Thư viện
Thông tin di động 5G và lộ trình phát triển lên 6G
TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng

5G (5th Generation) hay được gọi là thế hệ thứ 5 của mạng di động với nhiều cải tiến hơn so với 4G. 5G được thiết kế để tăng tốc độ và khả năng phản hồi nhanh chóng của mạng không dây. 5G được ra đời để kế thừa 4G, nhờ đó mà tốc độ tải xuống nhanh hơn, truyền phát dữ liệu mượt mà hơn. 5G không chỉ cải tiến về tốc độ mà nó sẽ mở ra những ứng dụng hoàn toàn mới và tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong những năm tiếp theo. Ngoài các ứng dụng với con người là trung tâm ngày càng rộng khắp, chẳng hạn thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường, phát luồng video 4k, các mạng 5G còn hỗ trợ các nhu cầu truyền thông các ứng dụng thông tin máy - máy (machine to machine), máy - người (machine to human) để làm cho cuộc sống của chúng ta an toàn và tiện lợi hơn.
Mặc dù các hệ thống truyền thông 5G sẽ cung cấp các cải thiện đáng kể so với các hệ thống trước nó, nhưng chúng không thể thực hiện các yêu cầu của các hệ thống tự động và thông minh tương lai sẽ xuất hiện sau 10 năm nữa. Các mạng 5G sẽ không có đủ dung lượng cho một mạng hoàn toàn tự động và thông minh để cung cấp mọi thứ như là một dịch vụ và trải nghiệm thực tế ảo. Sự phát triển nhanh của các hệ thống tự động đặt trọng tâm vào số liệu có thể vượt quá các khả năng của các hệ thống 5G. Một số thiết bị như các thiết bị thực tế ảo sẽ vượt quá khả năng của sau 5G (B5G: Beyond 5G) vì chúng đòi hỏi tốc độ số liệu tối thiểu 10Gbit/s.
Để khắc phục các hạn chế của 5G nhằm hỗ trợ các yêu cầu mới, cần phát triển một hệ thống không dây thế hệ 6 (6G) với các tính năng hấp dẫn mới. Các động lực chính của 6G sẽ là sự hội tụ của tất cả các tính năng cũ như mật độ mạng cao, thông lượng cao, độ tin cậy cao, tiêu thụ công suất thấp và kết nối số đông. 6G cũng sẽ tiếp tục xu thế của các thế hệ trước như đưa ra các dịch vụ mới cùng với các công nghệ bổ sung mới. Các dịch vụ mới bao gồm AI, các thiết bị đeo thông minh, các thiết bị cấy trên người, giao thông tự động, các thiết bị thực tế ảo, cảm biến và lập bản đồ 3D. Yêu cầu quan trọng nhất đối với các mạng 6G là khả năng xử lý khối lượng lớn số liệu và kết nối tốc độ số liệu cao trên một thiết bị.

8327 lượt xem
Lý thuyết số và Chuyên đề nâng cao
Phạm Đức Hiệp, Lưu Bá Thắng, Trần Thị Hồng Dung, Trần Trung Tình, Đàm Văn Nhỉ
Cuốn sách trình bày những kiến thức cơ bản nhất về Lý thuyết số. Chương 1 tập trung trình bày về chia hết, đồng dư, biểu diễn số, Định lý nhỏ Fermat, Định lý Euler, Định lý Wilson và các Hàm số học cơ bản. Các vấn đề về phương trình đồng dư, phương trình đồng dư bậc hai và hệ phương trình đồng dư được trình bày chi tiết trong chương 2, đặc biệt là Định lý Trung Hoa về dư, ký hiệu Legendre, ký hiệu Jacobi về số chính phương mod p. Chương 3 tập trung trình bày một vài phương trình về nghiệm nguyên cổ điển, chẳng hạn Phương trình Pythagore, Phương trình Pell, Phương trình Mordell. Với mục đích dùng cho đối tượng từ cuối cấp trung học cơ sở tới sinh viên đại học nên sách được trình bày, chứng minh chỉ dùng những kiến thức toán sơ cấp xuyên suốt từ chương 1 đến chương 3. Xen lẫn những chứng minh sơ cấp, sách cũng có những bình luận nếu dùng kiến thức của toán cao cấp, đặc biệt đại số hiện đại. Đặc biệt, Chương 4 dành cho việc giới thiệu một số chuyên đề nâng cao và vần đề lý thuyết số được nhiều nhà toán học quan tâm trong suốt quá trình phát triển. Sau mỗi Mục và Chương đều có nhiều ví dụ tổng hợp kèm theo lời giải chi tiết để giúp các bạn hình thành kỹ năng giải toán số học. Các bài tập cuối mỗi chương không có hướng dẫn giải giúp các bạn ôn luyện kiến thức, tìm kiếm thách thức, rèn luyện tư duy khi giải các bài tập này. Việc đặt các bài tập cuối chương như một sự gợi ý cho việc giải chúng. Hơn nữa việc giải các bài tập giống như việc tập làm các nghiên cứu nhỏ giúp bạn đọc phát triển khả năng tư duy logic, độc lập, sáng tạo rất có ích cho tương lai
4106 lượt xem
IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong
TS. Phạm Anh Dũng

Nội dung sách cung cấp những kiến thức cơ bản về IoT như: kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong và rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của IoT, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong” do TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng (nguyên Trưởng Bộ môn Vô tuyến - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) biên soạn.

