Thư viện
Thông tin di động 5G và lộ trình phát triển lên 6G
TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng

5G (5th Generation) hay được gọi là thế hệ thứ 5 của mạng di động với nhiều cải tiến hơn so với 4G. 5G được thiết kế để tăng tốc độ và khả năng phản hồi nhanh chóng của mạng không dây. 5G được ra đời để kế thừa 4G, nhờ đó mà tốc độ tải xuống nhanh hơn, truyền phát dữ liệu mượt mà hơn. 5G không chỉ cải tiến về tốc độ mà nó sẽ mở ra những ứng dụng hoàn toàn mới và tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong những năm tiếp theo. Ngoài các ứng dụng với con người là trung tâm ngày càng rộng khắp, chẳng hạn thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường, phát luồng video 4k, các mạng 5G còn hỗ trợ các nhu cầu truyền thông các ứng dụng thông tin máy - máy (machine to machine), máy - người (machine to human) để làm cho cuộc sống của chúng ta an toàn và tiện lợi hơn.
Mặc dù các hệ thống truyền thông 5G sẽ cung cấp các cải thiện đáng kể so với các hệ thống trước nó, nhưng chúng không thể thực hiện các yêu cầu của các hệ thống tự động và thông minh tương lai sẽ xuất hiện sau 10 năm nữa. Các mạng 5G sẽ không có đủ dung lượng cho một mạng hoàn toàn tự động và thông minh để cung cấp mọi thứ như là một dịch vụ và trải nghiệm thực tế ảo. Sự phát triển nhanh của các hệ thống tự động đặt trọng tâm vào số liệu có thể vượt quá các khả năng của các hệ thống 5G. Một số thiết bị như các thiết bị thực tế ảo sẽ vượt quá khả năng của sau 5G (B5G: Beyond 5G) vì chúng đòi hỏi tốc độ số liệu tối thiểu 10Gbit/s.
Để khắc phục các hạn chế của 5G nhằm hỗ trợ các yêu cầu mới, cần phát triển một hệ thống không dây thế hệ 6 (6G) với các tính năng hấp dẫn mới. Các động lực chính của 6G sẽ là sự hội tụ của tất cả các tính năng cũ như mật độ mạng cao, thông lượng cao, độ tin cậy cao, tiêu thụ công suất thấp và kết nối số đông. 6G cũng sẽ tiếp tục xu thế của các thế hệ trước như đưa ra các dịch vụ mới cùng với các công nghệ bổ sung mới. Các dịch vụ mới bao gồm AI, các thiết bị đeo thông minh, các thiết bị cấy trên người, giao thông tự động, các thiết bị thực tế ảo, cảm biến và lập bản đồ 3D. Yêu cầu quan trọng nhất đối với các mạng 6G là khả năng xử lý khối lượng lớn số liệu và kết nối tốc độ số liệu cao trên một thiết bị.

8078 lượt xem
Kỹ năng giao tiếp
Nguyễn Thị Anh Đào, ThS. Đoàn Chí Thiện
Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng mềm cực kỳ quan trọng trong thế kỷ 21. Đó là một tập hợp những qui tắc, nghệ thuật, cách ứng xử , đối đáp được đúc rút qua kinh nghiệm thực tế hằng ngày giúp mọi người giao tiếp hiệu quả thuyết phục hơn khi áp dụng thuần thục kỹ năng giao tiếp. Trong những năm gần đây, theo đánh giá của một số doanh nghiệp khi tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp ra trường thường có ý kiến cho rằng: Hạn chế lớn nhất của hầu hết sinh viên chủ yếu trên các mặt thuộc về kỹ năng mềm, mà đặc biệt là kỹ năng giao tiếp. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra lựa chọn kỹ năng giao tiếp như thế nào cho phù hợp với sinh viên bậc giáo dục cao đẳng và đại học để đảm bảo phù hợp với mục tiêu giáo dục đào tạo, nội dung chương trình cũng như phương thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá và đặc biệt là nhu cầu thực tiễn. Nhằm giúp mọi đối tượng nói chung và sinh viên nói riêng nâng cao kỹ năng giao tiếp, Thạc sỹ Đoàn Chí Thiện và Thạc sỹ Nguyễn Thị Anh Đào – Đại học Đà Nẵng biên soạn cuốn sách “Kỹ năng giao tiếp”. Nội dung cuốn sách gồm 5 chương, cụ thể như sau: Chương 1. Khái niệm về kỹ năng giao tiếp Chương 2. Các nguyên tắc khi giao tiếp Chương 3. Các loại hình giao tiếp Chương 4. Tính cách, kỹ năng cần thiết và tư thế trong giao tiếp Chương 5. Mối quan hệ, ứng xử và các kiểu trong giao tiếp Hy vọng rằng, với những hướng dẫn cụ thể mang tính hệ thống hóa sẽ góp phần tạo nên diện mạo mới cho hoạt động kỹ năng giao tiếp, một lĩnh vực còn khá mới mẻ trong giáo dục Việt Nam hiện nay. Việc trang bị các kiến thức kỹ năng giao tiếp sẽ giúp sinh viên có nhiều cơ hội việc làm cũng như phát triển sự nghiệp tốt hơn trong tương lai.
