Thư viện
Hướng dẫn sử dụng các dịch vụ bưu chính
TS. Trần Thị Thập
Bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin là những lĩnh vực thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. Trong thời đại bùng nổ các phương tiện truyền thông hiện đại thì bưu chính vẫn khẳng định vai trò quan trọng và khó có thể thay thế được, đó là kết nối mọi người và phát triển thương mại thông qua việc chuyển phát vật lý những tài liệu và hàng hóa từ người gửi đến người nhận. Tại Việt Nam, khá nhiều người không biết hết những dịch vụ tiện ích cho cuộc sống mà bưu chính có thể cung cấp, cũng như không hiểu đầy đủ các qui định khi tham gia sử dụng dịch vụ nên khá nhiều trường hợp đáng tiếc đã xảy ra. Nhiều người đã mất tiền hoặc đồ vật quí, thậm chí cả các tài liệu quí do không biết lựa chọn dịch vụ phù hợp… Hướng dẫn sử dụng các dịch vụ bưu chính là cuốn sách cẩm nang cho mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp khi tham gia sử dụng dịch vụ bưu chính. Sách do TS.Trần Thị Thập - Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông biên soạn. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan về dịch vụ bưu chính; Chương 2: Quy định pháp luật đối với doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính và người sử dụng dịch vụ bưu chính; Chương 3: Giới thiệu một số dịch vụ bưu chính điển hình; Chương 4: Hướng dẫn sử dụng dịch vụ bưu chính; Chương 5: Giới thiệu về tem bưu chính và mã địa chỉ bưu chính. Phần phụ lục là danh mục mã địa chỉ bưu chính của các tỉnh trong cả nước để bạn đọc tiện tham khảo.
6560 lượt xem
Giáo trình Xác xuất và Thống kê
PGS.TS Lê Bá Long
Giáo trình được biên soạn cho Hệ đại học chuyên ngành Điện tử viễn thông và Công nghệ thông tin, dựa trên nền chương trình khung của Bộ Giáo dục - Đào tạo và theo đề cương chương trình của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông phê duyệt năm 2007, cùng với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm của tác giả theo định hướng ứng dụng cho các ngành kỹ thuật. Nội dung giáo trình gồm 6 chương, tương ứng với 4 đơn vị học trình: Chương 1: Các khái niệm cơ bản về xác suất Chương 2: Biến ngẫu nhiên và các đặc trưng của chúng Chương 3: Véc tơ ngẫu nhiên và các đặc trưng cơ bản của chúng Chương 4: Luật số lớn và định lý giới hạn Chương 5: Thống kê toán học Chương 6: Quá trình ngẫu nhiên và chuỗi Markov. Điều kiện tiên quyết cho môn học xác suất và thống kê là hai môn toán cao cấp đại số và giải tích trong chương trình toán đại cương. Một số giáo trình trình bày lý thuyết xác suất trên cơ sở hệ tiên đề Kolmogorov, trong đó xác suất là một độ đo σ - cộng tính các định trong σ- đại số các biến cố. Với cách xây dựng này, các khái niệm và định lý được trình bày ngắn gọn hơn, mạch lạc hơn, tổng quát hơn. Tuy nhiên vì sự hạn chế về thời gian của chương trình toán dành cho ngành kỹ thuật nên tác giả lựa chọn cách tiếp cận lý thuyết xác suất theo hướng ứng dụng mà không theo hướng hệ tiên đề. Một số khái niệm được hình thành từ các ví dụ cụ thể, nhiều kết quả và định lý chỉ được phát biểu và minh họa chứ không có điều kiện để chứng minh chi tiết. Giáo trình được trình bày phù hợp với người tự học. Trước khi nghiên cứu nội dung chi tiết, bạn đọc nên xem phần giới thiệu của mỗi chương để thấy được mục đích, ý nghĩa, yêu cầu chính của chương đó. Tại mỗi chương, mỗi nội dung bạn đọc có thể tự đọc và hiểu được cặn kẽ thông qua cách diễn đạt và chỉ dẫn rõ ràng. Đặc biệt bạn đọc nên chú ý đến các nhận xét để hiểu sâu hơn hoặc mở rộng tổng quát hơn các kết quả và hướng ứng dụng vào thực tế. Trong giáo trình tác giả đưa vào nhiều ví dụ minh họa trực tiếp cho các khái niệm, định lý hoặc các thuật toán, vì vậy sẽ giúp người đọc dễ dàng hơn khi tiếp thu bài học. Cuối mỗi chương đều có các câu hỏi luyện tập và bài tập. Bộ câu hỏi này bao trùm toàn bộ nội dung trong chương: có những câu kiểm tra trực tiếp các kiến thức vừa được học nhưng cũng có những câu đòi hỏi bạn đọc phải vận dụng một cách tổng hợp và sáng tạo các kiến thức để giải quyết. Vì vậy việc giải các bài tập này giúp bạn đọc nắm chắc hơn lý thuyết và tự kiểm tra được mức độ tiếp thu lý thuyết của mình.
