Thư viện
Những dấu ấn lịch sử về Hồ Chí Minh và Đảng do người sáng lập
PGS. TS Đàm Đức Vượng

Cuốn sách Những dấu ấn lịch sử về Hồ Chí Minh và Đảng do Người sáng lập trình bày một cách có hệ thống về toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người sáng lập Nhà nước cách mạng Việt Nam; những tên chữ, bút danh, bí danh của Người gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sóng gió của Người; về các tổ chức tiền thân của Đảng; về Hội nghị thành lập Đảng và toàn bộ quá trình hoạt động của Đảng trải qua 12 Đại hội đại biểu toàn quốc.

8302 lượt xem
Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
TS. Nguyễn Thành Lợi
Sự ra đời các phương tiện truyền thông mới đã và đang tác động sâu sắc đến “bữa tiệc thông tin” của công chúng hiện đại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự “sinh tồn” của các phương tiện truyền thông truyền thống, đặt ra cho các tòa soạn và nhà báo những thách thức chưa từng có. Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ kỹ thuật số, Internet đã và đang tác động sâu sắc, đa dạng, phong phú đến “món ăn” tinh thần hàng ngày của công chúng truyền thông hiện đại. Đặc biệt, với sự ra đời của các thiết bị di động, những màn hình tương tác trở thành phương tiện truyền thông thông minh để mỗi giây, cư dân mạng có thể tải và chia sẻ hàng tỉ byte thông tin. Điều đó khiến cuộc va chạm giữa phương tiện truyền thông truyền thống và mới, giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dù thừa nhận hay không, truyền thông xã hội vẫn là một thực thể truyền thông đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống truyền thông hiện đại, tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng, tác động không nhỏ đến ngành báo chí truyền thông thế giới đương đại. Có thể thấy, truyền thông Internet ra đời tạo ra xu hướng hội tụ truyền thông và đa phương tiện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự vận động và phát triển của báo chí truyền thông hiện đại. Vậy, hội tụ truyền thông là gì? Sự xuất hiện của kỷ nguyên truyền thông số đã khiến nghiệp vụ báo chí truyền thông có những thay đổi căn bản. Những thay đổi đó tác động như thế nào đến tiến trình hội tụ truyền thông? Từ tòa soạn đơn loại hình đến đa phương tiện rồi phát triển tới tòa soạn hội tụ là sự phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong bối cảnh chung đó, các tòa soạn báo ở Việt Nam nên sắp xếp và thay đổi mô hình tổ chức như thế nào để thích ứng với xu thế phát triển chung của thế giới hiện đại? Đây là những vấn đề đang được báo giới, học giả cũng như các nhà báo hết sức quan tâm. Có thể khẳng định, sự xuất hiện thời đại truyền thông hội tụ không làm thay đổi bản chất của báo chí, mà báo chí vẫn cần sự phát hiện và khai quật của nhà báo chuyên nghiệp, vẫn cần sự gia công trong khâu biên tập và khâu xuất bản, vẫn phải thông qua phương tiện truyền thông để đưa sản phẩm báo chí tới công chúng. Và sự thay đổi của nó là tốc độ truyền phát thông tin và phương thức tiếp nhận thông tin. Nắm vững các kỹ năng làm báo hiện đại vẫn là yêu cầu quan trọng nhất của người làm báo trong môi trường truyền thông hiện nay. Trong môi trường hội tụ truyền thông, những nghiên cứu về sự thay đổi và bất biến của nghiệp vụ báo chí truyền thông ở nước ta vẫn còn khá ít ỏi. Cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi giới thiệu với độc giả những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm - nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyền thông. Tác giả đã giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới, tác giả đã làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, phóng viên, biên tập viên và những người muốn nghiên cứu lĩnh vực này. Tìm tòi, trình bày và giải thích là mục đích của tác giả viết cuốn sách này, khi tiếp xúc với những vấn đề mà nhà nghiên cứu cảm thấy xa lạ, hoặc khi bản thân vấn đề đó còn khá mới mẻ, người nghiên cứu sẽ phải có những nhận thức sơ bộ đối với đề tài. Sau khi những nhận thức dần được hình thành, hoạt động nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở khâu miêu tả và đánh giá lý thuyết của nước ngoài, mà cần có sự áp dụng sâu hơn vào thực tiễn đào tạo và làm báo của nước nhà. Nghiên cứu khoa học bắt nguồn từ quan sát, nhưng cuối cùng phải giải thích về sự vật mình quan sát được, cần áp dụng phương pháp nào đó để giải thích, ví dụ phương pháp xã hội học, phương pháp tâm lý học truyền thông. Góc độ phân tích phương pháp nghiên cứu của mỗi người mỗi khác mới cho ra đời những quan điểm mới mẻ, có tác dụng gợi mở cho độc giả và ngành khoa học. Công trình nghiên cứu của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi đã đưa ra những vấn đề mới mang tính gợi mở cho các cuộc thảo luận tiếp theo của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và độc giả trong nước. Đây là hướng đi khá mới mẻ, cũng là một sự thử nghiệm rất đáng quý.