4163 lượt xem
Bộ sách xây dựng kế hoạch marketing hoàn hảo (Dành riêng cho doanh nghiệp Việt Nam) - Tập 2: Lập kế hoạch Marketing
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
Trong bối cảnh thị trường kinh doanh toàn cầu đang có nhiều thay đổi nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn phải xem xét các cơ hội và hiểm họa mà toàn cầu hóa đem lại. Người làm marketing cần có sự tinh nhanh trong nắm bắt thông tin để có thể điều chỉnh phù hợp với tương lai. Một trong những nhân tố tiên quyết tạo nên hiệu quả marketing cho doanh nghiệp đó chính là khâu lập kế hoạch marketing. Kế hoạch marketing là cách sắp xếp cấu trúc để hướng dẫn quá trình quyết định thị trường mục tiêu cho sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp bao gồm thị trường cần gì, muốn gì, sau đó sẽ đáp ứng các nhu cầu và mong muốn đó tốt hơn so với các đối thủ. Về bản chất, việc lập kế hoạch marketing một cách chặt chẽ được tiến hành theo một quy trình 10 bước quy tắc nhưng lô-gic, cho phép doanh nghiệp xác định các vấn đề, câu trả lời, câu hỏi một cách chính xác và ra quyết định. Qui tắc 10 bước được chia thành 4 phần chính như sau: 1. Marketing cơ bản bao gồm các thông tin dựa trên những gì mà kế hoạch marketing sẽ phát triển. 2. Kế hoạch marketing sẽ cung cấp hướng dẫn cho việc thực hiện trên thị trường 3. Việc thực hiện kế hoạch marketing là sự tương tác thực tế với thị trường mục tiêu và có nhiệm vụ tạo ra doanh thu và lợi nhuận như dự kiến 4. Việc đánh giá phương pháp marketing là việc đo mức độ thành công của việc thực hiện kế hoạch trên thực tế và rút ra bài học để có thể kết hợp với nền tảng marketing sẵn có nhằm phục vụ cho sự phát triển cho kế hoạch marketing của năm tới. Đứng trước yêu cầu của thực tế và mong muốn trợ giúp các doanh nghiệp Việt Nam biến ý tưởng thành hành động, Trường Đào tạo Doanh nhân PTI đã biên soạn bộ sách “Xây dựng Kế hoạch Marketing hoàn hảo” nhằm giúp các doanh nghiệp tìm được giải pháp marketing cơ bản mỗi ngày. Bộ sách gồm 03 tập như sau: Tập 1: Nền tảng Marketing (gồm 03 chương): Tập trung đưa ra những phương pháp cơ bản hướng dẫn các doanh nghiệp tiến hành đánh giá hoạt động kinh doanh và các bước chuẩn bị cho việc triển khai đánh giá. Đây là phần đặc biệt quan trọng dành cho mỗi doanh nghiệp trước khi bắt tay vào thực hiện lập kế hoạch. Xuất phát từ những thông tin đánh giá ấy để xác định chính xác những thách thức và cơ hội doanh nghiệp đang đón nhận. Tập 2: Kế hoạch Marketing (gồm 16 chương): Nội dung triển khai hướng dẫn doanh nghiệp tiến hành trình tự tất cả bước trong quy trình lập kế hoạch Marketing từ việc xác định mục tiêu bán hàng, thị trường mục tiêu, mục tiêu marketing, định vị thương hiệu, đến việc đưa ra chiến lược marketing, chiến lược sản phẩm, định giá sản phẩm, phân phối… Tập 3: Thực hiện và Đánh giá: Ngay sau khi doanh nghiệp của bạn đã có kế hoạch marketing hoàn hảo, phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình, bạn sẽ được hướng dẫn thực hiện các bước trong kế hoạch vào thực tiễn kinh doanh. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp của bạn đưa ra được những đánh giá chính xác, khoa học nhất về tác động của kế hoạch marketing. Bộ sách này được đúc kết qua nhiều năm giảng dạy cho hàng nghìn lãnh đạo cấp cao và cấp trung, tư vấn trực tiếp cho hàng trăm doanh nghiệp về chiến lược phát triển và lập kế hoạch marketing, Trường Đào tạo Doanh nhân PTI hy vọng các doanh nghiệp sẽ gặt hái được nhiều thành công trong kinh doanh sau khi biết cách lập kế hoạch markeing một cách hoàn hảo.