Nội dung của cuốn sách gồm 6 chương:
Chương 1. Tổng quan về IoT
Chương 2. Kiến trúc mạng và ngăn xếp giao thức Internet
Chương 3. Kiến trúc và các giao thức IoT
Chương 4. Điện toán đám mây và sương mù cho IoT
Chương 5. IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0
Chương 6. IoT trong các hệ thống 4G LTE và 5G 
Hy vọng, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các trường đại học, các chuyên gia, kỹ sư và bạn đọc quan tâm đến khái niệm, công nghệ và các ứng dụng của IoT.

5349 lượt xem
Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
PGS.TS Nguyễn Văn Dững
Cuốn sách sẽ trang bị những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản, giúp sinh viên tạo lập kiến thức nền tảng và nâng cao kỹ năng về giao tiếp - truyền thông - vận động xã hội trong hoạt động truyền thông và báo chí; tăng cường khả năng hội nhập bình đẳng trong phạm vi khu vực và quốc tế, khả năng hoà nhập vào các nhóm công chúng - xã hội, một yêu cầu rất quan trọng và là một trong những điểm yếu của sinh viên báo chí hiện nay.
8891 lượt xem
Quản lý dự án công nghệ thông tin
ThS Trần Nguyên Hương, CN Lê Hương Giang, Lê Văn Phùng
Trong quyển sách “Kỹ nghệ phần mềm”, Tiến sỹ Roger S. Pressman đã viết: “Quản lý dự án phần mềm là tầng dầu trong tiến trình kỹ nghệ phần mềm. Ta gọi nó là một tầng, thay vì là một bước hay hoạt động, bởi vì nó phủ lên toàn bộ tiến trình phát triển từ đầu đến cuối”. Việc quản lý dự án phần mềm cung cấp những hiểu biết về phạm vi công việc cần làm, những rủi ro phải chịu, các nguồn lực cần tới, nhiệm vụ cần hoàn thành, những cột mốc cần theo dõi, chi phí phải chi tiêu và lịch biểu phải tuân thủ. Quản lý dự án phần mềm rất quan trọng cho sự thành công của dự án nên cả người phụ trách dự án với tất cả các thành viên tham gia dự án phải hiểu cách tiến hành nó, hiểu cách làm việc trong khuôn khổ do dự án lập ra. Trong thực tế, do thiếu được trang bị kiến thức đầy đủ về phương pháp quản lý dự án phần mềm, hay nói rộng ra là dự án công nghệ thông tin, nên nhiều dự án công nghệ thông tin đã không thực sự thành công. Tuy có một vài cuốn sách về quản lý dự án đã được xuất bản, nhưng nhìn chung, sách quản lý dự án chuyên khảo trong từng lĩnh vực hẹp còn quá ít. Do vậy việc thực hành quản lý dự án, nhất là quản lý dự án về công nghệ thông tin còn gặp nhiều lúng túng. Với ý nguyện muốn phục vụ công tác quản lý dự án công nghệ thông tin có hiệu quả hơn, nhóm tác giả, do TS. Lê Văn Phùng làm chủ biên, đã tiến hành biên soạn cuốn sách “ trên cơ sở các tài liệu sưu tập được và từ chính các kinh nghiệm mà các tác giả đã trải qua trong quá trình thực hiện và quản lý dự án công nghệ thông tin ở Việt Nam. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: Chương 1. Dự án và quản lý dự án Chương 2. Lập kế hoạch dự án công nghệ thông tin Chương 3. Các phương tiện phục vụ quản lý dự án Chương 4. Tổ chức triển khai, giám sát và điều chỉnh kế hoạch dự án Chương 5. Quản lý các hoạt động kết thúc dự án Đối tượng phục vụ của cuốn sách này chủ yếu là cho những người làm công nghệ thông tin, cho tất cả các bạn yêu thích, muốn thực hành về quản lý dự án. Chúng tôi hy vọng cuốn sách còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng nghiệp trong giảng dạy, nghiên cứu trên các lĩnh vực có liên quan đến khoa học quản lý. Nội dung cuốn sách này đặc biệt thích hợp với sinh viên cao đẳng, đại học và trên đại học ngành Hệ thống thông tin quản lý trong Công nghệ thông tin.
4701 lượt xem
Các mô hình cơ bản trong phân tích và thiết kế hướng đối tượng
TS. Lê Văn Phùng
Ngày nay cách tiếp cận hướng đối tượng đã ngày càng trở nên phổ biến. Trong các dự án phát triển hệ thống lớn, ngôn ngữ mô hình hóa hợp nhất – UML (Unified Modeling Language) đã được ưu tiên cho quá trình phân tích thiết kế hệ thống, nó được coi là một chuẩn quốc tế được tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO chấp nhận. Việc nắm vững các kiến thức cơ bản về mô hình, quá trình mô hình hóa, các kỹ thuật xây dựng mô hình là những yêu cầu bắt buộc cho bất cứ ai muốn phân tích và thiết kế một hệ thống lớn theo hướng đối tượng. Nhằm giúp sinh viên, nghiên cứu sinh và các lập trình viên có thêm tài liệu về phân tích và thiết kế hệ thống theo hướng đối tượng, TS. Lê Văn Phùng (Viện Công nghệ thông tin - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã biên soạn cuốn sách “Các mô hình cơ bản trong phân tích và thiết kế hướng đối tượng". Nội dung cuốn sách gồm 10 chương: Chương 1: Tổng quan về mô hình hóa phần mềm Chương 2: Các khái niệm cơ bản trong phân tích và thiết kế hướng đối tượng Chương 3: Yêu cầu hệ thống và mô hình nghiệp vụ Chương 4: Mô hình phân tích đối tượng Chương 5: Các mô hình phân tích động thái Chương 6: Các mô hình thiết kế tương tác Chương 7: Mô hình kiến trúc logic Chương 8: Mô hình kiến trúc vật lý Chương 9: Mô hình phân tích và thiết kế một ca sử dụng Chương 10: Mô hình thiết kế đối tượng Hy vọng các bạn đọc yêu công nghệ thông tin, ham mê phân tích thiết kế một hệ thống thông tin, giảng viên, sinh viên đại học, cao đẳng và học viên cao học chuyên ngành công nghệ phần mềm hoặc hệ thống thông tin sẽ tìm thấy những kiến thức mới mẻ trong cuốn sách này.