6567 lượt xem
Công nghệ 4G LTE và chiến lược, lộ trình phát triển ở Việt Nam
PGS.TS Trần Minh Tuấn
Thông tin di động ngày nay đã trở thành một trong những dịch vụ viễn thông phát triển rất nhanh và mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp viễn thông, mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển của thị trường viễn thông di động đã thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu và triển khai các hệ thống thông tin di động mới trong tương lai. Hệ thống di động thế hệ thứ hai với GSM và CDMA là những ví dụ điển hình đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, tuy nhiên thị trường viễn thông ngày càng mở rộng càng thể hiện rõ những hạn chế về dung lượng và băng thông của các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai. Sự ra đời của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba với các công nghệ tiêu biểu như WCDMA hay HSPA là một tất yếu để có thể đáp ứng được nhu cầu truy cập dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, xem phim… với tốc độ cao. Hiện nay, mặc dù các hệ thống thông tin di động thế hệ 2,5G hay 3G vẫn đang phát triển không ngừng nhưng các nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới đã triển khai một chuẩn di động thế hệ mới có rất nhiều tiềm năng và sẽ trở thành chuẩn di động 4G trong thời gian tới, đó là LTE (Long Term Evolution - Sự phát triển dài hạn). Thực tế triển khai công nghệ LTE vừa qua tại nhiều nước đã chứng tỏ khả năng vượt trội của LTE cả trên phương diện công nghệ lẫn khả năng thương mại. Trước đây, muốn truy cập dữ liệu lớn, bạn phải cần có một đường dây cố định để kết nối. Với LTE, chúng ta có thể truy cập tất cả các dịch vụ mọi lúc mọi nơi trong khi vẫn di chuyển như: xem phim chất lượng cao HDTV, điện thoại có hình, chơi game, nghe nhạc trực tuyến, tải cơ sở dữ liệu… với một tốc độ “siêu tốc”. Đó chính là sự khác biệt giữa mạng di động thế hệ thứ 3 (3G) và mạng di động thế hệ thứ tư (4G). Tuy vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam nhưng mạng di động băng rộng 4G đang được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều thay đổi khác biệt so với những mạng di động hiện nay. Bộ Thông tin và Truyền thông rất coi trọng việc phát triển thông tin di động băng rộng các thế hệ tiếp theo để có hạ tầng viễn thông hiện đại, làm nền tảng cho phát triển kinh tế số, góp phần thay đổi cơ cấu tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phục vụ cộng đồng như giám sát và bảo vệ môi trường, xây dựng ngôi nhà thông minh, thành phố thông minh, chăm sóc sức khỏe… Mạng và dịch vụ di động băng rộng công nghệ 4G mở ra cơ hội to lớn cho việc đạt được mục tiêu này.
4032 lượt xem
Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
PGS.TS Nguyễn Văn Dững
Cuốn sách sẽ trang bị những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản, giúp sinh viên tạo lập kiến thức nền tảng và nâng cao kỹ năng về giao tiếp - truyền thông - vận động xã hội trong hoạt động truyền thông và báo chí; tăng cường khả năng hội nhập bình đẳng trong phạm vi khu vực và quốc tế, khả năng hoà nhập vào các nhóm công chúng - xã hội, một yêu cầu rất quan trọng và là một trong những điểm yếu của sinh viên báo chí hiện nay.
7904 lượt xem
Thông tin di động 5G và lộ trình phát triển lên 6G
TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng

5G (5th Generation) hay được gọi là thế hệ thứ 5 của mạng di động với nhiều cải tiến hơn so với 4G. 5G được thiết kế để tăng tốc độ và khả năng phản hồi nhanh chóng của mạng không dây. 5G được ra đời để kế thừa 4G, nhờ đó mà tốc độ tải xuống nhanh hơn, truyền phát dữ liệu mượt mà hơn. 5G không chỉ cải tiến về tốc độ mà nó sẽ mở ra những ứng dụng hoàn toàn mới và tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong những năm tiếp theo. Ngoài các ứng dụng với con người là trung tâm ngày càng rộng khắp, chẳng hạn thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường, phát luồng video 4k, các mạng 5G còn hỗ trợ các nhu cầu truyền thông các ứng dụng thông tin máy - máy (machine to machine), máy - người (machine to human) để làm cho cuộc sống của chúng ta an toàn và tiện lợi hơn.
Mặc dù các hệ thống truyền thông 5G sẽ cung cấp các cải thiện đáng kể so với các hệ thống trước nó, nhưng chúng không thể thực hiện các yêu cầu của các hệ thống tự động và thông minh tương lai sẽ xuất hiện sau 10 năm nữa. Các mạng 5G sẽ không có đủ dung lượng cho một mạng hoàn toàn tự động và thông minh để cung cấp mọi thứ như là một dịch vụ và trải nghiệm thực tế ảo. Sự phát triển nhanh của các hệ thống tự động đặt trọng tâm vào số liệu có thể vượt quá các khả năng của các hệ thống 5G. Một số thiết bị như các thiết bị thực tế ảo sẽ vượt quá khả năng của sau 5G (B5G: Beyond 5G) vì chúng đòi hỏi tốc độ số liệu tối thiểu 10Gbit/s.