1728 lượt xem
Hướng dẫn giải bài tập toán cơ sở và ứng dụng trong phân tích kinh tế
TS. Phùng Duy Quang
Toán cơ sở là môn học bắt buộc dành cho sinh viên các bậc học: hệ cao đẳng, hệ đại học và hệ cao học thuộc tất cả các nhóm ngành kỹ thuật, kinh tế. Để giúp cho sinh viên có tài liệu học tập và đạt hiệu quả cao, tác giả Phùng Duy Quang - Trưởng khoa Cơ bản, Trường Đại học Ngoại thương đã biên soạn cuốn sách “Hướng dẫn giải bài tập Toán cơ sở ứng dụng trong phân tích kinh tế”. Cuốn sách được biên soạn phù hợp với chương trình Toán cơ sở ứng dụng trong phân tích kinh tế được giảng dạy tại trường Đại học Ngoại thương, Đại học kinh tế Quốc dân. Nội dung cuốn sách là tổng hợp các bài tập từ mức độ dễ đến khó, nhằm giúp học viên vận dụng các kiến thức, kỹ năng cũng như các phương pháp Toán cơ sở ứng dụng trong các bài toán phân tích kinh tế. Cuốn sách gồm 4 chương, gồm các bài tập thuộc các nhóm: Chương 1. Định thức và ma trận. Chương 2. Một số mô hình tuyến tính dùng trong phân tích kinh tế. Chương 3. Ứng dụng của phép tính vi phân, tích phân hàm một biến số trong phân tích kinh tế. Chương 4. Ứng dụng của phép tính vi phân hàm nhiều biến số trong phân tích kinh tế. Cuốn sách hướng dẫn giải bài tập được trình bày một cách cụ thể, dễ hiểu. Mỗi chương gồm phần đề bài và phần Hướng dẫn giải bài tập cụ thể hoặc các lời giải gợi ý để sinh viên có thể tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất. Sinh viên các trường đại học hàng đầu Việt Nam như Đại học Ngoại thương, trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội đều sử dụng tài liệu này.
2726 lượt xem
Nguyên lý kế toán
Khoa Kế toán Kiểm toán - ĐH Tài chính Kế toán
Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Với chức năng thông tin và kiểm tra, kế toán có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành hoạt động kinh tế, tài chính; là công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ, có hiệu quả mọi hoạt động kinh tế, tài chính; cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời, công khai, minh bạch nhằm đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý điều hành của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân. Nguyên lý kế toán là môn học bắt buộc thuộc khối kiến thức cơ sở ngành trong chương trình đào tạo ngành kế toán, kiểm toán, tài chính - ngân hàng, quản trị kinh doanh,…Nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Tài chính - Kế toán đã tổ chức biên soạn cuốn sách “Nguyên lý kế toán”. Nội dung sách gồm 8 chương, bao gồm những kiến thức cơ bản về kế toán như: Chức năng, vai trò của kế toán, đối tượng kế toán, phương pháp kế toán, nguyên tắc kế toán... và một số qui định hiện hành của pháp luật về kế toán. Nghiên cứu học phần nguyên lý kế toán là điều kiện tiên quyết cho việc học tập các môn kế toán chuyên ngành cũng như vận dụng vào thực tiễn công tác quản lý kinh tế, tài chính với các mục đích khác nhau. Hy vọng cuốn sách sẽ đáp ứng yếu cầu giảng dạy và học tập của các trường đại học có chuyên ngành kế toán, kiểm toán...
4218 lượt xem
Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
TS. Nguyễn Thành Lợi
Sự ra đời các phương tiện truyền thông mới đã và đang tác động sâu sắc đến “bữa tiệc thông tin” của công chúng hiện đại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự “sinh tồn” của các phương tiện truyền thông truyền thống, đặt ra cho các tòa soạn và nhà báo những thách thức chưa từng có. Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ kỹ thuật số, Internet đã và đang tác động sâu sắc, đa dạng, phong phú đến “món ăn” tinh thần hàng ngày của công chúng truyền thông hiện đại. Đặc biệt, với sự ra đời của các thiết bị di động, những màn hình tương tác trở thành phương tiện truyền thông thông minh để mỗi giây, cư dân mạng có thể tải và chia sẻ hàng tỉ byte thông tin. Điều đó khiến cuộc va chạm giữa phương tiện truyền thông truyền thống và mới, giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dù thừa nhận hay không, truyền thông xã hội vẫn là một thực thể truyền thông đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống truyền thông hiện đại, tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng, tác động không nhỏ đến ngành báo chí truyền thông thế giới đương đại. Có thể thấy, truyền thông Internet ra đời tạo ra xu hướng hội tụ truyền thông và đa phương tiện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự vận động và phát triển của báo chí truyền thông hiện đại. Vậy, hội tụ truyền thông là gì? Sự xuất hiện của kỷ nguyên truyền thông số đã khiến nghiệp vụ báo chí truyền thông có những thay đổi căn bản. Những thay đổi đó tác động như thế nào đến tiến trình hội tụ truyền thông? Từ tòa soạn đơn loại hình đến đa phương tiện rồi phát triển tới tòa soạn hội tụ là sự phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong bối cảnh chung đó, các tòa soạn báo ở Việt Nam nên sắp xếp và thay đổi mô hình tổ chức như thế nào để thích ứng với xu thế phát triển chung của thế giới hiện đại? Đây là những vấn đề đang được báo giới, học giả cũng như các nhà báo hết sức quan tâm. Có thể khẳng định, sự xuất hiện thời đại truyền thông hội tụ không làm thay đổi bản chất của báo chí, mà báo chí vẫn cần sự phát hiện và khai quật của nhà báo chuyên nghiệp, vẫn cần sự gia công trong khâu biên tập và khâu xuất bản, vẫn phải thông qua phương tiện truyền thông để đưa sản phẩm báo chí tới công chúng. Và sự thay đổi của nó là tốc độ truyền phát thông tin và phương thức tiếp nhận