2500 lượt xem
Sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh Việt Nam thực thi các FTA và cộng đồng kinh tế ASEAN
Nguyễn Thị Thùy Dung, Phùng Thị Lan Phương, TS. Nguyễn Thị Thu Trang
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang ngày càng đi vào chiều sâu, đặc biệt với việc đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng với nhiều đối tác thương mại lớn và tuyên bố hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015. Với các FTA và AEC này, nền kinh tế của Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn khi phải mở rộng cánh cửa cho hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, thông qua việc cắt giảm, loại bỏ thuế quan, đặc biệt từ sau năm 2015. Trên thực tế, ngay cả với những cam kết mở cửa đã có, cánh cửa vào thị trường Việt Nam đã được mở ra khá rộng cho hàng hóa nước ngoài nhập khẩu. Cùng với đó cũng xuất hiện những dấu hiệu của hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nước ngoài tại thị trường Việt Nam. Không ít hàng hóa nhập khẩu đã được bán với giá thấp kỷ lục, thậm chí được cho là giá “hủy diệt”. Những hiện tượng này đã và đang gây ra những thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp Việt Nam và trong lâu dài có thể ảnh hưởng tới triển vọng phát triển của các ngành sản xuất trong nước. Trong khi các nước khác trên thế giới từ lâu đã biết tới các công cụ phòng vệ thương mại (PVTM) - chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và sử dụng hiệu quả để bảo vệ các doanh nghiệp của mình khỏi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu; thì ở Việt Nam các công cụ này dường như vẫn còn bị bỏ ngỏ (với chỉ 5 vụ tính tới tháng 12/2015). Vì vậy, Trung tâm WTO và Hội nhập (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) phối hợp với NXB Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “Sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh Việt Nam thực thi các FTA và cộng đồng kinh tế ASEAN” nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các biện pháp PVTM ở Việt Nam. Đây sẽ là cơ sở để triển khai những hoạt động cụ thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu tận dụng hiệu quả các công cụ hợp pháp này trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng trong thời gian tới. Cuốn sách gồm các nội dung chính sau: - Xây dựng bức tranh tổng quan tình hình và hiệu quả sử dụng các công cụ PVTM của doanh nghiệp Việt Nam từ trước tới nay; - Đánh giá thực chất về nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh của hàng nhập khẩu từ các FTA hiện đang đàm phán và AEC tại thị trường Việt Nam trong thời gian tới; - Xác định đầy đủ các hạn chế và nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng các công cụ này chưa hiệu quả; - Đề xuất các giải pháp cụ thể, hợp lý và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các công cụ PVTM cho doanh nghiệp Việt Nam.
1287 lượt xem
Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
TS. Nguyễn Thành Lợi
Sự ra đời các phương tiện truyền thông mới đã và đang tác động sâu sắc đến “bữa tiệc thông tin” của công chúng hiện đại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự “sinh tồn” của các phương tiện truyền thông truyền thống, đặt ra cho các tòa soạn và nhà báo những thách thức chưa từng có. Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ kỹ thuật số, Internet đã và đang tác động sâu sắc, đa dạng, phong phú đến “món ăn” tinh thần hàng ngày của công chúng truyền thông hiện đại. Đặc biệt, với sự ra đời của các thiết bị di động, những màn hình tương tác trở thành phương tiện truyền thông thông minh để mỗi giây, cư dân mạng có thể tải và chia sẻ hàng tỉ byte thông tin. Điều đó khiến cuộc va chạm giữa phương tiện truyền thông truyền thống và mới, giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dù thừa nhận hay không, truyền thông xã hội vẫn là một thực thể truyền thông đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống truyền thông hiện đại, tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng, tác động không nhỏ đến ngành báo chí truyền thông thế giới đương đại. Có thể thấy, truyền thông Internet ra đời tạo ra xu hướng hội tụ truyền thông và đa phương tiện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự vận động và phát triển của báo chí truyền thông hiện đại. Vậy, hội tụ truyền thông là gì? Sự xuất hiện của kỷ nguyên truyền thông số đã khiến nghiệp vụ báo chí truyền thông có những thay đổi căn bản. Những thay đổi đó tác động như thế nào đến tiến trình hội tụ truyền thông? Từ tòa soạn đơn loại hình đến đa phương tiện rồi phát triển tới tòa soạn hội tụ là sự phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong bối cảnh chung đó, các tòa soạn báo ở Việt Nam nên sắp xếp và thay đổi mô hình tổ chức như thế nào để thích ứng với xu thế phát triển chung của thế giới hiện đại? Đây là những vấn đề đang được báo giới, học giả cũng như các nhà báo hết sức quan tâm. Có thể khẳng định, sự