoT như: kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong và rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của IoT, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong” do TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng (nguyên Trưởng Bộ môn Vô tuyến - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) biên soạn.

Nội dung của cuốn sách gồm 6 chương:
Chương 1. Tổng quan về IoT
Chương 2. Kiến trúc mạng và ngăn xếp giao thức Internet
Chương 3. Kiến trúc và các giao thức IoT
Chương 4. Điện toán đám mây và sương mù cho IoT
Chương 5. IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0
Chương 6. IoT trong các hệ thống 4G LTE và 5G 
Hy vọng, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các trường đại học, các chuyên gia, kỹ sư và bạn đọc quan tâm đến khái niệm, công nghệ và các ứng dụng của IoT.

5613 lượt xem
Luật Xuất bản 2012
Bộ Thông tin và Truyền thông
Luật này quy định về tổ chức và hoạt động xuất bản; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất bản. Hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm. Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam có liên quan đến hoạt động xuất bản.
2024 lượt xem
Công nghệ 4G LTE và chiến lược, lộ trình phát triển ở Việt Nam
PGS.TS Trần Minh Tuấn
Thông tin di động ngày nay đã trở thành một trong những dịch vụ viễn thông phát triển rất nhanh và mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp viễn thông, mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển của thị trường viễn thông di động đã thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu và triển khai các hệ thống thông tin di động mới trong tương lai. Hệ thống di động thế hệ thứ hai với GSM và CDMA là những ví dụ điển hình đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, tuy nhiên thị trường viễn thông ngày càng mở rộng càng thể hiện rõ những hạn chế về dung lượng và băng thông của các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai. Sự ra đời của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba với các công nghệ tiêu biểu như WCDMA hay HSPA là một tất yếu để có thể đáp ứng được nhu cầu truy cập dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, xem phim… với tốc độ cao. Hiện nay, mặc dù các hệ thống thông tin di động thế hệ 2,5G hay 3G vẫn đang phát triển không ngừng nhưng các nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới đã triển khai một chuẩn di động thế hệ mới có rất nhiều tiềm năng và sẽ trở thành chuẩn di động 4G trong thời gian tới, đó là LTE (Long Term Evolution - Sự phát triển dài hạn). Thực tế triển khai công nghệ LTE vừa qua tại nhiều nước đã chứng tỏ khả năng vượt trội của LTE cả trên phương diện công nghệ lẫn khả năng thương mại. Trước đây, muốn truy cập dữ liệu lớn, bạn phải cần có một đường dây cố định để kết nối. Với LTE, chúng ta có thể truy cập tất cả các dịch vụ mọi lúc mọi nơi trong khi vẫn di chuyển như: xem phim chất lượng cao HDTV, điện thoại có hình, chơi game, nghe nhạc trực tuyến, tải cơ sở dữ liệu… với một tốc độ “siêu tốc”. Đó chính là sự khác biệt giữa mạng di động thế hệ thứ 3 (3G) và mạng di động thế hệ thứ tư (4G). Tuy vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam nhưng mạng di động băng rộng 4G đang được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều thay đổi khác biệt so với những mạng di động hiện nay. Bộ Thông tin và Truyền thông rất coi trọng việc phát triển thông tin di động băng rộng các thế hệ tiếp theo để có hạ tầng viễn thông hiện đại, làm nền tảng cho phát triển kinh tế số, góp phần thay đổi cơ cấu tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phục vụ cộng đồng như giám sát và bảo vệ môi trường, xây dựng ngôi nhà thông minh, thành phố thông minh, chăm sóc sức khỏe… Mạng và dịch vụ di động băng rộng công nghệ 4G mở ra cơ hội to lớn cho việc đạt được mục tiêu này.