thông tin. Nắm vững các kỹ năng làm báo hiện đại vẫn là yêu cầu quan trọng nhất của người làm báo trong môi trường truyền thông hiện nay. Trong môi trường hội tụ truyền thông, những nghiên cứu về sự thay đổi và bất biến của nghiệp vụ báo chí truyền thông ở nước ta vẫn còn khá ít ỏi. Cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi giới thiệu với độc giả những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm - nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyền thông. Tác giả đã giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới, tác giả đã làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, phóng viên, biên tập viên và những người muốn nghiên cứu lĩnh vực này. Tìm tòi, trình bày và giải thích là mục đích của tác giả viết cuốn sách này, khi tiếp xúc với những vấn đề mà nhà nghiên cứu cảm thấy xa lạ, hoặc khi bản thân vấn đề đó còn khá mới mẻ, người nghiên cứu sẽ phải có những nhận thức sơ bộ đối với đề tài. Sau khi những nhận thức dần được hình thành, hoạt động nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở khâu miêu tả và đánh giá lý thuyết của nước ngoài, mà cần có sự áp dụng sâu hơn vào thực tiễn đào tạo và làm báo của nước nhà. Nghiên cứu khoa học bắt nguồn từ quan sát, nhưng cuối cùng phải giải thích về sự vật mình quan sát được, cần áp dụng phương pháp nào đó để giải thích, ví dụ phương pháp xã hội học, phương pháp tâm lý học truyền thông. Góc độ phân tích phương pháp nghiên cứu của mỗi người mỗi khác mới cho ra đời những quan điểm mới mẻ, có tác dụng gợi mở cho độc giả và ngành khoa học. Công trình nghiên cứu của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi đã đưa ra những vấn đề mới mang tính gợi mở cho các cuộc thảo luận tiếp theo của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và độc giả trong nước. Đây là hướng đi khá mới mẻ, cũng là một sự thử nghiệm rất đáng quý.
7142 lượt xem
Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài
PGS. TS. Trương Minh Dục
Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi quốc gia. Quá trình đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam dẫu có lúc thăng trầm, những bước thịnh suy, song đã hun đúc nên truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất để gìn giữ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cả ở trên bộ, trên biển và trên không. Điều này đã được khẳng định trong các Tuyên ngôn độc lập: Nam quốc sơn hà (thời Tiền Lê - Lý); Bình Ngô đại cáo thời Hậu Lê; Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992… Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, đã được Nhà nước Việt Nam, các thế hệ người Việt Nam chiếm hữu, bảo vệ, quản lý, khai thác. Điều này, không chỉ được lưu lại trong cổ sử Việt Nam, mà còn được quốc tế thừa nhận trong các tư liệu còn lưu trữ. Trong hơn một thế kỷ qua, các nhà khoa học ở trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu và đã công bố những công trình sưu tập, nghiên cứu khoa học có liên quan đến những tư liệu nằm trong thư tịch, sách, bản đồ cổ… có giá trị pháp lý chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong những năm gần đây, trước tình hình Trung Quốc gia tăng áp lực tranh giành chủ quyền và các quyền, lợi ích trong Biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, nằm trong yêu sách về “đường chữ U đứt đoạn” (“đường lưỡi bò”) mà họ đã đơn phương công bố, dư luận trong nước và dư luận quốc tế đã có những phản ứng mạnh mẽ, nhiều tranh luận học thuật, nhiều công trình nghiên cứu về Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã được công bố. Những nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống tư liệu có giá trị khoa học về lịch sử, pháp lý... để chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách “Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài” của PGS.TS Trương Minh Dục đã tập hợp và hệ thống hóa nguồn thư tịch, tư liệu khá phong phú, cũ và mới, của Việt Nam và nước ngoài, đặc biệt những tư liệu mới sưu tầm ở các địa phương có liên quan đến việc Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã quản lý, bảo vệ và khai thác quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nội dung cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1: Vài nét về địa lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và sự tiếp cận của các tộc người Việt Nam trước thế kỷ XV. Chương 2: Chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam (từ thời Hậu Lê - thế kỷ XV đến năm 1975). Chương 3: Tư liệu nước ngoài trực tiếp và gián tiếp khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Chương 4: Đấu tranh để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa từ sau khi thống nhất đất nước đến nay. Việc tiếp tục phát hiện, sưu tầm và hệ thống hóa những tư liệu, tài liệu, chứng cứ, nhất là những tư liệu chứng minh Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi hai quần đảo này còn là đất vô chủ và đã tiến hành thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình. Rõ ràng, đây là công việc hết sức cần thiết và quan trọng, cần được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và cần có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung. Cuốn sách này sẽ là sự đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện hồ sơ pháp lý của các cơ quan quản lý và các tổ chức nghiên cứu khoa học có liên quan của Việt Nam vì sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông nói chung và tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng.