xuất hiện thời đại truyền thông hội tụ không làm thay đổi bản chất của báo chí, mà báo chí vẫn cần sự phát hiện và khai quật của nhà báo chuyên nghiệp, vẫn cần sự gia công trong khâu biên tập và khâu xuất bản, vẫn phải thông qua phương tiện truyền thông để đưa sản phẩm báo chí tới công chúng. Và sự thay đổi của nó là tốc độ truyền phát thông tin và phương thức tiếp nhận thông tin. Nắm vững các kỹ năng làm báo hiện đại vẫn là yêu cầu quan trọng nhất của người làm báo trong môi trường truyền thông hiện nay. Trong môi trường hội tụ truyền thông, những nghiên cứu về sự thay đổi và bất biến của nghiệp vụ báo chí truyền thông ở nước ta vẫn còn khá ít ỏi. Cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi giới thiệu với độc giả những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm - nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyền thông. Tác giả đã giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới, tác giả đã làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, phóng viên, biên tập viên và những người muốn nghiên cứu lĩnh vực này. Tìm tòi, trình bày và giải thích là mục đích của tác giả viết cuốn sách này, khi tiếp xúc với những vấn đề mà nhà nghiên cứu cảm thấy xa lạ, hoặc khi bản thân vấn đề đó còn khá mới mẻ, người nghiên cứu sẽ phải có những nhận thức sơ bộ đối với đề tài. Sau khi những nhận thức dần được hình thành, hoạt động nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở khâu miêu tả và đánh giá lý thuyết của nước ngoài, mà cần có sự áp dụng sâu hơn vào thực tiễn đào tạo và làm báo của nước nhà. Nghiên cứu khoa học bắt nguồn từ quan sát, nhưng cuối cùng phải giải thích về sự vật mình quan sát được, cần áp dụng phương pháp nào đó để giải thích, ví dụ phương pháp xã hội học, phương pháp tâm lý học truyền thông. Góc độ phân tích phương pháp nghiên cứu của mỗi người mỗi khác mới cho ra đời những quan điểm mới mẻ, có tác dụng gợi mở cho độc giả và ngành khoa học. Công trình nghiên cứu của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi đã đưa ra những vấn đề mới mang tính gợi mở cho các cuộc thảo luận tiếp theo của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và độc giả trong nước. Đây là hướng đi khá mới mẻ, cũng là một sự thử nghiệm rất đáng quý.
6411 lượt xem
Công nghệ 4G LTE và chiến lược, lộ trình phát triển ở Việt Nam
PGS.TS Trần Minh Tuấn
Thông tin di động ngày nay đã trở thành một trong những dịch vụ viễn thông phát triển rất nhanh và mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp viễn thông, mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển của thị trường viễn thông di động đã thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu và triển khai các hệ thống thông tin di động mới trong tương lai. Hệ thống di động thế hệ thứ hai với GSM và CDMA là những ví dụ điển hình đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, tuy nhiên thị trường viễn thông ngày càng mở rộng càng thể hiện rõ những hạn chế về dung lượng và băng thông của các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai. Sự ra đời của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba với các công nghệ tiêu biểu như WCDMA hay HSPA là một tất yếu để có thể đáp ứng được nhu cầu truy cập dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, xem phim… với tốc độ cao. Hiện nay, mặc dù các hệ thống thông tin di động thế hệ 2,5G hay 3G vẫn đang phát triển không ngừng nhưng các nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới đã triển khai một chuẩn di động thế hệ mới có rất nhiều tiềm năng và sẽ trở thành chuẩn di động 4G trong thời gian tới, đó là LTE (Long Term Evolution - Sự phát triển dài hạn). Thực tế triển khai công nghệ LTE vừa qua tại nhiều nước đã chứng tỏ khả năng vượt trội của LTE cả trên phương diện công nghệ lẫn khả năng thương mại. Trước đây, muốn truy cập dữ liệu lớn, bạn phải cần có một đường dây cố định để kết nối. Với LTE, chúng ta có thể truy cập tất cả các dịch vụ mọi lúc mọi nơi trong khi vẫn di chuyển như: xem phim chất lượng cao HDTV, điện thoại có hình, chơi game, nghe nhạc trực tuyến, tải cơ sở dữ liệu… với một tốc độ “siêu tốc”. Đó chính là sự khác biệt giữa mạng di động thế hệ thứ 3 (3G) và mạng di động thế hệ thứ tư (4G). Tuy vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam nhưng mạng di động băng rộng 4G đang được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều thay đổi khác biệt so với những mạng di động hiện nay. Bộ Thông tin và Truyền thông rất coi trọng việc phát triển thông tin di động băng rộng các thế hệ tiếp theo để có hạ tầng viễn thông hiện đại, làm nền tảng cho phát triển kinh tế số, góp phần thay đổi cơ cấu tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phục vụ cộng đồng như giám sát và bảo vệ môi trường, xây dựng ngôi nhà thông minh, thành phố thông minh, chăm sóc sức khỏe… Mạng và dịch vụ di động băng rộng công nghệ 4G mở ra cơ hội to lớn cho việc đạt được mục tiêu này.