4212 lượt xem
Khoa học quản lý
PGS.TS. Nguyễn Địch, TS Trần Thị Tuyết, TS. Lê Văn Phùng
Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đặt ra. Công tác quản lý là một công tác khoa học, nhà quản lý là một nhà khoa học và đây là một môn khoa học cực kỳ linh hoạt, cực kỳ sáng tạo. Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế mở phải hòa nhập với bên ngoài đòi hỏi cung cách quản lý rất khác với quản lý nền kinh tế tự cấp tự túc. Quản lý phải trở thành công cụ phát triển đất nước, đời sống người dân phải được cải thiện, chính trị ổn định, an ninh bảo đảm, vị thế quốc gia nâng cao, tiếp cận ngày càng sâu vào văn minh, dân chủ và công bằng… Khi quản lý không mang tính khoa học, bị coi nhẹ thì quản lý dễ thành trở lực cản của phát triển, thậm chí mang tính phá hoại. Khoa học quản lý là môn khoa học phát triển nhanh cả về cơ sở lý thuyết và cơ sở kỹ thuật- công nghệ. Đây là môn khoa học mang tính ứng dụng cao, và tính liên ngành. Cuốn sách “Khoa học quản lý” do TS. Lê Văn Phùng (Chủ biên), PGS.TS. Nguyễn Địch và TS. Trần Thị Tuyết đã dày công biên soạn, sẽ giúp cho bạn đọc nắm vững các nguyên tắc, phương pháp cũng như các hoạt động của khoa học quản lý, từ đó dễ dàng tiếp cận được với hệ thống quản lý hiện đại Nội dung cuốn sách gồm 6 chương: Chương 1: Tổng quan về Khoa học quản lý Chương 2: Nguyên tắc và phương pháp quản lý Chương 3: Các hoạt động quản lý Chương 4: Thông tin, lãnh đạo và quản lý Chương 5: Khoa học quản lý tầm vĩ mô Chương 6: Hệ thống hỗ trợ ra quyết định Cuốn sách này không chỉ dành cho các nhà lãnh đạo, nhà quản lý, các doanh nhân, mà còn đặc biệt hữu ích với sinh viên cao đẳng, đại học và trên đại học ngành Hệ thống thông tin quản lý trong Công nghệ thông tin, cũng như các nhà nghiên cứu, giảng dạy trong lĩnh vực quản lý .
2083 lượt xem
Giáo trình Nhập môn trí tuệ nhân tạo
PGS.TS Từ Minh Phương
Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực của khoa học máy tính với mục tiêu nghiên cứu xây dựng và ứng dụng các hệ thống thông minh nhân tạo. Đây là một trong những lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất của khoa học máy tính hiện nay với nhiều kết quả ứng dụng rộng rãi. Nhập môn trí tuệ nhân tạo là môn học mang tính chuyên ngành trong chương trình đào tạo công nghệ thông tin hệ đại học. Mục tiêu của môn học nhằm giúp sinh viên làm quen với khái niệm trí tuệ nhân tạo thông qua việc giới thiệu một số kỹ thuật là ứng dụng cụ thể. Với việc học về trí tuệ nhân tạo, một mặt, sinh viên sẽ được làm quen với những phương pháp, cách giải quyết vấn đề không thuộc lĩnh vực toán lời rạc hoặc giải thuật truyền thống, chẳng hạn các phương pháp dựa trên heuristics, các phương pháp dựa trên tri thức, dữ liệu. Mặt khác, sinh viên sẽ được làm quen với khả năng ứng dụng tiềm tàng các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong nhiều bài toán thực tế. Do trí tuệ nhân tạo hiện đã phát triển với khá nhiều lĩnh vực chuyên sâu nên việc lựa chọn các nội dung để giới thiệu cho sinh viên là vấn đề không đơn giản. Trong cuốn sách này, các nội dung được lựa chọn hoặc là những nội dung có tính tiêu biểu, kinh điển của trí tuệ nhân tạo như biểu diễn tri thức bằng logic, các phương pháp tìm kiếm, hoặc là những kỹ thuật có nhiều ứng dụng và đang có tính thời sự hiện nay, tiêu biểu là phương pháp suy diễn xác suất và các kỹ thuật học máy. Trong khuôn khổ có hạn của cuốn sách với tính chất là giáo