1974 lượt xem
Cơ sở dữ liệu quan hệ và Ứng dụng
PGS.TS Nguyễn Bá Tường
Ngày nay, sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng có được những dữ liệu chính xác và kịp thời về các hoạt động của doanh nghiệp, để quản lý và phân tích dữ liệu một cách có hiệu quả nhằm đưa ra được chiến lược cho những hoạt động tiếp theo. Vấn đề quản lý và sử dụng thông tin dần trở thành một ngành công nghiệp có doanh số nhiều tỷ đô la. Người ta coi giá trị của dữ liệu như là một thứ tài sản quý giá của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu không có được sự quản lý một cách hữu hiệu đối với lượng dữ liệu ngày càng lớn này, cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu của các câu hỏi tìm kiếm, lượng dữ liệu này sẽ trở nên vô nghĩa. Chính điều này đã thúc đẩy sự cần thiết có được một cơ sở dữ liệu cũng như một hệ quản trị cơ sở dữ liệu hiệu quả và linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác quản lý cũng như tìm kiếm thông tin. Chúng ta có thể định nghĩa cơ sở dữ liệu như là một bộ sưu tập có tổ chức của các dữ liệu liên quan logic với nhau và được các hệ ứng dụng của một tổ chức cụ thể nào đó sử dụng. Cách tiếp cận cơ sở dữ liệu nhấn mạnh đến tính chia sẻ và tích hợp của dữ liệu trong toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận này, dữ liệu được lưu trữ có tổ chức, tập trung dưới dạng một cơ sở dữ liệu và giữa các dữ liệu có sự liên kết logic với nhau. Trong cuốn sách này một lần nữa chúng tôi muốn nêu có hệ thống những vấn đề quan trọng nhất của cơ sở dữ liệu quan hệ. Môt mô hình dữ liệu xuất hiện trong hầu khắp các bài toán quản lý của doanh nghiệp. Cuốn sách gồm bốn chương: Chương 1 nêu một vài khái niệm, ký hiệu toán học sẽ dùng cho các chương sau. Chương 2 là cơ sở dữ liệu quan hệ trình bày các khái niệm như quan hệ, phụ thuộc hàm, khóa, khóa chính, khóa ngoại, dạng chuẩn, ràng buộc toàn vẹn v.v. Đặc biệt trong chương này chúng tôi có đưa thêm các ví dụ ứng dụng cụ thể và các bước thiết kế một cơ sở dữ liệu. Chương 3 giới thiệu những khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết tập thô, một công cụ đắc lực của khai thác dữ liệu, khai phá tri thức đang được những người làm tin học cả thế giới quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu. Việc nghiên cứu và hiểu biết về tập thô thật sự cần thiết trong nghiên cứu về cơ sở dữ liệu. Chương 4 là chương về hệ tin, một trường hợp tổng quát của khái niệm quan hệ. Hệ tin thực chất là một bảng dữ liệu. Việc đưa hệ tin vào lý thuyết cơ sở dữ liệu giúp chúng ta có cách nhìn tổng thể về mô hình dữ liệu quan hệ. Hệ tin giúp chúng ta dễ dàng diễn đạt một số bài toán như thuật toán Quiland, K-Mean, Bayer v.v.