4907 lượt xem
Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài
PGS. TS. Trương Minh Dục
Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi quốc gia. Quá trình đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam dẫu có lúc thăng trầm, những bước thịnh suy, song đã hun đúc nên truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất để gìn giữ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cả ở trên bộ, trên biển và trên không. Điều này đã được khẳng định trong các Tuyên ngôn độc lập: Nam quốc sơn hà (thời Tiền Lê - Lý); Bình Ngô đại cáo thời Hậu Lê; Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992… Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, đã được Nhà nước Việt Nam, các thế hệ người Việt Nam chiếm hữu, bảo vệ, quản lý, khai thác. Điều này, không chỉ được lưu lại trong cổ sử Việt Nam, mà còn được quốc tế thừa nhận trong các tư liệu còn lưu trữ. Trong hơn một thế kỷ qua, các nhà khoa học ở trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu và đã công bố những công trình sưu tập, nghiên cứu khoa học có liên quan đến những tư liệu nằm trong thư tịch, sách, bản đồ cổ… có giá trị pháp lý chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong những năm gần đây, trước tình hình Trung Quốc gia tăng áp lực tranh giành chủ quyền và các quyền, lợi ích trong Biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, nằm trong yêu sách về “đường chữ U đứt đoạn” (“đường lưỡi bò”) mà họ đã đơn phương công bố, dư luận trong nước và dư luận quốc tế đã có những phản ứng mạnh mẽ, nhiều tranh luận học thuật, nhiều công trình nghiên cứu về Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã được công bố. Những nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống tư liệu có giá trị khoa học về lịch sử, pháp lý... để chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách “Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài” của PGS.TS Trương Minh Dục đã tập hợp và hệ thống hóa nguồn thư tịch, tư liệu khá phong phú, cũ và mới, của Việt Nam và nước ngoài, đặc biệt những tư liệu mới sưu tầm ở các địa phương có liên quan đến việc Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã quản lý, bảo vệ và khai thác quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nội dung cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1: Vài nét về địa lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sự tiếp cận của các tộc người Việt Nam trước thế kỷ XV. Chương 2: Chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam (từ thời Hậu Lê - thế kỷ XV đến năm 1975). Chương 3: Tư liệu nước ngoài trực tiếp và gián tiếp khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Chương 4: Đấu tranh để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa từ sau khi thống nhất đất nước đến nay. Việc tiếp tục phát hiện, sưu tầm và hệ thống hóa những tư liệu, tài liệu, chứng cứ, nhất là những tư liệu chứng minh Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi hai quần đảo này còn là đất vô chủ và đã tiến hành thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình. Rõ ràng, đây là công việc hết sức cần thiết và quan trọng, cần được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và cần có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung. Cuốn sách này sẽ là sự đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện hồ sơ pháp lý của các cơ quan quản lý và các tổ chức nghiên cứu khoa học có liên quan của Việt Nam vì sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông nói chung và tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng.
2166 lượt xem
Tìm hiểu Luật Công nghệ thông tin và các nghị định hướng dẫn thi hành
Nhà xuất bản thông tin và Truyền thông

Ngày 12/7/2006, Luật Công nghệ thông tin đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật này. Nội dung cuốn sách được trình bày dưới dạng Hỏi - Đáp (99 câu hỏi và trả lời) về các vấn đề quan trọng của Luật Công nghệ thông tin và các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ như: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về quy định chi tiết các nội dung xử phát vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT).