3944 lượt xem
Tìm hiểu Luật Công nghệ thông tin và các nghị định hướng dẫn thi hành
Nhà xuất bản thông tin và Truyền thông

Ngày 12/7/2006, Luật Công nghệ thông tin đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật này. Nội dung cuốn sách được trình bày dưới dạng Hỏi - Đáp (99 câu hỏi và trả lời) về các vấn đề quan trọng của Luật Công nghệ thông tin và các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ như: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về quy định chi tiết các nội dung xử phát vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT).

6525 lượt xem
CÔNG NGHỆ MẠNG MÁY TÍNH
TS. PHẠM THẾ QUẾ
Cuốn sách “Công nghệ mạng máy tính” không chỉ đề cập đến những vấn đề cơ sở lý luận mà còn trình bày một số kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết để thiết kế và cài đặt các mạng máy tính. Hy vọng cuốn sách sẽ có ích cho các học sinh, sinh viên và những người quan tâm xây dựng các hệ thống tin học ứng dụng phục vụ cho quản lý và sản xuất trong các cơ quan, đơn vị và các doanh nghiệp. Trong quá trình biên soạn, cuốn sách không tránh khỏi thiếu sót, tác giả mong nhận được các ý kiến góp ý của bạn đọc.
3130 lượt xem
Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài
PGS. TS. Trương Minh Dục
Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi quốc gia. Quá trình đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam dẫu có lúc thăng trầm, những bước thịnh suy, song đã hun đúc nên truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất để gìn giữ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cả ở trên bộ, trên biển và trên không. Điều này đã được khẳng định trong các Tuyên ngôn độc lập: Nam quốc sơn hà (thời Tiền Lê - Lý); Bình Ngô đại cáo thời Hậu Lê; Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992… Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, đã được Nhà nước Việt Nam, các thế hệ người Việt Nam chiếm hữu, bảo vệ, quản lý, khai thác. Điều này, không chỉ được lưu lại trong cổ sử Việt Nam, mà còn được quốc tế thừa nhận trong các tư liệu còn lưu trữ. Trong hơn một thế kỷ qua, các nhà khoa học ở trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu và đã công bố những công trình sưu tập, nghiên cứu khoa học có liên quan đến những tư liệu nằm trong thư tịch, sách, bản đồ cổ… có giá trị pháp lý chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong những năm gần đây, trước tình hình Trung Quốc gia tăng áp lực tranh giành chủ quyền và các quyền, lợi ích trong Biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, nằm trong yêu sách về “đường chữ U đứt đoạn” (“đường lưỡi bò”) mà họ đã đơn phương công bố, dư luận trong nước và dư luận quốc tế đã có những phản ứng mạnh mẽ, nhiều tranh luận học thuật, nhiều công trình nghiên cứu về Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã được công bố. Những nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống tư liệu có giá trị khoa học về lịch sử, pháp lý... để chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách “Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài” của PGS.TS Trương Minh Dục đã tập hợp và hệ thống hóa nguồn thư tịch, tư liệu khá phong phú, cũ và mới, của Việt Nam và nước ngoài, đặc biệt những tư liệu mới sưu tầm ở các địa phương có liên quan đến việc Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã quản lý, bảo vệ và khai thác quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nội dung cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1: Vài nét về địa lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sự tiếp cận của các tộc người Việt Nam trước thế kỷ XV. Chương 2: Chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam (từ thời Hậu Lê - thế kỷ XV đến năm 1975). Chương 3: Tư liệu nước ngoài trực tiếp và gián tiếp khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Chương 4: Đấu tranh để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa từ sau khi thống nhất đất nước đến nay. Việc tiếp tục phát hiện, sưu tầm và hệ thống hóa những tư liệu, tài liệu, chứng cứ, nhất là những tư liệu chứng minh Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi hai quần đảo này còn là đất vô chủ và đã tiến hành thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình. Rõ ràng, đây là công việc hết sức cần thiết và quan trọng, cần được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và cần có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung. Cuốn sách này sẽ là sự đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện hồ sơ pháp lý của các cơ quan quản lý và các tổ chức nghiên cứu khoa học có liên quan của Việt Nam vì sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông nói chung và tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng.