2520 lượt xem
Giáo trình Nhập môn trí tuệ nhân tạo
PGS.TS Từ Minh Phương
Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực của khoa học máy tính với mục tiêu nghiên cứu xây dựng và ứng dụng các hệ thống thông minh nhân tạo. Đây là một trong những lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất của khoa học máy tính hiện nay với nhiều kết quả ứng dụng rộng rãi. Nhập môn trí tuệ nhân tạo là môn học mang tính chuyên ngành trong chương trình đào tạo công nghệ thông tin hệ đại học. Mục tiêu của môn học nhằm giúp sinh viên làm quen với khái niệm trí tuệ nhân tạo thông qua việc giới thiệu một số kỹ thuật là ứng dụng cụ thể. Với việc học về trí tuệ nhân tạo, một mặt, sinh viên sẽ được làm quen với những phương pháp, cách giải quyết vấn đề không thuộc lĩnh vực toán lời rạc hoặc giải thuật truyền thống, chẳng hạn các phương pháp dựa trên heuristics, các phương pháp dựa trên tri thức, dữ liệu. Mặt khác, sinh viên sẽ được làm quen với khả năng ứng dụng tiềm tàng các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong nhiều bài toán thực tế. Do trí tuệ nhân tạo hiện đã phát triển với khá nhiều lĩnh vực chuyên sâu nên việc lựa chọn các nội dung để giới thiệu cho sinh viên là vấn đề không đơn giản. Trong cuốn sách này, các nội dung được lựa chọn hoặc là những nội dung có tính tiêu biểu, kinh điển của trí tuệ nhân tạo như biểu diễn tri thức bằng logic, các phương pháp tìm kiếm, hoặc là những kỹ thuật có nhiều ứng dụng và đang có tính thời sự hiện nay, tiêu biểu là phương pháp suy diễn xác suất và các kỹ thuật học máy. Trong khuôn khổ có hạn của cuốn sách với tính chất là giáo trình, phần giới thiệu về việc sử dụng kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong ứng dụng cụ thể không được trình bày nhiều. Chúng tôi dành phần lựa chọn ứng dụng cụ thể cho giảng viên trong quá trình lên lớp và hướng dẫn sinh viên. Tùy điều kiện, giảng viên có thể lựa chọn trong danh mục ứng dụng rất phong phú để giới thiệu và minh họa cho các nội dung của cuốn sách. Nội dung cuốn sách được trình bày thành 5 chương: Chương 1. Giới thiệu chung về trí tuệ nhân tạo: là phần giới thiệu tổng quan về trí tuệ nhân tạo bao gồm khái niệm, lịch sử hình thành, sơ lược về những kỹ thuật và ứng dụng tiêu biểu. Nội dung chương không đi quá sâu vào việc định nghĩa chính xác trí tuệ nhân tạo là gì, thay vào đó, người đọc được giới thiệu về những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu và lịch sử phát triển, trước khi làm quen với nội dung cụ thể trong các chương sau. Chương 2. Giải quyết vấn đề bằng tìm kiếm: trình bày cách giải quyết vấn đề bằng phương pháp tìm kiếm. Các phương pháp tìm kiếm bao gồm: tìm kiếm không có thông tin (tìm kiếm mù), tìm kiếm có thông tin, và tìm kiếm cục bộ. Khác với một số tài liệu khác về trí tuệ nhân tạo, nội dung về tìm kiếm có đối thủ không được đề cập đến trong tài liệu này. Một số nội dung như giải thuật di truyền có thể bỏ qua trong phần nhập môn và dùng để tham khảo do tương đối phức tạp so với các kỹ thuật khác. Chương 3. Biểu diễn tri thức và lập luận logic: tóm tắt về vấn đề sử dụng, biểu diễn tri thức và lập luận, trước khi đi sâu trình bày về biểu diễn tri thức và lập luận sử dụng logic. Trong hai hệ thống logic được trình bày là logic mệnh đề và logic vị từ, nội dung chương được dành nhiều hơn cho logic vị từ. Do nội dung về lập trình logic hiện không còn ứng dụng nhiều, chúng tôi không giới thiệu về vấn đề lập trình và xây dựng ứng dụng cụ thể ở đây. Chương 4. Lập luận xác suất: là mở rộng của biểu diễn tri thức và lập luận với việc sử dụng nguyên tắc suy diễn xác suất và mạng Bayes. Sau khi trình bày về sự cần thiết của lập luận trong điều kiện không rõ ràng cùng với nguyên tắc lập luận xác suất, phần chính của chương tập trung vào khái niệm cùng với ứng dụng mạng Bayes trong biểu diễn tri thức và lập luận. Chương 5. Học máy: là chương nhập môn về học máy. Trong chương này, người đọc được làm quen với khái niệm, nguyên tắc và ứng dụng của học máy. Trong phạm vi chương cũng trình bày bốn kỹ thuật học máy dùng cho phân loại là cây quyết định, phân loại Bayes, phân loại dựa trên ví dụ và hồi quy logistic, cùng với một số kỹ thuật đánh giá mô hình và lựa chọn đặc trưng. Đây là những phương pháp đơn giản, dễ giới thiệu, thuận tiện để trình bày với tính chất nhập môn. Đồng thời, đây cũng là những phương pháp có tính đại diện trong học máy, cần thiết cho người nghiên cứu về lĩnh vực này. Do ưu điểm và sự phổ biến của Support Vector Machines, phương pháp phân loại này cũng được giới thiệu, nhưng ở mức tóm tắt, không đi vào chi tiết để phù hợp với trình độ nhập môn. Cuốn sách được biên soạn từ kinh nghiệm giảng dạy học phần Nhập môn trí tuệ nhân tạo của tác giả tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, trên cơ sở tiếp thu phản hồi từ đồng nghiệp và sinh viên. Cuốn sách có thể sử dụng làm tài liệu học tập cho sinh viên đại học ngành công nghệ thông tin và các ngành liên quan, ngoài ra có thể sử dụng với mục đích tham khảo cho những người quan tâm tới trí tuệ nhân tạo.