6826 lượt xem
Cơ sở dữ liệu quan hệ và Ứng dụng
PGS.TS Nguyễn Bá Tường
Ngày nay, sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng có được những dữ liệu chính xác và kịp thời về các hoạt động của doanh nghiệp, để quản lý và phân tích dữ liệu một cách có hiệu quả nhằm đưa ra được chiến lược cho những hoạt động tiếp theo. Vấn đề quản lý và sử dụng thông tin dần trở thành một ngành công nghiệp có doanh số nhiều tỷ đô la. Người ta coi giá trị của dữ liệu như là một thứ tài sản quý giá của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu không có được sự quản lý một cách hữu hiệu đối với lượng dữ liệu ngày càng lớn này, cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu của các câu hỏi tìm kiếm, lượng dữ liệu này sẽ trở nên vô nghĩa. Chính điều này đã thúc đẩy sự cần thiết có được một cơ sở dữ liệu cũng như một hệ quản trị cơ sở dữ liệu hiệu quả và linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác quản lý cũng như tìm kiếm thông tin. Chúng ta có thể định nghĩa cơ sở dữ liệu như là một bộ sưu tập có tổ chức của các dữ liệu liên quan logic với nhau và được các hệ ứng dụng của một tổ chức cụ thể nào đó sử dụng. Cách tiếp cận cơ sở dữ liệu nhấn mạnh đến tính chia sẻ và tích hợp của dữ liệu trong toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận này, dữ liệu được lưu trữ có tổ chức, tập trung dưới dạng một cơ sở dữ liệu và giữa các dữ liệu có sự liên kết logic với nhau. Trong cuốn sách này một lần nữa chúng tôi muốn nêu có hệ thống những vấn đề quan trọng nhất của cơ sở dữ liệu quan hệ. Môt mô hình dữ liệu xuất hiện trong hầu khắp các bài toán quản lý của doanh nghiệp. Cuốn sách gồm bốn chương: Chương 1 nêu một vài khái niệm, ký hiệu toán học sẽ dùng cho các chương sau. Chương 2 là cơ sở dữ liệu quan hệ trình bày các khái niệm như quan hệ, phụ thuộc hàm, khóa, khóa chính, khóa ngoại, dạng chuẩn, ràng buộc toàn vẹn v.v. Đặc biệt trong chương này chúng tôi có đưa thêm các ví dụ ứng dụng cụ thể và các bước thiết kế một cơ sở dữ liệu. Chương 3 giới thiệu những khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết tập thô, một công cụ đắc lực của khai thác dữ liệu, khai phá tri thức đang được những người làm tin học cả thế giới quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu. Việc nghiên cứu và hiểu biết về tập thô thật sự cần thiết trong nghiên cứu về cơ sở dữ liệu. Chương 4 là chương về hệ tin, một trường hợp tổng quát của khái niệm quan hệ. Hệ tin thực chất là một bảng dữ liệu. Việc đưa hệ tin vào lý thuyết cơ sở dữ liệu giúp chúng ta có cách nhìn tổng thể về mô hình dữ liệu quan hệ. Hệ tin giúp chúng ta dễ dàng diễn đạt một số bài toán như thuật toán Quiland, K-Mean, Bayer v.v.
2782 lượt xem
Các mô hình cơ bản trong phân tích và thiết kế hướng đối tượng
TS. Lê Văn Phùng
Ngày nay cách tiếp cận hướng đối tượng đã ngày càng trở nên phổ biến. Trong các dự án phát triển hệ thống lớn, ngôn ngữ mô hình hóa hợp nhất – UML (Unified Modeling Language) đã được ưu tiên cho quá trình phân tích thiết kế hệ thống, nó được coi là một chuẩn quốc tế được tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO chấp nhận. Việc nắm vững các kiến thức cơ bản về mô hình, quá trình mô hình hóa, các kỹ thuật xây dựng mô hình là những yêu cầu bắt buộc cho bất cứ ai muốn phân tích và thiết kế một hệ thống lớn theo hướng đối tượng. Nhằm giúp sinh viên, nghiên cứu sinh và các lập trình viên có thêm tài liệu về phân tích và thiết kế hệ thống theo hướng đối tượng, TS. Lê Văn Phùng (Viện Công nghệ thông tin - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã biên soạn cuốn sách “Các mô hình cơ bản trong phân tích và thiết kế hướng đối tượng". Nội dung cuốn sách gồm 10 chương: Chương 1: Tổng quan về mô hình hóa phần mềm Chương 2: Các khái niệm cơ bản trong phân tích và thiết kế hướng đối tượng Chương 3: Yêu cầu hệ thống và mô hình nghiệp vụ Chương 4: Mô hình phân tích đối tượng Chương 5: Các mô hình phân tích động thái Chương 6: Các mô hình thiết kế tương tác Chương 7: Mô hình kiến trúc logic Chương 8: Mô hình kiến trúc vật lý Chương 9: Mô hình phân tích và thiết kế một ca sử dụng Chương 10: Mô hình thiết kế đối tượng Hy vọng các bạn đọc yêu công nghệ thông tin, ham mê phân tích thiết kế một hệ thống thông tin, giảng viên, sinh viên đại học, cao đẳng và học viên cao học chuyên ngành công nghệ phần mềm hoặc hệ thống thông tin sẽ tìm thấy những kiến thức mới mẻ trong cuốn sách này.