1754 lượt xem
Quản lý dự án công nghệ thông tin
ThS Trần Nguyên Hương, CN Lê Hương Giang, Lê Văn Phùng
Trong quyển sách “Kỹ nghệ phần mềm”, Tiến sỹ Roger S. Pressman đã viết: “Quản lý dự án phần mềm là tầng dầu trong tiến trình kỹ nghệ phần mềm. Ta gọi nó là một tầng, thay vì là một bước hay hoạt động, bởi vì nó phủ lên toàn bộ tiến trình phát triển từ đầu đến cuối”. Việc quản lý dự án phần mềm cung cấp những hiểu biết về phạm vi công việc cần làm, những rủi ro phải chịu, các nguồn lực cần tới, nhiệm vụ cần hoàn thành, những cột mốc cần theo dõi, chi phí phải chi tiêu và lịch biểu phải tuân thủ. Quản lý dự án phần mềm rất quan trọng cho sự thành công của dự án nên cả người phụ trách dự án với tất cả các thành viên tham gia dự án phải hiểu cách tiến hành nó, hiểu cách làm việc trong khuôn khổ do dự án lập ra. Trong thực tế, do thiếu được trang bị kiến thức đầy đủ về phương pháp quản lý dự án phần mềm, hay nói rộng ra là dự án công nghệ thông tin, nên nhiều dự án công nghệ thông tin đã không thực sự thành công. Tuy có một vài cuốn sách về quản lý dự án đã được xuất bản, nhưng nhìn chung, sách quản lý dự án chuyên khảo trong từng lĩnh vực hẹp còn quá ít. Do vậy việc thực hành quản lý dự án, nhất là quản lý dự án về công nghệ thông tin còn gặp nhiều lúng túng. Với ý nguyện muốn phục vụ công tác quản lý dự án công nghệ thông tin có hiệu quả hơn, nhóm tác giả, do TS. Lê Văn Phùng làm chủ biên, đã tiến hành biên soạn cuốn sách “ trên cơ sở các tài liệu sưu tập được và từ chính các kinh nghiệm mà các tác giả đã trải qua trong quá trình thực hiện và quản lý dự án công nghệ thông tin ở Việt Nam. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: Chương 1. Dự án và quản lý dự án Chương 2. Lập kế hoạch dự án công nghệ thông tin Chương 3. Các phương tiện phục vụ quản lý dự án Chương 4. Tổ chức triển khai, giám sát và điều chỉnh kế hoạch dự án Chương 5. Quản lý các hoạt động kết thúc dự án Đối tượng phục vụ của cuốn sách này chủ yếu là cho những người làm công nghệ thông tin, cho tất cả các bạn yêu thích, muốn thực hành về quản lý dự án. Chúng tôi hy vọng cuốn sách còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng nghiệp trong giảng dạy, nghiên cứu trên các lĩnh vực có liên quan đến khoa học quản lý. Nội dung cuốn sách này đặc biệt thích hợp với sinh viên cao đẳng, đại học và trên đại học ngành Hệ thống thông tin quản lý trong Công nghệ thông tin.
4299 lượt xem
Cơ sở dữ liệu quan hệ và công nghệ phân tích - thiết kế
TS. Lê Văn Phùng
Cơ sở dữ liệu (CSDL) là một trong những môn học chuyên ngành quan trọng của chuyên ngành công nghệ thông tin. Mục đích của cuốn sách nhằm giúp bạn đọc nắm bắt nhanh những vấn đề cốt lõi nhất về mặt lý thuyết CSDL quan hệ, trên cơ sở đó vận dụng vào thực tế trong việc thiết kế cơ sở dữ liệu logic cũng như thiết kế hệ thống thông tin nói chung. Do đó, nội dung tài liệu không đi sâu vào việc chứng minh các định lý mà chú trọng đến việc làm sáng tỏ ý nghĩa thực tế của các công thức để từ đó hướng dẫn học viên cách tiếp cận tư duy logic, nắm vững kỹ thuật tính toán cũng như các bước triển khai giải quyết các bài toán thực tế trên khía cạnh công nghệ. Nội dung sách được biên soạn sau nhiều năm thể nghiệm giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng và Trung tâm đào tạo tin học tại nhiều tỉnh thành trong cả nước. Cuốn sách gồm 3 chương: Chương 1 - Tổng quan về cơ sở dữ liệu: trích lọc những khái niệm cơ bản nhất về dữ liệu, cơ sở dữ liệu, hệ thống xử lý dữ liệu, hệ quản trị CSDL, các phương tiện diễn tả dữ liệu, từ điển dữ liệu, cũng như những khái niệm cốt lõi về mô hình dữ liệu sẽ được sử dụng trong quá trình phân tích, thiết kế CSDL. Chương 2 - Mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ: trình bày những khái niệm cơ bản nhất về mô hình dữ liệu quan hệ của E.F.Codd, chúng được dùng nhiều trong việc thiết kế các hệ quản trị CSDL hiện nay. Chương này cũng giới thiệu những thuật toán quan trọng trong CSDL như các thuật toán tính bao đóng và khoá tối tiểu trên 1 quan hệ cũng như trên 1 sơ đồ quan hệ… Nội dung chương còn đặc biệt quan tâm đến các dạng chuẩn và các thuật toán có liên quan. Việc chuẩn hoá các quan hệ cũng như các sơ đồ quan hệ đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết kế các hệ quản trị cơ sở dữ liệu trên mô hình dữ liệu của E.F.Codd. Bên cạnh đó, chương 2 còn tập trung hướng dẫn áp dụng các khái niệm và phương pháp tiên tiến để chuẩn hoá các quan hệ đến 3NF (3NF) trong các hệ quản trị CSDL hiện hữu. Chương 3 - Quy trình phân tích thiết kế CSDL: được trình bày một cách hệ thống toàn bộ quy trình phân tích, thiết kế một CSDL, bao gồm các giai đoạn chủ chốt như phân tích yêu cầu dữ liệu, phát triển mô hình phân tích dữ liệu, thiết kế CSDL mức logic và mức vật lý, thiết kế an toàn bảo mật cho CSDL. Quá trình phân tích, thiết kế nhằm xây dựng và quản trị CSDL được trình bày ở đây tập trung vào CSDL quan hệ, một loại CSDL được xây dựng dựa trên mô hình dữ liệu quan hệ có lý thuyết toán học vững chắc nhất. Ngoài ra, đây cũng là loại CSDL phổ biến nhất, được sử dụng hầu hết trong các hệ quản trị CSDL thông dụng trên thế giới.