Để khắc phục các hạn chế của 5G nhằm hỗ trợ các yêu cầu mới, cần phát triển một hệ thống không dây thế hệ 6 (6G) với các tính năng hấp dẫn mới. Các động lực chính của 6G sẽ là sự hội tụ của tất cả các tính năng cũ như mật độ mạng cao, thông lượng cao, độ tin cậy cao, tiêu thụ công suất thấp và kết nối số đông. 6G cũng sẽ tiếp tục xu thế của các thế hệ trước như đưa ra các dịch vụ mới cùng với các công nghệ bổ sung mới. Các dịch vụ mới bao gồm AI, các thiết bị đeo thông minh, các thiết bị cấy trên người, giao thông tự động, các thiết bị thực tế ảo, cảm biến và lập bản đồ 3D. Yêu cầu quan trọng nhất đối với các mạng 6G là khả năng xử lý khối lượng lớn số liệu và kết nối tốc độ số liệu cao trên một thiết bị.

7838 lượt xem
Phản biện xã hội của báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật
Phan Văn Kiền
Những năm gần đây, khái niệm “phản biện xã hội” và vai trò phản biện xã hội của báo chí đã và đang trở thành những vấn đề “nóng” thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Phản biện xã hội và vai trò phản biện xã hội của báo chí truyền thông cũng được nhiều sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh lựa chọn làm công trình tốt nghiệp cho các bậc từ cử nhân đến tiến sĩ. Tuy nhiên, sự xuất hiện của phản biện xã hội trong các công trình nói trên chủ yếu ở dạng bài viết hoặc một chương để phục vụ cho quá trình nghiên cứu chứ chưa hệ thống hóa một cách toàn diện và đa chiều như là một chuyên luận hoặc chuyên khảo. Thạc sĩ Phan Văn Kiền là một trong những người đầu tiên tại Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường ĐKHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học với đề tài về phản biện xã hội trên báo chí. Từ đó đến nay, đề tài này trở thành một vệt nghiên cứu rõ nét trong các cấp học của Phan Văn Kiền, từ cử nhân, thạc sĩ và đang thực hiện luận án tiến sĩ. Có thể nói, cuốn sách “Phản biện xã hội của báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật” của ThS Phan Văn Kiền là công trình chuyên khảo đầu tiên, bước đầu tìm hiểu một cách toàn diện và hệ thống về vấn đề phản biện xã hội trên báo chí Việt Nam hiện nay. Chuyên khảo này thể hiện niềm đam mê của một người nghiên cứu trẻ với một đề tài mới mẻ nhưng không dễ thực hiện. Thay vì cấu trúc theo các chương như những công trình nghiên cứu khác, cuốn sách được chia làm hai phần chính: Phần thứ nhất là: Một số vấn đề về phản biện xã hội của báo chí Việt Nam, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phản biện xã hội và phản biện xã hội trên báo chí; Phần thứ hai là: Phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam hiện đại qua một số sự kiện nổi bật, phần này tác giả tập trung phân tích một số trường hợp phản biện xã hội của các tác phẩm báo chí tiêu biểu. Kết cấu này mặc dù đơn giản nhưng rất rõ ràng và logic về mặt nội dung. Trong phần thứ nhất, tác giả đã trình bày một cách vừa khái quát, vừa cụ thể về những vấn đề liên quan tới phản biện xã hội và phản biện xã hội trên báo chí. Thành công nhất của phần này là tác giả mặc dù tham khảo rất nhiều công trình nghiên cứu trước đó về phản biện xã hội nhưng những vấn đề được đề cập lại không trùng với các công trình đó. Bằng những kiến giải mạch lạc và có lý, tác giả đã cho người đọc hình dung một hệ thống chặt chẽ của phản biện xã hội trên báo chí từ nguồn gốc đến khái niệm, những vấn đề chung về vai trò phản biện xã hội của báo chí, thực trạng phản biện xã hội của báo chí và cả những rào cản khách quan, chủ quan của báo chí trong việc thực hiện vai trò phản biện xã hội. Phần thứ hai, tác giả tập trung khảo sát sâu bốn sự kiện nổi bật trên báo chí trong thời gian vừa qua. Bốn sự kiện được lựa chọn đều là những sự kiện tiêu biểu, đậm nét phản biện xã hội của báo chí và mỗi sự kiện đều có một màu sắc phản biện riêng. Thành công của tác giả là không chỉ phân tích những nội dung phản biện của mỗi sự kiện trên báo chí, mà còn chỉ rõ được những phương thức, nghệ thuật phản biện của từng sự kiện trong các loạt bài khảo sát. Dù đây mới chỉ là công trình chuyên khảo