trình, phần giới thiệu về việc sử dụng kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong ứng dụng cụ thể không được trình bày nhiều. Chúng tôi dành phần lựa chọn ứng dụng cụ thể cho giảng viên trong quá trình lên lớp và hướng dẫn sinh viên. Tùy điều kiện, giảng viên có thể lựa chọn trong danh mục ứng dụng rất phong phú để giới thiệu và minh họa cho các nội dung của cuốn sách. Nội dung cuốn sách được trình bày thành 5 chương: Chương 1. Giới thiệu chung về trí tuệ nhân tạo: là phần giới thiệu tổng quan về trí tuệ nhân tạo bao gồm khái niệm, lịch sử hình thành, sơ lược về những kỹ thuật và ứng dụng tiêu biểu. Nội dung chương không đi quá sâu vào việc định nghĩa chính xác trí tuệ nhân tạo là gì, thay vào đó, người đọc được giới thiệu về những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu và lịch sử phát triển, trước khi làm quen với nội dung cụ thể trong các chương sau. Chương 2. Giải quyết vấn đề bằng tìm kiếm: trình bày cách giải quyết vấn đề bằng phương pháp tìm kiếm. Các phương pháp tìm kiếm bao gồm: tìm kiếm không có thông tin (tìm kiếm mù), tìm kiếm có thông tin, và tìm kiếm cục bộ. Khác với một số tài liệu khác về trí tuệ nhân tạo, nội dung về tìm kiếm có đối thủ không được đề cập đến trong tài liệu này. Một số nội dung như giải thuật di truyền có thể bỏ qua trong phần nhập môn và dùng để tham khảo do tương đối phức tạp so với các kỹ thuật khác. Chương 3. Biểu diễn tri thức và lập luận logic: tóm tắt về vấn đề sử dụng, biểu diễn tri thức và lập luận, trước khi đi sâu trình bày về biểu diễn tri thức và lập luận sử dụng logic. Trong hai hệ thống logic được trình bày là logic mệnh đề và logic vị từ, nội dung chương được dành nhiều hơn cho logic vị từ. Do nội dung về lập trình logic hiện không còn ứng dụng nhiều, chúng tôi không giới thiệu về vấn đề lập trình và xây dựng ứng dụng cụ thể ở đây. Chương 4. Lập luận xác suất: là mở rộng của biểu diễn tri thức và lập luận với việc sử dụng nguyên tắc suy diễn xác suất và mạng Bayes. Sau khi trình bày về sự cần thiết của lập luận trong điều kiện không rõ ràng cùng với nguyên tắc lập luận xác suất, phần chính của chương tập trung vào khái niệm cùng với ứng dụng mạng Bayes trong biểu diễn tri thức và lập luận. Chương 5. Học máy: là chương nhập môn về học máy. Trong chương này, người đọc được làm quen với khái niệm, nguyên tắc và ứng dụng của học máy. Trong phạm vi chương cũng trình bày bốn kỹ thuật học máy dùng cho phân loại là cây quyết định, phân loại Bayes, phân loại dựa trên ví dụ và hồi quy logistic, cùng với một số kỹ thuật đánh giá mô hình và lựa chọn đặc trưng. Đây là những phương pháp đơn giản, dễ giới thiệu, thuận tiện để trình bày với tính chất nhập môn. Đồng thời, đây cũng là những phương pháp có tính đại diện trong học máy, cần thiết cho người nghiên cứu về lĩnh vực này. Do ưu điểm và sự phổ biến của Support Vector Machines, phương pháp phân loại này cũng được giới thiệu, nhưng ở mức tóm tắt, không đi vào chi tiết để phù hợp với trình độ nhập môn. Cuốn sách được biên soạn từ kinh nghiệm giảng dạy học phần Nhập môn trí tuệ nhân tạo của tác giả tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, trên cơ sở tiếp thu phản hồi từ đồng nghiệp và sinh viên. Cuốn sách có thể sử dụng làm tài liệu học tập cho sinh viên đại học ngành công nghệ thông tin và các ngành liên quan, ngoài ra có thể sử dụng với mục đích tham khảo cho những người quan tâm tới trí tuệ nhân tạo.