5403 lượt xem
Thông tấn báo chí - Lý thuyết và kỹ năng
TS. Nguyễn Thành Lợi
Các bạn đang có trong tay cuốn“Thông tấn báo chí - Lý thuyết và kỹ năng”. Đây là một trong số không nhiều cuốn sách viết về chủ đề này. Thông tấn báo chí là một môn học quan trọng trong chương trình đào tạo ngành thông tin đối ngoại của Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động, sát với nội dung, các tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý thuyết về thông tấn báo chí, làm rõ khái niệm, đặc điểm, kết cấu các thể loại tác phẩm báo chí cơ bản như: Tin, phỏng vấn, bài thông tấn, phóng sự điều tra. Đồng thời, chỉ ra các phương pháp cơ bản, những bài tập thực hành để rèn luyện kỹ năng viết các thể loại tác phẩm này. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là học viên, sinh viên, những người đang có mong muốn bước vào nghề làm báo, muốn được rèn luyện, nâng cao kỹ năng viết các thể loại tác phẩm báo chí. Các tác giả cũng đã công phu lựa chọn, tập hợp và phân tích những ví dụ tiêu biểu, phù hợp với mục đích, yêu cầu của từng thể loại. Các ví dụ được trích từ nguồn tin đáng tin cậy. Hệ thống các bài tập thực hành với những yêu cầu cụ thể sẽ giúp người học có thể tự rèn luyện kỹ năng viết các thể loại tác phẩm báo chí. Đặc biệt, chủ đề của các ví dụ, bài tập thực hành đều tập trung trong lĩnh vực báo chí đối ngoại và báo chí quốc tế, phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện các nội dung của công tác thông tin đối ngoại. Cuốn sách sẽ là tài liệu hữu ích, phục vụ trực tiếp quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí nói chung, cán bộ thông tin đối ngoại nói riêng. Cuốn sách cũng sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai quan tâm đến những vấn đề lý thuyết về báo chí cũng như muốn được thực hành, nâng cao kỹ năng viết các thể loại tác phẩm báo chí. Trong công tác thông tin đối ngoại hiện nay, báo chí đóng vai trò quan trọng, góp phần cung cấp thông tin, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới và giúp nhân dân ta hiểu rõ hơn về thế giới. Việc biên soạn cuốn sách này chắc chắc sẽ góp phần tích cực trong việc đào tạo, bồi dưỡng những người làm báo đối ngoại, đồng thời cũng sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị to lớn của báo chí trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện của đất nước ta.
4577 lượt xem
Sáng tạo trong thuật toán và lập trình - Tuyển tập các bài toán tin nâng cao cho học sinh và sinh viên giỏi - Tập 1
Nguyễn Xuân Huy
Bộ sách Sáng tạo trong thuật toán và lập trình, gồm 3 tập cung cấp những kiến cơ bản về lập trình trong Pascal và C++ cho các bạn học sinh, sinh viên và những bạn đọc muốn hoàn thiện tri thức trong lĩnh vực giải thuật và lập trình. Các kỹ thuật lập tình được minh họa qua những bài toán cụ thể tương đương với trình độ nâng cao của học sinh và sinh viên.Các kỹ thuật lập trình và phương pháp xây dựng thuật giải cho những bài toán thường được dùng rộng rãi trong quá trình thiết kế và cài đặt các phần mềm ứng dụng trong thực tiễn, Vì vậy việc sớm làm chủ các tri thức này mới thật sự là cần thiết. Ngoài ra, Bộ sách còn cung cấp các chương trình viết bằng ngôn ngữ lập trình Pascal, C# và C++ để bạn đọc tiện so sánh với lời giải của mình. Nội dung Tập 1 gồm 8 chương: Chương 1 trình bày sơ đồ chung để giải một bài toán tin. Các bài tập ở chương này hầu hết thuộc loại dễ giải. Chương 2 giới thiệu các kỹ thuật sinh dữ liệu một cách tự động nhằm phục vụ cho việc kiểm thử (test) chương trình. Chương 3 trình bày các kỹ thuật quản lý bàn phím và màn hình. Chương 4 đề cập đến cách thức tổ chức dữ liệu cho một bài toán tin. Chương 5, 6, 7 giới thiệu ba trong số các phương pháp khá phổ biến thường được vận dụng trong thiết kế thuật giải, đó là phương pháp tham lam, phương pháp quay lui và quy hoạch động. Chương 8 giới thiệu một số bài toán tin để bạn đọc tự tìm phương pháp giải. Đây là bộ sách quý, là công cụ hữu dụng đối với các nhà lập trình viên, các sinh viên công nghệ thông tin đang mơ ước phấn đấu thành các lập trình viên giỏi
2327 lượt xem
Tìm hiểu Luật Công nghệ thông tin và các nghị định hướng dẫn thi hành
Nhà xuất bản thông tin và Truyền thông

Ngày 12/7/2006, Luật Công nghệ thông tin đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật này. Nội dung cuốn sách được trình bày dưới dạng Hỏi - Đáp (99 câu hỏi và trả lời) về các vấn đề quan trọng của Luật Công nghệ thông tin và các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ như: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về quy định chi tiết các nội dung xử phát vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT).