bước đầu về phản biện xã hội trên báo chí, cũng là công trình đầu tay của tác giả Phan Văn Kiền, nhưng nó cho thấy đam mê và công phu của tác giả trong việc chuẩn bị tư liệu cũng như quá trình khảo sát. Lần tái bản này, công trình đã được bổ sung thêm nhiều tư liệu và nhiều phân tích phong phú, cụ thể và sát với tình hình thời sự báo chí những năm gần đây hơn. Trên thực tế, tác giả cũng đang không ngừng bổ sung thêm vào những kiến thức được xây dựng từ trước về vấn đề này bằng việc thực hiện luận án tiến sĩ báo chí học về vai trò phản biện xã hội của báo chí. Với sự trân trọng đam mê, năng lực của tác giả cũng như nội dung, chủ đề chuyên khảo, tôi xin giới thiệu công trình này tới bạn đọc
1508 lượt xem
Giáo trình Quyền tác giả và quyền liên quan trong hoạt động xuất bản
TS. Vũ Thùy Dương, TS. Vũ Mạnh Chu
Giáo trình “Quyền tác giả, quyền liên quan trong hoạt động xuất bản” do TS. Vũ Mạnh Chu và TS. Vũ Thùy Dương biên soạn là hệ thống kiến thức sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, được vận dụng trong lĩnh vực xuất bản. Giáo trình đã chuyển tải có hệ thống, từ các nội dung đại cương về quyền tác giả, quyền liên quan và những nội dung cơ bản về quyền và nghĩa vụ của tác giả, của các tổ chức, cá nhân đến các nội dung xác định tài sản trí tuệ của nhà xuất bản, sự cần thiết phải bảo vệ, cũng như việc áp dụng các biện pháp để bảo vệ quyền. Giáo trình được biên soạn dựa trên các nguồn tài liệu tin cậy là các quy định của pháp luật Việt Nam, được ghi tại Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, các luật và văn bản pháp luật liên quan của Việt Nam về quyền tác giả và quyền liên quan, có đối chiếu với các điều ước quốc tế. Đồng thời, với việc truyền đạt có lý giải pháp luật, là các dẫn chứng thực tế đa dạng, phong phú đối với nhiều chế định pháp luật quan trọng, đã giúp cho các quy định khô cứng trở nên dễ hiểu, dễ nhớ. Ngoài ra, các phụ lục của sách cũng bổ sung những kiến thức bổ ích từ các điều ước quốc tế, hoạt động thực thi cùng với các tài liệu liên quan khác. Giáo trình được biên soạn phục vụ cho việc đào tạo sinh viên ngành Xuất bản, thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền; là tài liệu tham khảo hữu ích cho các trường đại học và cao đẳng khác cũng như bạn đọc quan tâm đến pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng.
7122 lượt xem
Tiếng anh chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Ths. Nguyễn Thị Huệ, ThS. Phạm Thị Nguyên Thư
Trước tình hình đổi mới của đất nước, việc mở rộng giao lưu kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, tiếng Anh đã và đang trở thành ngôn ngữ giao tiếp của nhiều quốc gia trên phạm vi toàn cầu. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các doanh nghiệp trong nước ngày càng phải trực tiếp cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường trong và ngoài nước. Một trong các điểm yếu của doanh nghiệp nước ta là trình độ tiếng Anh của cán bộ quản lý và kinh doanh còn khá hạn chế. Để giúp các doanh nghiệp Việt Nam tự tin và từng bước tiến vững chắc trong tiến trình hội nhập và cạnh tranh, và các sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh có thể tiếp thu kiến thức Anh ngữ chuyên ngành một cách có hệ thống, chúng tôi đã nghiên cứu, biên soạn và phối hợp với Nhà xuất bản Bưu điện xuất bản cuốn sách “English for Business Management”. Nội dung cuốn sách gồm 10 bài học (bằng tiếng Anh) về các lĩnh vực quản trị kinh doanh như: Kinh tế học, Thị trường, Sản phẩm, Giá cả, Lạm phát, Tài chính, Kế toán và Kiểm toán... được sắp xếp và khai thác theo trình tự khoa học. Hơn nữa cuốn sách còn giúp người học củng cố hệ thống ngữ pháp, cấu trúc câu và sự phát triển từ vựng theo mức độ tăng dần để người học phát triển khả năng tư duy, diễn đạt trong mọi tình huống. Cuốn sách sẽ góp phần nhanh chóng nâng cao trình độ tiếng Anh chuyên ngành Quản trị kinh doanh cho các cán bộ quản lý - kinh doanh và các sinh viên chuyên ngành QTKD các trường Đại học, Cao đẳng và bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực này.