5726 lượt xem
Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
TS. Nguyễn Thành Lợi
Sự ra đời các phương tiện truyền thông mới đã và đang tác động sâu sắc đến “bữa tiệc thông tin” của công chúng hiện đại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự “sinh tồn” của các phương tiện truyền thông truyền thống, đặt ra cho các tòa soạn và nhà báo những thách thức chưa từng có. Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ kỹ thuật số, Internet đã và đang tác động sâu sắc, đa dạng, phong phú đến “món ăn” tinh thần hàng ngày của công chúng truyền thông hiện đại. Đặc biệt, với sự ra đời của các thiết bị di động, những màn hình tương tác trở thành phương tiện truyền thông thông minh để mỗi giây, cư dân mạng có thể tải và chia sẻ hàng tỉ byte thông tin. Điều đó khiến cuộc va chạm giữa phương tiện truyền thông truyền thống và mới, giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dù thừa nhận hay không, truyền thông xã hội vẫn là một thực thể truyền thông đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống truyền thông hiện đại, tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng, tác động không nhỏ đến ngành báo chí truyền thông thế giới đương đại. Có thể thấy, truyền thông Internet ra đời tạo ra xu hướng hội tụ truyền thông và đa phương tiện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự vận động và phát triển của báo chí truyền thông hiện đại. Vậy, hội tụ truyền thông là gì? Sự xuất hiện của kỷ nguyên truyền thông số đã khiến nghiệp vụ báo chí truyền thông có những thay đổi căn bản. Những thay đổi đó tác động như thế nào đến tiến trình hội tụ truyền thông? Từ tòa soạn đơn loại hình đến đa phương tiện rồi phát triển tới tòa soạn hội tụ là sự phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong bối cảnh chung đó, các tòa soạn báo ở Việt Nam nên sắp xếp và thay đổi mô hình tổ chức như thế nào để thích ứng với xu thế phát triển chung của thế giới hiện đại? Đây là những vấn đề đang được báo giới, học giả cũng như các nhà báo hết sức quan tâm. Có thể khẳng định, sự xuất hiện thời đại truyền thông hội tụ không làm thay đổi bản chất của báo chí, mà báo chí vẫn cần sự phát hiện và khai quật của nhà báo chuyên nghiệp, vẫn cần sự gia công trong khâu biên tập và khâu xuất bản, vẫn phải thông qua phương tiện truyền thông để đưa sản phẩm báo chí tới công chúng. Và sự thay đổi của nó là tốc độ truyền phát thông tin và phương thức tiếp nhận thông tin. Nắm vững các kỹ năng làm báo hiện đại vẫn là yêu cầu quan trọng nhất của người làm báo trong môi trường truyền thông hiện nay. Trong môi trường hội tụ truyền thông, những nghiên cứu về sự thay đổi và bất biến của nghiệp vụ báo chí truyền thông ở nước ta vẫn còn khá ít ỏi. Cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi giới thiệu với độc giả những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm - nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyền thông. Tác giả đã giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới, tác giả đã làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, phóng viên, biên tập viên và những người muốn nghiên cứu lĩnh vực này. Tìm tòi, trình bày và giải thích là mục đích của tác giả viết cuốn sách này, khi tiếp xúc với những vấn đề mà nhà nghiên cứu cảm thấy xa lạ, hoặc khi bản thân vấn đề đó còn khá mới mẻ, người nghiên cứu sẽ phải có những nhận thức sơ bộ đối với đề tài. Sau khi những nhận thức dần được hình thành, hoạt động nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở khâu miêu tả và đánh giá lý thuyết của nước ngoài, mà cần có sự áp dụng sâu hơn vào thực tiễn đào tạo và làm báo của nước nhà. Nghiên cứu khoa học bắt nguồn từ quan sát, nhưng cuối cùng phải giải thích về sự vật mình quan sát được, cần áp dụng phương pháp nào đó để giải thích, ví dụ phương pháp xã hội học, phương pháp tâm lý học truyền thông. Góc độ phân tích phương pháp nghiên cứu của mỗi người mỗi khác mới cho ra đời những quan điểm mới mẻ, có tác dụng gợi mở cho độc giả và ngành khoa học. Công trình nghiên cứu của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi đã đưa ra những vấn đề mới mang tính gợi mở cho các cuộc thảo luận tiếp theo của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và độc giả trong nước. Đây là hướng đi khá mới mẻ, cũng là một sự thử nghiệm rất đáng quý.
7513 lượt xem
Hướng dẫn sử dụng các dịch vụ bưu chính
TS. Trần Thị Thập
Bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin là những lĩnh vực thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. Trong thời đại bùng nổ các phương tiện truyền thông hiện đại thì bưu chính vẫn khẳng định vai trò quan trọng và khó có thể thay thế được, đó là kết nối mọi người và phát triển thương mại thông qua việc chuyển phát vật lý những tài liệu và hàng hóa từ người gửi đến người nhận. Tại Việt Nam, khá nhiều người không biết hết những dịch vụ tiện ích cho cuộc sống mà bưu chính có thể cung cấp, cũng như không hiểu đầy đủ các qui định khi tham gia sử dụng dịch vụ nên khá nhiều trường hợp đáng tiếc đã xảy ra. Nhiều người đã mất tiền hoặc đồ vật quí, thậm chí cả các tài liệu quí do không biết lựa chọn dịch vụ phù hợp… Hướng dẫn sử dụng các dịch vụ bưu chính là cuốn sách cẩm nang cho mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp khi tham gia sử dụng dịch vụ bưu chính. Sách do TS.Trần Thị Thập - Học viện công nghệ Bưu chính Viễn thông biên soạn. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan về dịch vụ bưu chính; Chương 2: Quy định pháp luật đối với doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính và người sử dụng dịch vụ bưu chính; Chương 3: Giới thiệu một số dịch vụ bưu chính điển hình; Chương 4: Hướng dẫn sử dụng dịch vụ bưu chính; Chương 5: Giới thiệu về tem bưu chính và mã địa chỉ bưu chính. Phần phụ lục là danh mục mã địa chỉ bưu chính của các tỉnh trong cả nước để bạn đọc tiện tham khảo.