4489 lượt xem
Kỹ thuật phân tích và thiết kế hệ thống thông tin hướng cấu trúc
TS. Lê Văn Phùng
Cho đến nay, có nhiều phương pháp phân tích và thiết kế hệ thống ra đời và cùng song hành phát triển như phương pháp phân tích thiết kế hướng cấu trúc (năm 1970), phương pháp phân tích thiết kế hướng đối tượng (năm 1990), phương pháp ngôn ngữ mô hình hoá thống nhất (năm 1997). Trong đó, phương pháp phân tích và thiết kế hương cấu trúc - SADT của Mỹ đã chứng tỏ được sức sống của mình vì hiện đang là phương pháp có số người sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. SADT dựa theo phương pháp phân rã một hệ thống lớn thành các hệ thống con đơn giản hơn, có hệ thống trợ giúp theo kiểu đồ hoạ để biểu diễn các hệ thống và việc trao đổi thông tin giữa các hệ thống con. Kỹ thuật chủ yếu của SADT là dựa trên sơ đồ luồng dữ liệu (Data flow Diagram), từ điển dữ liệu (Data Dictionary), ngôn ngữ mô tả có cấu trúc (Structured English), bảng quyết định (decision table),... Với mục đích cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cơ bản về phân tích và thiết kế hệ thống thông tin, trên cơ sở cập nhật nhiều nội dung và kiến thức mới, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tái bản lần 3 cuốn sách “Kỹ thuật phân tích và thiết kế hệ thống thông tin hướng cấu trúc” do TS. Lê Văn Phùng biên soạn. Cuốn sách chủ yếu giới thiệu những các kỹ năng thực hành trong việc phân tích và thiết kế một hệ thống thông tin (HTTT) quản lý. Đây là những kỹ thuật cơ bản và thường gặp ở các giai đoạn triển khai của chu trình hệ thống. Nội dung cuốn sách gồm 4 chương. Chương 1 trình bày những khái niệm cơ bản về hệ thống và hệ thống thông tin. Chương 2 giới thiệu quy trình phân tích và thiết kế hệ thống hướng cấu trúc. Chương 3 giới thiệu các kỹ thuật cơ bản liên quan đến tiến trình phân tích và tiến trình thiết kế. Đặc biệt chương 4 đưa ra bài tập mẫu phân tích thiết kế hệ thống kinh doanh bán buôn được trình bày gắn gọn đơn giản dễ hiểu và dễ áp dụng. Cuốn sách mang tính thực hành cao và được đúc rút từ nhiều năm trải nghiệm đào tạo cho sinh viên chuyên ngành Công nghệ Thông tin các trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Đại học Mở Hà Nội, Đại học Giao thông Vận tải, Học viện An ninh Nhân dân v.v. và nhiều Trung tâm tin học ở các tỉnh thành trong cả nước. Hy vọng cuốn sách sẽ thực sự hữu ích đối với các kỹ sư, kỹ thuật viên, cán bộ giảng dạy và sinh viên ngành Công nghệ Thông tin, khi thực hiện các đề tài, đồ án, các dự án, cũng như trong giảng dạy, học tập và vận hành các hệ thống thông tin. Ngoài ra, cuốn sách cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho bạn đọc quan tâm tới lĩnh vực này.
3800 lượt xem
Những dấu ấn lịch sử về Hồ Chí Minh và Đảng do người sáng lập
PGS. TS Đàm Đức Vượng

Cuốn sách Những dấu ấn lịch sử về Hồ Chí Minh và Đảng do Người sáng lập trình bày một cách có hệ thống về toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người sáng lập Nhà nước cách mạng Việt Nam; những tên chữ, bút danh, bí danh của Người gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sóng gió của Người; về các tổ chức tiền thân của Đảng; về Hội nghị thành lập Đảng và toàn bộ quá trình hoạt động của Đảng trải qua 12 Đại hội đại biểu toàn quốc.