2842 lượt xem
Giáo trình lập trình hướng đối tượng bằng C ++
ThS. Triệu Thu Hương
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ phần cứng thì ngôn ngữ lập trình cũng không ngừng phát triển. Từ việc sử dụng ngôn ngữ lập trình để giải quyết các bài toán đơn giản nói chung đến việc sử dụng được các ngôn ngữ lập trình cấu trúc để giải quyết được các bài toán tương đối phức tạp, các bài toán quản lý trong thực tế. Thì nay, với nhu cầu của xã hội với mong muốn giải quyết các bài toán phức tạp, nhanh chóng bằng ngôn ngữ lập trình, Lập trình hướng đối tượng ra đời nhằm giải quyết những khó khăn của các ngôn ngữ lập trình trước đó. Lập trình hướng đối tượng là một kỹ thuật lập trình mới dựa trên nền tảng coi mọi thành phần trong hệ thống đều là đối tượng. Một tư duy lập trình mới mẻ, đem lại vô số những lợi ích, những kết quả đáng nể trong việc sử dụng nó để giải quyết các bài toán trong thực tế mà trước đây được cho là khó giải quyết. Với kỹ thuật lập trình này hiện có một số ngôn ngữ lập trình khác nhau như C++, C#, Java… Nhằm đáp ứng yêu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành Công nghệ thông tin, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội đã tổ chức biên soạn và phối hợp cùng Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản "Giáo trình Lập trình hướng đối tượng bằng C++". Nội dung của Giáo trình gồm 4 chương, cụ thể: Chương 1: Các khái niệm cơ sở Chương 2: Lớp – Đối tượng Chương 3: Sự kế thừa và tính tương ứng bội Chương 4: Khuôn mẫu (Template) Chương 5: I/O Streams Giáo trình được biên soạn theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có sự tham khảo của nhiều tài liệu trong nước và sự cộng tác của tập thể giáo viên trong Khoa Công nghệ thông tin. Trong mỗi chương đều có ví dụ minh họa, cuối chương có phần câu hỏi và bài tập để sinh viên tự kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của mình. Các ví dụ trong giáo trình được viết bằng ngôn ngữ C++ chạy thử nghiệm bằng Turbo C. Kết quả lấy từ các lần chạy thử nghiệm với các dữ liệu vào cụ thể. Bạn đọc có nhu cầu sử dụng chương trình nguồn có thể liên hệ trực tiếp với tác giả hoặc đăng ký tài khoản tại khoa để download các ví dụ. Trong nội dung mỗi chương, các bài tập được lựa chọn với độ khó tăng dần; đồng thời các bài tập vận dụng phù hợp với chuyên ngành Hệ thống Công nghệ thông tin Quản lý cũng được đưa vào để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành.
1607 lượt xem
Báo chí dưới góc nhìn thực tiễn
TS. Nguyễn Thế Kỷ
Trong suốt chặng đường 88 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, báo chí cách mạng Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trên nhiều mặt. Từ Báo Thanh niên - tờ báo cách mạng được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo năm 1925, đến nay, cả nước đã có hơn 800 cơ quan báo chí in, 67 đài phát thanh, truyền hình, hơn 60 báo điện tử và hàng trăm trang thông tin điện tử là cánh tay nối dài của các báo, tạp chí… Hơn bao giờ hết, báo chí cách mạng Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và cả không ít khó khăn, thách thức. Đó là yêu cầu cách mạng, chính quy, chuyên nghiệp, hiện đại; tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, là diễn đàn tin cậy, gần gũi của nhân dân; là quá trình hội tụ truyền thông, tích hợp đa phương tiện, đa loại hình. Báo chí ta hiện nay có diện mạo ra sao; đang phát triển như thế nào; công tác lãnh đạo, quản lý đang đặt ra những yêu cầu gì; có điều gì cần quan tâm, giải quyết? Khá nhiều vấn đề vừa nêu đã được TS. Nguyễn Thế Kỷ, bằng trải nghiệm hàng chục năm ở báo nói, báo hình, báo in, báo điện tử; ở các cương vị quản lý, chỉ đạo công tác báo chí, đã mạnh dạn nghiên cứu, đề xuất cách nhìn, hướng đi, nhiệm vụ, giải pháp trong một số cuốn sách, công trình nghiên cứu mấy năm gần đây. “Báo chí - Dưới góc nhìn thực tiễn” là cuốn sách tuyển chọn các bài viết, công trình nghiên cứu của TS. Nguyễn Thế Kỷ về báo chí và văn hóa. Sách gồm hai phần: - Phần 1: Báo chí - Những góc nhìn. Tác giả cố gắng khắc họa bức tranh toàn cảnh nền báo chí nước nhà; những vấn đề then chốt trong công tác lãnh đạo, quản lý báo chí. Đó là công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống báo chí cả nước; là công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ báo chí trên các mặt: bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp; báo chí với nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, củng cố quốc phòng - an ninh, tăng cường công tác đối ngoại, bảo vệ chủ quyền, biển đảo của Tổ quốc… - Phần 2: Những câu chuyện văn hóa. Là những ghi chép, những cảm xúc chân thành, đằm thắm về đất nước, về con người, về những vùng đất mà tác giả đã đi, đã viết, đã lắng thành những kỷ niệm khó quên. Tác giả có những trang viết sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, về Đảng quang vinh, dân tộc anh hùng, nhân dân dũng cảm, bạn bè quốc tế thủy chung, son sắt. Nổi rõ trong đó là quê hương xứ Nghệ, là dải đất miền Trung trữ tình, gian khó, đang vươn về phía trước.