2638 lượt xem
Giáo trình Nhập môn trí tuệ nhân tạo
PGS.TS Từ Minh Phương
Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực của khoa học máy tính với mục tiêu nghiên cứu xây dựng và ứng dụng các hệ thống thông minh nhân tạo. Đây là một trong những lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất của khoa học máy tính hiện nay với nhiều kết quả ứng dụng rộng rãi. Nhập môn trí tuệ nhân tạo là môn học mang tính chuyên ngành trong chương trình đào tạo công nghệ thông tin hệ đại học. Mục tiêu của môn học nhằm giúp sinh viên làm quen với khái niệm trí tuệ nhân tạo thông qua việc giới thiệu một số kỹ thuật là ứng dụng cụ thể. Với việc học về trí tuệ nhân tạo, một mặt, sinh viên sẽ được làm quen với những phương pháp, cách giải quyết vấn đề không thuộc lĩnh vực toán lời rạc hoặc giải thuật truyền thống, chẳng hạn các phương pháp dựa trên heuristics, các phương pháp dựa trên tri thức, dữ liệu. Mặt khác, sinh viên sẽ được làm quen với khả năng ứng dụng tiềm tàng các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong nhiều bài toán thực tế. Do trí tuệ nhân tạo hiện đã phát triển với khá nhiều lĩnh vực chuyên sâu nên việc lựa chọn các nội dung để giới thiệu cho sinh viên là vấn đề không đơn giản. Trong cuốn sách này, các nội dung được lựa chọn hoặc là những nội dung có tính tiêu biểu, kinh điển của trí tuệ nhân tạo như biểu diễn tri thức bằng logic, các phương pháp tìm kiếm, hoặc là những kỹ thuật có nhiều ứng dụng và đang có tính thời sự hiện nay, tiêu biểu là phương pháp suy diễn xác suất và các kỹ thuật học máy. Trong khuôn khổ có hạn của cuốn sách với tính chất là giáo trình, phần giới thiệu về việc sử dụng kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong ứng dụng cụ thể không được trình bày nhiều. Chúng tôi dành phần lựa chọn ứng dụng cụ thể cho giảng viên trong quá trình lên lớp và hướng dẫn sinh viên. Tùy điều kiện, giảng viên có thể lựa chọn trong danh mục ứng dụng rất phong phú để giới thiệu và minh họa cho các nội dung của cuốn sách. Nội dung cuốn sách được trình bày thành 5 chương: Chương 1. Giới thiệu chung về trí tuệ nhân tạo: là phần giới thiệu tổng quan về trí tuệ nhân tạo bao gồm khái niệm, lịch sử hình thành, sơ lược về những kỹ thuật và ứng dụng tiêu biểu. Nội dung chương không đi quá sâu vào việc định nghĩa chính xác trí tuệ nhân tạo là gì, thay vào đó, người đọc được giới thiệu về những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu và lịch sử phát triển, trước khi làm quen với nội dung cụ thể trong các chương sau. Chương 2. Giải quyết vấn đề bằng tìm kiếm: trình bày cách giải quyết vấn đề bằng phương pháp tìm kiếm. Các phương pháp tìm kiếm bao gồm: tìm kiếm không có thông tin (tìm kiếm mù), tìm kiếm có thông tin, và tìm kiếm cục bộ. Khác với một số tài liệu khác về trí tuệ nhân tạo, nội dung về tìm kiếm có đối thủ không được đề cập đến trong tài liệu này. Một số nội dung như giải thuật di truyền có thể bỏ qua trong phần nhập môn và dùng để tham khảo do tương đối phức tạp so với các kỹ thuật khác. Chương 3. Biểu diễn tri thức và lập luận logic: tóm tắt về vấn đề sử dụng, biểu diễn tri thức và lập luận, trước khi đi sâu trình bày về biểu diễn tri thức và lập luận sử dụng logic. Trong hai hệ thống logic được trình bày là logic mệnh đề và logic vị từ, nội dung chương được dành nhiều hơn cho logic vị từ. Do nội dung về lập trình logic hiện không còn ứng dụng nhiều, chúng tôi không giới thiệu về vấn đề lập trình và xây dựng ứng dụng cụ thể ở đây. Chương 4. Lập luận xác suất: là mở rộng của biểu diễn tri thức và lập luận với việc sử dụng nguyên tắc suy diễn xác suất và mạng Bayes. Sau khi trình bày về sự cần thiết của lập luận trong điều kiện không rõ ràng cùng với nguyên tắc lập luận xác suất, phần chính của chương tập trung vào khái niệm cùng với ứng dụng mạng Bayes