7114 lượt xem
Sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh Việt Nam thực thi các FTA và cộng đồng kinh tế ASEAN
Nguyễn Thị Thùy Dung, Phùng Thị Lan Phương, TS. Nguyễn Thị Thu Trang
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang ngày càng đi vào chiều sâu, đặc biệt với việc đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng với nhiều đối tác thương mại lớn và tuyên bố hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015. Với các FTA và AEC này, nền kinh tế của Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn khi phải mở rộng cánh cửa cho hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, thông qua việc cắt giảm, loại bỏ thuế quan, đặc biệt từ sau năm 2015. Trên thực tế, ngay cả với những cam kết mở cửa đã có, cánh cửa vào thị trường Việt Nam đã được mở ra khá rộng cho hàng hóa nước ngoài nhập khẩu. Cùng với đó cũng xuất hiện những dấu hiệu của hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nước ngoài tại thị trường Việt Nam. Không ít hàng hóa nhập khẩu đã được bán với giá thấp kỷ lục, thậm chí được cho là giá “hủy diệt”. Những hiện tượng này đã và đang gây ra những thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp Việt Nam và trong lâu dài có thể ảnh hưởng tới triển vọng phát triển của các ngành sản xuất trong nước. Trong khi các nước khác trên thế giới từ lâu đã biết tới các công cụ phòng vệ thương mại (PVTM) - chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và sử dụng hiệu quả để bảo vệ các doanh nghiệp của mình khỏi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu; thì ở Việt Nam các công cụ này dường như vẫn còn bị bỏ ngỏ (với chỉ 5 vụ tính tới tháng 12/2015). Vì vậy, Trung tâm WTO và Hội nhập (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) phối hợp với NXB Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “Sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh Việt Nam thực thi các FTA và cộng đồng kinh tế ASEAN” nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các biện pháp PVTM ở Việt Nam. Đây sẽ là cơ sở để triển khai những hoạt động cụ thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu tận dụng hiệu quả các công cụ hợp pháp này trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng trong thời gian tới. Cuốn sách gồm các nội dung chính sau: - Xây dựng bức tranh tổng quan tình hình và hiệu quả sử dụng các công cụ PVTM của doanh nghiệp Việt Nam từ trước tới nay; - Đánh giá thực chất về nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh của hàng nhập khẩu từ các FTA hiện đang đàm phán và AEC tại thị trường Việt Nam trong thời gian tới; - Xác định đầy đủ các hạn chế và nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng các công cụ này chưa hiệu quả; - Đề xuất các giải pháp cụ thể, hợp lý và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các công cụ PVTM cho doanh nghiệp Việt Nam.
1579 lượt xem
Nghiệp vụ đấu thầu
Đào Thị Thu Trang, Nguyễn Quang Duệ
“Mua - bán” là hoạt động quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường ở bất kỳ quốc gia nào. Để một nền kinh tế có thể tồn tại lâu dài, cạnh tranh trong mua – bán buộc phải được đặt trong môi trường công khai, minh bạch và được tiêu chuẩn hóa. Trong tất cả các hình thức mua - bán trên thị trường, hoạt động đấu thầu là một hoạt động mua bán phức tạp đòi hỏi phải được thực hiện thông qua một quy trình do một Chính phủ hoặc một tổ chức quy định. Vì vậy hoạt động đấu thầu đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho cạnh tranh hiện nay và thể hiện được vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Ở Việt Nam hiện nay, không chỉ các dự án kinh tế có sử dụng vốn ngân sách Nhà nước được quy định phải thực hiện đấu thầu mà các chủ đầu tư tư nhân cũng luôn coi đấu thầu là hình thức lựa chọn đối tác cung cấp hiệu quả, khiến cho hoạt động đấu thầu trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Hoạt động đấu thầu không chỉ được tổ chức ở phạm vi trong nước mà còn ở phạm vi quốc tế. Hoạt động đấu thầu ngày càng trở nên quan trọng, đòi hỏi những người tham gia phải có lượng kiến thức nhất định về đấu thầu để không phải lúng túng hoặc mắc sai phạm trong khi thực hiện. Những sai phạm trong hoạt động đấu thầu dù là vô tình hay hữu ý đều có thể gây ra những tổn thất lớn cho nền kinh tế. Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề xoay quanh hoạt động đấu thầu là hết sức cần thiết cho tất cả những ai tham gia vào hoạt động mua - bán của thị trường. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của hoạt động đấu thầu, sau nhiều năm làm việc ở lĩnh vực quản lý kinh tế và giảng dạy ở một số trường đại học, TS.Nguyễn Quang Duệ đã chủ biên tổ chức biên soạn cuốn sách “Nghiệp vụ Đấu thầu”. Nội dung cuốn sách gồm 7 chương, Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về đấu thầu;Chương 2: Chuẩn bị đấu thầu;Chương 3: Tổ chức đấu thầu;Chương 4: Đánh giá và phê duyệt hồ sơ dự thầu; Chương 5: Kết thúc đấu thầu;Chương 6: Tổ chức các hình thức đấu thầu;Chương 7: Quản lý hoạt động đấu thầu. Đây là cuốn sách chuyên khảo cả về lý thuyết và thực hành trong lĩnh vực đấu thầu nói riêng và quản trị kinh doanh nói chung. Đặc biệt, cuốn sách đã tiếp cận các vấn đề về đấu thầu và quản lý hoạt động đấu thầu gắn với yêu cầu của thị trường và bối cảnh thực tiễn ở Việt Nam. Cuốn sách được biên soạn dựa trên hệ thống luật pháp hiện hành quy định các vấn đề liên quan đến hoạt động đấu thầu. Nghiệp vụ Đấu thầu không chỉ đáp ứng nhu cầu giảng dạy, nghiên cứu, học tập cho các trường đại học mà còn là tài liệu quí cho các nhà quản lý doanh nghiệp và những người trực tiếp tham gia các hoạt động đấu thầu.