4335 lượt xem
Cơ sở dữ liệu quan hệ và công nghệ phân tích - thiết kế
TS. Lê Văn Phùng
Cơ sở dữ liệu (CSDL) là một trong những môn học chuyên ngành quan trọng của chuyên ngành công nghệ thông tin. Mục đích của cuốn sách nhằm giúp bạn đọc nắm bắt nhanh những vấn đề cốt lõi nhất về mặt lý thuyết CSDL quan hệ, trên cơ sở đó vận dụng vào thực tế trong việc thiết kế cơ sở dữ liệu logic cũng như thiết kế hệ thống thông tin nói chung. Do đó, nội dung tài liệu không đi sâu vào việc chứng minh các định lý mà chú trọng đến việc làm sáng tỏ ý nghĩa thực tế của các công thức để từ đó hướng dẫn học viên cách tiếp cận tư duy logic, nắm vững kỹ thuật tính toán cũng như các bước triển khai giải quyết các bài toán thực tế trên khía cạnh công nghệ. Nội dung sách được biên soạn sau nhiều năm thể nghiệm giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng và Trung tâm đào tạo tin học tại nhiều tỉnh thành trong cả nước. Cuốn sách gồm 3 chương: Chương 1 - Tổng quan về cơ sở dữ liệu: trích lọc những khái niệm cơ bản nhất về dữ liệu, cơ sở dữ liệu, hệ thống xử lý dữ liệu, hệ quản trị CSDL, các phương tiện diễn tả dữ liệu, từ điển dữ liệu, cũng như những khái niệm cốt lõi về mô hình dữ liệu sẽ được sử dụng trong quá trình phân tích, thiết kế CSDL. Chương 2 - Mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ: trình bày những khái niệm cơ bản nhất về mô hình dữ liệu quan hệ của E.F.Codd, chúng được dùng nhiều trong việc thiết kế các hệ quản trị CSDL hiện nay. Chương này cũng giới thiệu những thuật toán quan trọng trong CSDL như các thuật toán tính bao đóng và khoá tối tiểu trên 1 quan hệ cũng như trên 1 sơ đồ quan hệ… Nội dung chương còn đặc biệt quan tâm đến các dạng chuẩn và các thuật toán có liên quan. Việc chuẩn hoá các quan hệ cũng như các sơ đồ quan hệ đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết kế các hệ quản trị cơ sở dữ liệu trên mô hình dữ liệu của E.F.Codd. Bên cạnh đó, chương 2 còn tập trung hướng dẫn áp dụng các khái niệm và phương pháp tiên tiến để chuẩn hoá các quan hệ đến 3NF (3NF) trong các hệ quản trị CSDL hiện hữu. Chương 3 - Quy trình phân tích thiết kế CSDL: được trình bày một cách hệ thống toàn bộ quy trình phân tích, thiết kế một CSDL, bao gồm các giai đoạn chủ chốt như phân tích yêu cầu dữ liệu, phát triển mô hình phân tích dữ liệu, thiết kế CSDL mức logic và mức vật lý, thiết kế an toàn bảo mật cho CSDL. Quá trình phân tích, thiết kế nhằm xây dựng và quản trị CSDL được trình bày ở đây tập trung vào CSDL quan hệ, một loại CSDL được xây dựng dựa trên mô hình dữ liệu quan hệ có lý thuyết toán học vững chắc nhất. Ngoài ra, đây cũng là loại CSDL phổ biến nhất, được sử dụng hầu hết trong các hệ quản trị CSDL thông dụng trên thế giới.
2668 lượt xem
Tìm hiểu Luật Công nghệ thông tin và các nghị định hướng dẫn thi hành
Nhà xuất bản thông tin và Truyền thông

Ngày 12/7/2006, Luật Công nghệ thông tin đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật này. Nội dung cuốn sách được trình bày dưới dạng Hỏi - Đáp (99 câu hỏi và trả lời) về các vấn đề quan trọng của Luật Công nghệ thông tin và các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ như: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về quy định chi tiết các nội dung xử phát vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT).