trong biểu diễn tri thức và lập luận. Chương 5. Học máy: là chương nhập môn về học máy. Trong chương này, người đọc được làm quen với khái niệm, nguyên tắc và ứng dụng của học máy. Trong phạm vi chương cũng trình bày bốn kỹ thuật học máy dùng cho phân loại là cây quyết định, phân loại Bayes, phân loại dựa trên ví dụ và hồi quy logistic, cùng với một số kỹ thuật đánh giá mô hình và lựa chọn đặc trưng. Đây là những phương pháp đơn giản, dễ giới thiệu, thuận tiện để trình bày với tính chất nhập môn. Đồng thời, đây cũng là những phương pháp có tính đại diện trong học máy, cần thiết cho người nghiên cứu về lĩnh vực này. Do ưu điểm và sự phổ biến của Support Vector Machines, phương pháp phân loại này cũng được giới thiệu, nhưng ở mức tóm tắt, không đi vào chi tiết để phù hợp với trình độ nhập môn. Cuốn sách được biên soạn từ kinh nghiệm giảng dạy học phần Nhập môn trí tuệ nhân tạo của tác giả tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, trên cơ sở tiếp thu phản hồi từ đồng nghiệp và sinh viên. Cuốn sách có thể sử dụng làm tài liệu học tập cho sinh viên đại học ngành công nghệ thông tin và các ngành liên quan, ngoài ra có thể sử dụng với mục đích tham khảo cho những người quan tâm tới trí tuệ nhân tạo.
4961 lượt xem
Báo chí dưới góc nhìn thực tiễn
TS. Nguyễn Thế Kỷ
Trong suốt chặng đường 88 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, báo chí cách mạng Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trên nhiều mặt. Từ Báo Thanh niên - tờ báo cách mạng được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo năm 1925, đến nay, cả nước đã có hơn 800 cơ quan báo chí in, 67 đài phát thanh, truyền hình, hơn 60 báo điện tử và hàng trăm trang thông tin điện tử là cánh tay nối dài của các báo, tạp chí… Hơn bao giờ hết, báo chí cách mạng Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và cả không ít khó khăn, thách thức. Đó là yêu cầu cách mạng, chính quy, chuyên nghiệp, hiện đại; tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, là diễn đàn tin cậy, gần gũi của nhân dân; là quá trình hội tụ truyền thông, tích hợp đa phương tiện, đa loại hình. Báo chí ta hiện nay có diện mạo ra sao; đang phát triển như thế nào; công tác lãnh đạo, quản lý đang đặt ra những yêu cầu gì; có điều gì cần quan tâm, giải quyết? Khá nhiều vấn đề vừa nêu đã được TS. Nguyễn Thế Kỷ, bằng trải nghiệm hàng chục năm ở báo nói, báo hình, báo in, báo điện tử; ở các cương vị quản lý, chỉ đạo công tác báo chí, đã mạnh dạn nghiên cứu, đề xuất cách nhìn, hướng đi, nhiệm vụ, giải pháp trong một số cuốn sách, công trình nghiên cứu mấy năm gần đây. “Báo chí - Dưới góc nhìn thực tiễn” là cuốn sách tuyển chọn các bài viết, công trình nghiên cứu của TS. Nguyễn Thế Kỷ về báo chí và văn hóa. Sách gồm hai phần: - Phần 1: Báo chí - Những góc nhìn. Tác giả cố gắng khắc họa bức tranh toàn cảnh nền báo chí nước nhà; những vấn đề then chốt trong công tác lãnh đạo, quản lý báo chí. Đó là công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống báo chí cả nước; là công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ báo chí trên các mặt: bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp; báo chí với nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, củng cố quốc phòng - an ninh, tăng cường công tác đối ngoại, bảo vệ chủ quyền, biển đảo của Tổ quốc… - Phần 2: Những câu chuyện văn hóa. Là những ghi chép, những cảm xúc chân thành, đằm thắm về đất nước, về con người, về những vùng đất mà tác giả đã đi, đã viết, đã lắng thành những kỷ niệm khó quên. Tác giả có những trang viết sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, về Đảng quang vinh, dân tộc anh hùng, nhân dân dũng cảm, bạn bè quốc tế thủy chung, son sắt. Nổi rõ trong đó là quê hương xứ Nghệ, là dải đất miền Trung trữ tình, gian khó, đang vươn về phía trước.