8865 lượt xem
Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
TS. Nguyễn Thành Lợi
Sự ra đời các phương tiện truyền thông mới đã và đang tác động sâu sắc đến “bữa tiệc thông tin” của công chúng hiện đại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự “sinh tồn” của các phương tiện truyền thông truyền thống, đặt ra cho các tòa soạn và nhà báo những thách thức chưa từng có. Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ kỹ thuật số, Internet đã và đang tác động sâu sắc, đa dạng, phong phú đến “món ăn” tinh thần hàng ngày của công chúng truyền thông hiện đại. Đặc biệt, với sự ra đời của các thiết bị di động, những màn hình tương tác trở thành phương tiện truyền thông thông minh để mỗi giây, cư dân mạng có thể tải và chia sẻ hàng tỉ byte thông tin. Điều đó khiến cuộc va chạm giữa phương tiện truyền thông truyền thống và mới, giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dù thừa nhận hay không, truyền thông xã hội vẫn là một thực thể truyền thông đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống truyền thông hiện đại, tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng, tác động không nhỏ đến ngành báo chí truyền thông thế giới đương đại. Có thể thấy, truyền thông Internet ra đời tạo ra xu hướng hội tụ truyền thông và đa phương tiện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự vận động và phát triển của báo chí truyền thông hiện đại. Vậy, hội tụ truyền thông là gì? Sự xuất hiện của kỷ nguyên truyền thông số đã khiến nghiệp vụ báo chí truyền thông có những thay đổi căn bản. Những thay đổi đó tác động như thế nào đến tiến trình hội tụ truyền thông? Từ tòa soạn đơn loại hình đến đa phương tiện rồi phát triển tới tòa soạn hội tụ là sự phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong bối cảnh chung đó, các tòa soạn báo ở Việt Nam nên sắp xếp và thay đổi mô hình tổ chức như thế nào để thích ứng với xu thế phát triển chung của thế giới hiện đại? Đây là những vấn đề đang được báo giới, học giả cũng như các nhà báo hết sức quan tâm. Có thể khẳng định, sự xuất hiện thời đại truyền thông hội tụ không làm thay đổi bản chất của báo chí, mà báo chí vẫn cần sự phát hiện và khai quật của nhà báo chuyên nghiệp, vẫn cần sự gia công trong khâu biên tập và khâu xuất bản, vẫn phải thông qua phương tiện truyền thông để đưa sản phẩm báo chí tới công chúng. Và sự thay đổi của nó là tốc độ truyền phát thông tin và phương thức tiếp nhận thông tin. Nắm vững các kỹ năng làm báo hiện đại vẫn là yêu cầu quan trọng nhất của người làm báo trong môi trường truyền thông hiện nay. Trong môi trường hội tụ truyền thông, những nghiên cứu về sự thay đổi và bất biến của nghiệp vụ báo chí truyền thông ở nước ta vẫn còn khá ít ỏi. Cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi giới thiệu với độc giả những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm - nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyền thông. Tác giả đã giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới, tác giả đã làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, phóng viên, biên tập viên và những người muốn nghiên cứu lĩnh vực này. Tìm tòi, trình bày và giải thích là mục đích của tác giả viết cuốn sách này, khi tiếp xúc với những vấn đề mà nhà nghiên cứu cảm thấy xa lạ, hoặc khi bản thân vấn đề đó còn khá mới mẻ, người nghiên cứu sẽ phải có những nhận thức sơ bộ đối với đề tài. Sau khi những nhận thức dần được hình thành, hoạt động nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở khâu miêu tả và đánh giá lý thuyết của nước ngoài, mà cần có sự áp dụng sâu hơn vào thực tiễn đào tạo và làm báo của nước nhà. Nghiên cứu khoa học bắt nguồn từ quan sát, nhưng cuối cùng phải giải thích về sự vật mình quan sát được, cần áp dụng phương pháp nào đó để giải thích, ví dụ phương pháp xã hội học, phương pháp tâm lý học truyền thông. Góc độ phân tích phương pháp nghiên cứu của mỗi người mỗi khác mới cho ra đời những quan điểm mới mẻ, có tác dụng gợi mở cho độc giả và ngành khoa học. Công trình nghiên cứu của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi đã đưa ra những vấn đề mới mang tính gợi mở cho các cuộc thảo luận tiếp theo của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và độc giả trong nước. Đây là hướng đi khá mới mẻ, cũng là một sự thử nghiệm rất đáng quý.
7812 lượt xem