6558 lượt xem
Quản lý dự án công nghệ thông tin
ThS Trần Nguyên Hương, CN Lê Hương Giang, Lê Văn Phùng
Trong quyển sách “Kỹ nghệ phần mềm”, Tiến sỹ Roger S. Pressman đã viết: “Quản lý dự án phần mềm là tầng dầu trong tiến trình kỹ nghệ phần mềm. Ta gọi nó là một tầng, thay vì là một bước hay hoạt động, bởi vì nó phủ lên toàn bộ tiến trình phát triển từ đầu đến cuối”. Việc quản lý dự án phần mềm cung cấp những hiểu biết về phạm vi công việc cần làm, những rủi ro phải chịu, các nguồn lực cần tới, nhiệm vụ cần hoàn thành, những cột mốc cần theo dõi, chi phí phải chi tiêu và lịch biểu phải tuân thủ. Quản lý dự án phần mềm rất quan trọng cho sự thành công của dự án nên cả người phụ trách dự án với tất cả các thành viên tham gia dự án phải hiểu cách tiến hành nó, hiểu cách làm việc trong khuôn khổ do dự án lập ra. Trong thực tế, do thiếu được trang bị kiến thức đầy đủ về phương pháp quản lý dự án phần mềm, hay nói rộng ra là dự án công nghệ thông tin, nên nhiều dự án công nghệ thông tin đã không thực sự thành công. Tuy có một vài cuốn sách về quản lý dự án đã được xuất bản, nhưng nhìn chung, sách quản lý dự án chuyên khảo trong từng lĩnh vực hẹp còn quá ít. Do vậy việc thực hành quản lý dự án, nhất là quản lý dự án về công nghệ thông tin còn gặp nhiều lúng túng. Với ý nguyện muốn phục vụ công tác quản lý dự án công nghệ thông tin có hiệu quả hơn, nhóm tác giả, do TS. Lê Văn Phùng làm chủ biên, đã tiến hành biên soạn cuốn sách “ trên cơ sở các tài liệu sưu tập được và từ chính các kinh nghiệm mà các tác giả đã trải qua trong quá trình thực hiện và quản lý dự án công nghệ thông tin ở Việt Nam. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: Chương 1. Dự án và quản lý dự án Chương 2. Lập kế hoạch dự án công nghệ thông tin Chương 3. Các phương tiện phục vụ quản lý dự án Chương 4. Tổ chức triển khai, giám sát và điều chỉnh kế hoạch dự án Chương 5. Quản lý các hoạt động kết thúc dự án Đối tượng phục vụ của cuốn sách này chủ yếu là cho những người làm công nghệ thông tin, cho tất cả các bạn yêu thích, muốn thực hành về quản lý dự án. Chúng tôi hy vọng cuốn sách còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng nghiệp trong giảng dạy, nghiên cứu trên các lĩnh vực có liên quan đến khoa học quản lý. Nội dung cuốn sách này đặc biệt thích hợp với sinh viên cao đẳng, đại học và trên đại học ngành Hệ thống thông tin quản lý trong Công nghệ thông tin.
4327 lượt xem
Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa đạo đức
TS. NGND. Trần Văn Bính

Tại Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã trịnh trọng tuyên bố: “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Khẳng định đó là kết quả tổng kết những bài học kinh nghiệm quý báu của Cách mạng Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua, và những bài học rút ra từ hoạt động thực tiễn hơn 5 năm Đổi mới. Khẳng định đó ngay lập tức nhận được sự đồng thuận của toàn dân, tạo được sự khích lệ lớn đối với mỗi người Việt Nam, trong đó có giới trí thức, các nhà khoa học. GS. TS. NGND. Trần Văn Bính - nguyên Trưởng khoa Văn hóa (nay là Viện Văn hóa và Phát triển) thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, trong nhiều năm qua, đã tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa và con người. Các bài viết của Giáo sư, dù ra đời tại các thời điểm khác nhau, đều hướng tới việc nghiên cứu và khẳng định những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Tư tưởng của Hồ Chí Minh hướng về nội hàm của hai từ văn hóa, là tư tưởng coi con người là động lực, là mục tiêu của mọi hoạt động kinh tế, xã hội, là tư tưởng “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, và là sự quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống cho mỗi con người… Gắn việc nghiên cứu, học tập các tư tưởng của Người với việc giải quyết những vấn đề cơ bản, cấp thiết về văn hóa, con người, trong tình hình hiện nay, là mục tiêu cơ bản của cuốn sách. Đó là các vấn đề: xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hướng tới kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách “Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức” của GS.TS.NGND. Trần Văn Bính. Nội dung cuốn sách gồm hai phần: Phần 1: Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa Phần 2: Di sản Hồ Chí Minh về đạo đức. Việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối để bạn đọc tiện theo dõi, bởi văn hóa và đạo đức là hai phạm trù có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau, hòa quyện vào nhau. Cuốn sách không phải là tập chuyên khảo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người, tác giả không đặt cho mình nhiệm vụ trình bày vấn đề một cách hệ thống và chi tiết, mà thông qua từng bài viết nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, tác giả mong muốn giới thiệu những tư tưởng cơ bản nhất, sát thực nhất đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người ở nước ta hiện nay. Nhân dịp tái bản cuốn sách, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xin trân trọng cảm ơn sự định hướng chỉ đạo của TS. Nguyễn Bắc Son, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; TS. Lê Doãn Hợp, nguyên Ủy viên BCH Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông và các nhà khoa học đã dành thời gian đóng góp những ý kiến quý báu cho cuốn sách này. Hy vọng, cuốn sách sẽ được đông đảo bạn đọc gần xa, trong và ngoài nước nhiệt tình đón nhận. Xin trân trọng cảm ơn!