4248 lượt xem
Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụng nhằm hiểu rõ Điểm mạnh ( Strengths), Điểm yếu ( Weaknesses), Cơ hội ( Opportunities) và Nguy cơ ( Threats) trong phân tích kinh doanh của một doanh nghiệp. Thông qua phân tích SWOT, doanh nghiệp sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Trong quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, hiệu quả cao giúp bạn có cái nhìn tổng thể không chỉ về chính doanh nghiệp của mình mà còn thấy được những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp bạn. • Điểm mạnh là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tích cực hoặc có lợi giúp bạn đạt được mục tiêu. • Điểm yếu là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. • Cơ hội là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp lợi đạt được mục tiêu. • Nguy cơ là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. Có thể thấy, mục đích của phân tích SWOT là nhằm xác định thế mạnh mà bạn đang nắm giữ cũng như những điểm hạn chế cần phải khắc phục. Nói cách khác, SWOT chỉ ra cho bạn đâu là nơi để bạn tấn công và đâu là nơi bạn cần phòng thủ. Cuối cùng, kết quả SWOT cần phải được áp dụng một cách hợp lý trong việc đề ra một Kế hoạch hành động (Action plan) thông minh và hiệu quả. Thấy rõ tầm quan trọng của SWOT, trường Đào tạo Doanh nhân PTI, nơi đào tạo hàng nghìn nhà lãnh đạo cấp cao và cấp trung, đã tổ chức biên soạn cuốn sách “Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh”. Hy vọng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể hiểu rõ SWOT để vận dụng thành công vào mô hình kinh doanh của doanh nghiệp mình.
5823 lượt xem
Luật Xuất bản 2012
Bộ Thông tin và Truyền thông
Luật này quy định về tổ chức và hoạt động xuất bản; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất bản. Hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm. Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam có liên quan đến hoạt động xuất bản.
1744 lượt xem
Thông tấn báo chí - Lý thuyết và kỹ năng
TS. Nguyễn Thành Lợi
Các bạn đang có trong tay cuốn“Thông tấn báo chí - Lý thuyết và kỹ năng”. Đây là một trong số không nhiều cuốn sách viết về chủ đề này. Thông tấn báo chí là một môn học quan trọng trong chương trình đào tạo ngành thông tin đối ngoại của Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động, sát với nội dung, các tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý thuyết về thông tấn báo chí, làm rõ khái niệm, đặc điểm, kết cấu các thể loại tác phẩm báo chí cơ bản như: Tin, phỏng vấn, bài thông tấn, phóng sự điều tra. Đồng thời, chỉ ra các phương pháp cơ bản, những bài tập thực hành để rèn luyện kỹ năng viết các thể loại tác phẩm này. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là học viên, sinh viên, những người đang có mong muốn bước vào nghề làm báo, muốn được rèn luyện, nâng cao kỹ năng viết các thể loại tác phẩm báo chí. Các tác giả cũng đã công phu lựa chọn, tập hợp và phân tích những ví dụ tiêu biểu, phù hợp với mục đích, yêu cầu của từng thể loại. Các ví dụ được trích từ nguồn tin đáng tin cậy. Hệ thống các bài tập thực hành với những yêu cầu cụ thể sẽ giúp người học có thể tự rèn luyện kỹ năng viết các thể loại tác phẩm báo chí. Đặc biệt, chủ đề của các ví dụ, bài tập thực hành đều tập trung trong lĩnh vực báo chí đối ngoại và báo chí quốc tế, phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện các nội dung của công tác thông tin đối ngoại. Cuốn sách sẽ là tài liệu hữu ích, phục vụ trực tiếp quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí nói chung, cán bộ thông tin đối ngoại nói riêng. Cuốn sách cũng sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai quan tâm đến những vấn đề lý thuyết về báo chí cũng như muốn được thực hành, nâng cao kỹ năng viết các thể loại tác phẩm báo chí. Trong công tác thông tin đối ngoại hiện nay, báo chí đóng vai trò quan trọng, góp phần cung cấp thông tin, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới và giúp nhân dân ta hiểu rõ hơn về thế giới. Việc biên soạn cuốn sách này chắc chắc sẽ góp phần tích cực trong việc đào tạo, bồi dưỡng những người làm báo đối ngoại, đồng thời cũng sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị to lớn của báo chí trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện của đất nước ta.
4095 lượt xem
Giáo trình giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán hàng
TỔNG CÔNG TY BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Giáo trình Giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán hàng đã được biên soạn, gồm 04 chương, nhằm trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về thị trường; về Marketing; các khái niệm cơ bản về giao tiếp ứng xử và kỹ năng bán hàng; các luận điểm cơ bản trong giao tiếp; những yêu cầu đối với người bán hàng bưu điện, rèn luyện kỹ năng bán hàng bưu điện..
2305 lượt xem