3992 lượt xem
Giáo trình Mạng và Truyền dữ liệu
TS. Nguyễn Ngọc Cương, TS. Phạm Ngọc Lãng
Cuốn sách “Giáo trình Mạng và Truyền dữ liệu” do TS. Nguyễn Ngọc Cương và TS. Phạm Ngọc Lãng biên soạn. Nội dung cuốn sách gồm 8 chương: Chương 1. Khái niệm cơ bản về mạng máy tính Chương 2. Kiến trúc mạng và mô hình kết nối các hệ thống mở OSI Chương 3. Công nghệ mạng cục bộ - LAN Chương 4. Mạng Internet và công nghệ TCP/IP Chương 5. Kết nối liên mạng với TCP/IP Chương 6. Công nghệ mạng không dây và hệ thống thông tin di động Chương 7. Các công nghệ phát triển ứng dụng phân tán Chương 8. Quản lý mạng và vấn đề an ninh mạng Mạng và truyền dữ liệu là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo cho học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Công nghệ thông tin, Điện tử viễn thông. Vì vậy, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo thật sự hữu ích cho các học viên, kỹ sư, kỹ thuật viên nghiên cứu và làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
3236 lượt xem
Giáo trình mật mã học và hệ thống thông tin an toàn (Cryptography and Secure Information System)
TS. Thái Thanh Tùng
Với sự bùng nổ của Công nghệ thông tin vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, nhân loại đang bước vào một thời đại mới: Thời đại của nền kinh tế thông tin toàn cầu hóa. Mọi hoạt động xã hội, chính trị, kinh tế trong thời đại mới hiện nay xét cho cùng, thực chất đều là những hoạt động thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin. Trong bối cảnh đó An toàn và Bảo mật thông tin luôn là mối quan tâm hàng đầu trong mọi giao dịch xã hội, đặc biệt là giao dịch điện tử trên môi trường Internet, một môi trường mở, môi trường không được tin cậy. TS. Thái Thanh Tùng dựa trên kinh nghiệm bản thân trong quá trình nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tế trong lĩnh vực an ninh mạng máy tính và bảo mật thông tin, đã tập hợp một số tài liệu cơ sở xuất bản trên thế giới trong những năm gần đây, đồng thời cập nhật những thành tựu mới nhất trong lĩnh vực nói trên để xây dựng nên cuốn sách này. Cuốn sách được trình bày hợp lý với nội dung khá hoàn chỉnh, không những giúp cho người bắt đầu làm quen dễ tiếp thu những kiến thức cơ bản nhất của một lĩnh vực chuyên môn khó mà còn gợi mở những hướng ứng dụng thực tế phong phú cho những người muốn nghiên cứu sâu hơn. Những phụ lục được sưu tầm chọn lọc đưa ra trong phần cuối cuốn sách có ý nghĩa bổ sung cho các phần trình bày chính và cũng là một sự hỗ trợ rất tốt về nguồn tư liệu cho những người muốn đi sâu nghiên cứu. Giáo trình Mật mã học và Hệ thống thông tin an toàn của tác giả Thái Thanh Tùng đã được Ban Công nghệ Viện Nghiên cứu và phát triển Tin học ứng dụng (AIRDI) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu và Hội đồng tư vấn ngành Công nghệ thông tin Viện Đại học Mở Hà Nội đã chấp nhận sử dụng làm giáo trình chính thức để giảng dạy học phần An ninh và Bảo mật thông tin trong chương trình đào tạo Kỹ sư Công nghệ thông tin cũng như Khoa Quốc tế Đại học Quốc gia Hà Nội sử dụng trong chương trình đào tạo Cao học Quản lý Thông tin liên kết với Đại học Lunghwa - Đài Loan.
1928 lượt xem
Chuyện đời làm báo
Minh Đức
Khi Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam, máy bay Mỹ ném bom, bắn phá các cơ sở kinh tế, các khu dân cư khiến tất cả các trường học ở Hà Nội và ở các thành phố lớn phải sơ tán về nông thôn. Cũng giống như các bạn cùng trang lứa, tôi đã phải một mình về làng Đại Từ - huyện Thanh Trì - Hà Nội để tiếp tục được đi học. Người dân vùng nông thôn đã mở vòng tay đón và cho chúng tôi ở nhờ ngay trong nhà họ. Một lần tôi được nhà báo có bút danh là “Bút Thép” phỏng vấn. Nội dung câu hỏi xoay quanh vấn đề “Cuộc sống ở nông thôn”, tôi đã rất thật thà “tâm sự” cùng ông (theo cách nhìn của một trẻ thơ) về những khó khăn trong đó có cả việc phải dùng nước ao tù làm nước sinh hoạt. “Tâm sự” của tôi được đăng tải trên báo Thiếu niên tiền phong. Thế là một cuộc “búa rìu dư luận” của những người bạn cùng lứa đã “nhắm” vào tôi. Thậm chí có những “cô bạn” đã “chụp mũ” và “quy chụp” tôi thuộc tầng lớp “tiểu tư sản”!!! Nỗi oan xuất phát từ việc “nói thật” - đã để lại ấn tượng khó phai trong tâm trí tôi. Điều nực cười là việc mà nhà báo “Bút Thép” hướng dẫn dư luận chỉ trích tôi thì chỉ hơn 10 năm sau khi Việt Nam thống nhất đã trở thành tiêu chí phấn đấu của nhà nước - phấn đấu để người dân được dùng nước sạch. Nỗi oan này khiến tôi, khi trở thành nhà báo đã định hướng