7976 lượt xem
Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc
Nguyễn Văn Khoan, Đỗ Quang Hưng
Trong việc tìm hiểu, nghiên cứu cuộc đời yêu nước - cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, có một điều chúng ta rất dễ nhận thấy đó là sự thống nhất - có thể gọi là sự kết hợp, chặt chẽ giữa hai mục tiêu giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thể hiện rõ nét trong sự nghiệp báo chí của Người. Và trong thực tế, sự nghiệp báo chí của Người là vô cùng phong phú và sáng tạo, gắn liền và phục vụ đắc lực yêu cầu của từng thời kỳ hoạt động, không chỉ giới hạn vào phạm vi báo chí trong nước mà còn mở rộng ra cả phạm vi nước ngoài (Trung Quốc, Liên Xô, Pháp, Thái Lan), kể cả báo chí của Quốc tế Cộng sản. Cuốn sách “Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc” của GS. Đỗ Quang Hưng và TS. Nguyễn Văn Khoan đã đáp ứng đúng yêu cầu của công việc tìm hiểu - nghiên cứu và học tập tư tưởng của Người một cách chính xác, khoa học. Để biên soạn cuốn sách này, nhóm biên soạn đã có nhiều công phu trong việc khai thác, thu thập tư liệu từ nhiều nguồn và nhiều phía, tuy rằng chủ yếu là thừa hưởng kết quả sưu tầm và nghiên cứu của các tập “Hồ Chí Minh tuyển tập” và “toàn tập” đã được công bố rộng rãi trong nhiều năm qua, nhưng đã có sự điều chỉnh, bổ sung thêm một số tư liệu mới được khai thác từ các trung tâm lưu trữ trong nước và nước ngoài, đặc biệt là có sự đóng góp kịp thời và hiệu quả của “Thư mục các bài viết của Nguyễn Ái Quốc” đăng trên báo L’Humanité (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp do nhà sử học Pháp Alain Ruscio (là Giám đốc Trung tâm thông tin các tư liệu về nước Việt Nam hiện đại - viết tắt là C. I. D.) xuất bản nhân dịp kỷ niệm 100 năm báo Nhân đạo mới ra mắt bạn đọc (1904 - 2004), dưới đề mục chung “Vấn đề thuộc địa trên báo Nhân đạo”. Nội dung phong phú và khoa học của cuốn sách “Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc” được giới thiệu theo một cấu trúc chặt chẽ và hợp lý. Cuốn sách giới thiệu khá tỉ mỉ tình hình ra đời và phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ những ngày đầu, và phát triển liên tục cho tới ngày nay, và vai trò to lớn, có tính quyết định, mở đường khai lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đó. Cuốn sách gồm hai phần chính: Phần I giới thiệu 26 bài viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh theo thời gian, bài sớm nhất là “Tâm địa thực dân” năm 1919 cho tới bài cuối cùng là “Trả lời phỏng vấn của Sáclơ Phuốcniô” năm 1969, chỉ trước khi Người đi xa một thời gian ngắn. Phần II giới thiệu 12 bài viết của một số nhà khoa học nghiên cứu về các bài báo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn có Phụ lục lần lượt giới thiệu Tổng mục các bài viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trên báo L’Humanité của Đảng Cộng sản Pháp và cuối cùng là một số tài liệu, bản chụp bài viết của Nguyễn Ái Quốc bằng tiếng Việt - Pháp - Anh - Hán. Có thể khẳng định rằng cơ cấu như vậy là chặt chẽ và hoàn chỉnh đối với một công trình mang tính giới thiệu thông tin. Chỉ tiếc rằng nếu trong Phần I bên cạnh tên bài báo có cả thông tin về bài báo đăng trên số nào, ngày nào thì sẽ cụ thể, khoa học hơn.
3426 lượt xem
Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụng nhằm hiểu rõ Điểm mạnh ( Strengths), Điểm yếu ( Weaknesses), Cơ hội ( Opportunities) và Nguy cơ ( Threats) trong phân tích kinh doanh của một doanh nghiệp. Thông qua phân tích SWOT, doanh nghiệp sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Trong quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, hiệu quả cao giúp bạn có cái nhìn tổng thể không chỉ về chính doanh nghiệp của mình mà còn thấy được những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp bạn. • Điểm mạnh là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tích cực hoặc có lợi giúp bạn đạt được mục tiêu. • Điểm yếu là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. • Cơ hội là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp lợi đạt được mục tiêu. • Nguy cơ là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. Có thể thấy, mục đích của phân tích SWOT là nhằm xác định thế mạnh mà bạn đang nắm giữ cũng như những điểm hạn chế cần phải khắc phục. Nói cách khác, SWOT chỉ ra cho bạn đâu là nơi để bạn tấn công và đâu là nơi bạn cần phòng thủ. Cuối cùng, kết quả SWOT cần phải được áp dụng một cách hợp lý trong việc đề ra một Kế hoạch hành động (Action plan) thông minh và hiệu quả. Thấy rõ tầm quan trọng của SWOT, trường Đào tạo Doanh nhân PTI, nơi đào tạo hàng nghìn nhà lãnh đạo cấp cao và cấp trung, đã tổ chức biên soạn cuốn sách “Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh”. Hy vọng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể hiểu rõ SWOT để vận dụng thành công vào mô hình kinh doanh của doanh nghiệp mình.
5946 lượt xem