cho mình trong công việc phải có “cái tâm” trong sáng; phải “nói thẳng - nói thật”. Suốt chặng đường làm báo, tôi đã được gặp nhiều người từ những người dân gặp nạn khi quyết tâm chống lại những người “móc túi” nhà nước như kỹ sư Hứa Thúy Lan, như những người dân ở Quảng Ninh bị những người nhân danh các cơ quan công quyền “bớt xén” tiền đền bù khi phải nhường đất để mở rộng quốc lộ 18A và quốc lộ 10 v.v… đến những nhân vật đã trở thành những nhân chứng lịch sử như Đại tá Bùi Tùng, người thảo lời đầu hàng cho Đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống Việt Nam Cộng hòa, trong ngày 30/4/1975; chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thuộc “lực lượng thứ 3” khi miền Nam chưa được giải phóng, 4 chiến sĩ trên chiếc xe tăng 390, chiếc xe đầu tiên đâm đổ cửa Dinh Độc Lập ở Sài Gòn trong ngày 30/4/1975; Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, tác giả của Dinh Độc Lập; rồi viên tướng Gomit, người Xê-nê-gan nhưng có tâm hồn Việt Nam và hát rất hay… Tôi cũng đã thấy, đã biết được những mảng tối của cuộc sống, biết được sự tráo trở của một số người lợi dụng chức quyền hành dân; biết được nỗi khổ của người dân và cũng gặp được những con người chân chính. Như tôi đã phát biểu tại Hội thảo toàn quốc “Trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo trong đấu tranh chống tiêu cực” được tổ chức tại Hà Nội cuối năm 2002: “Những bài chống tiêu cực không chỉ là những bài chứa đựng những con số trái ngược nhau để từ đó tìm ra những khuất tất trong xây dựng cơ bản, trong công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) mà các phóng sự đó phải mang tính nhân văn thông qua việc giải quyết tốt vấn đề đặt ra đối với số phận của những người chống tiêu cực”. Để có được một phóng sự điều tra chống tiêu cực là cả một quá trình khó khăn, vất vả mà chỉ những ai từng tham gia mới ý thức được.
2458 lượt xem
Giáo trình Xác xuất và Thống kê
PGS.TS Lê Bá Long
Giáo trình được biên soạn cho Hệ đại học chuyên ngành Điện tử viễn thông và Công nghệ thông tin, dựa trên nền chương trình khung của Bộ Giáo dục - Đào tạo và theo đề cương chương trình của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông phê duyệt năm 2007, cùng với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm của tác giả theo định hướng ứng dụng cho các ngành kỹ thuật. Nội dung giáo trình gồm 6 chương, tương ứng với 4 đơn vị học trình: Chương 1: Các khái niệm cơ bản về xác suất Chương 2: Biến ngẫu nhiên và các đặc trưng của chúng Chương 3: Véc tơ ngẫu nhiên và các đặc trưng cơ bản của chúng Chương 4: Luật số lớn và định lý giới hạn Chương 5: Thống kê toán học Chương 6: Quá trình ngẫu nhiên và chuỗi Markov. Điều kiện tiên quyết cho môn học xác suất và thống kê là hai môn toán cao cấp đại số và giải tích trong chương trình toán đại cương. Một số giáo trình trình bày lý thuyết xác suất trên cơ sở hệ tiên đề Kolmogorov, trong đó xác suất là một độ đo σ - cộng tính các định trong σ- đại số các biến cố. Với cách xây dựng này, các khái niệm và định lý được trình bày ngắn gọn hơn, mạch lạc hơn, tổng quát hơn. Tuy nhiên vì sự hạn chế về thời gian của chương trình toán dành cho ngành kỹ thuật nên tác giả lựa chọn cách tiếp cận lý thuyết xác suất theo hướng ứng dụng mà không theo hướng hệ tiên đề. Một số khái niệm được hình thành từ các ví dụ cụ thể, nhiều kết quả và định lý chỉ được phát biểu và minh họa chứ không có điều kiện để chứng minh chi tiết. Giáo trình được trình bày phù hợp với người tự học. Trước khi nghiên cứu nội dung chi tiết, bạn đọc nên xem phần giới thiệu của mỗi chương để thấy được mục đích, ý nghĩa, yêu cầu chính của chương đó. Tại mỗi chương, mỗi nội dung bạn đọc có thể tự đọc và hiểu được cặn kẽ thông qua cách diễn đạt và chỉ dẫn rõ ràng. Đặc biệt bạn đọc nên chú ý đến các nhận xét để hiểu sâu hơn hoặc mở rộng tổng quát hơn các kết quả và hướng ứng dụng vào thực tế. Trong giáo trình tác giả đưa vào nhiều ví dụ minh họa trực tiếp cho các khái niệm, định lý hoặc các thuật toán, vì vậy sẽ giúp người đọc dễ dàng hơn khi tiếp thu bài học. Cuối mỗi chương đều có các câu hỏi luyện tập và bài tập. Bộ câu hỏi này bao trùm toàn bộ nội dung trong chương: có những câu kiểm tra trực tiếp các kiến thức vừa được học nhưng cũng có những câu đòi hỏi bạn đọc phải vận dụng một cách tổng hợp và sáng tạo các kiến thức để giải quyết. Vì vậy việc giải các bài tập này giúp bạn đọc nắm chắc hơn lý thuyết và tự kiểm tra được mức độ tiếp thu lý thuyết của mình.
2843 lượt xem