6661 lượt xem
Lý thuyết số và Chuyên đề nâng cao
Phạm Đức Hiệp, Lưu Bá Thắng, Trần Thị Hồng Dung, Trần Trung Tình, Đàm Văn Nhỉ
Cuốn sách trình bày những kiến thức cơ bản nhất về Lý thuyết số. Chương 1 tập trung trình bày về chia hết, đồng dư, biểu diễn số, Định lý nhỏ Fermat, Định lý Euler, Định lý Wilson và các Hàm số học cơ bản. Các vấn đề về phương trình đồng dư, phương trình đồng dư bậc hai và hệ phương trình đồng dư được trình bày chi tiết trong chương 2, đặc biệt là Định lý Trung Hoa về dư, ký hiệu Legendre, ký hiệu Jacobi về số chính phương mod p. Chương 3 tập trung trình bày một vài phương trình về nghiệm nguyên cổ điển, chẳng hạn Phương trình Pythagore, Phương trình Pell, Phương trình Mordell. Với mục đích dùng cho đối tượng từ cuối cấp trung học cơ sở tới sinh viên đại học nên sách được trình bày, chứng minh chỉ dùng những kiến thức toán sơ cấp xuyên suốt từ chương 1 đến chương 3. Xen lẫn những chứng minh sơ cấp, sách cũng có những bình luận nếu dùng kiến thức của toán cao cấp, đặc biệt đại số hiện đại. Đặc biệt, Chương 4 dành cho việc giới thiệu một số chuyên đề nâng cao và vần đề lý thuyết số được nhiều nhà toán học quan tâm trong suốt quá trình phát triển. Sau mỗi Mục và Chương đều có nhiều ví dụ tổng hợp kèm theo lời giải chi tiết để giúp các bạn hình thành kỹ năng giải toán số học. Các bài tập cuối mỗi chương không có hướng dẫn giải giúp các bạn ôn luyện kiến thức, tìm kiếm thách thức, rèn luyện tư duy khi giải các bài tập này. Việc đặt các bài tập cuối chương như một sự gợi ý cho việc giải chúng. Hơn nữa việc giải các bài tập giống như việc tập làm các nghiên cứu nhỏ giúp bạn đọc phát triển khả năng tư duy logic, độc lập, sáng tạo rất có ích cho tương lai
3872 lượt xem
Giáo trình mật mã học và hệ thống thông tin an toàn (Cryptography and Secure Information System)
TS. Thái Thanh Tùng
Với sự bùng nổ của Công nghệ thông tin vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, nhân loại đang bước vào một thời đại mới: Thời đại của nền kinh tế thông tin toàn cầu hóa. Mọi hoạt động xã hội, chính trị, kinh tế trong thời đại mới hiện nay xét cho cùng, thực chất đều là những hoạt động thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin. Trong bối cảnh đó An toàn và Bảo mật thông tin luôn là mối quan tâm hàng đầu trong mọi giao dịch xã hội, đặc biệt là giao dịch điện tử trên môi trường Internet, một môi trường mở, môi trường không được tin cậy. TS. Thái Thanh Tùng dựa trên kinh nghiệm bản thân trong quá trình nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tế trong lĩnh vực an ninh mạng máy tính và bảo mật thông tin, đã tập hợp một số tài liệu cơ sở xuất bản trên thế giới trong những năm gần đây, đồng thời cập nhật những thành tựu mới nhất trong lĩnh vực nói trên để xây dựng nên cuốn sách này. Cuốn sách được trình bày hợp lý với nội dung khá hoàn chỉnh, không những giúp cho người bắt đầu làm quen dễ tiếp thu những kiến thức cơ bản nhất của một lĩnh vực chuyên môn khó mà còn gợi mở những hướng ứng dụng thực tế phong phú cho những người muốn nghiên cứu sâu hơn. Những phụ lục được sưu tầm chọn lọc đưa ra trong phần cuối cuốn sách có ý nghĩa bổ sung cho các phần trình bày chính và cũng là một sự hỗ trợ rất tốt về nguồn tư liệu cho những người muốn đi sâu nghiên cứu. Giáo trình Mật mã học và Hệ thống thông tin an toàn của tác giả Thái Thanh Tùng đã được Ban Công nghệ Viện Nghiên cứu và phát triển Tin học ứng dụng (AIRDI) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu và Hội đồng tư vấn ngành Công nghệ thông tin Viện Đại học Mở Hà Nội đã chấp nhận sử dụng làm giáo trình chính thức để giảng dạy học phần An ninh và Bảo mật thông tin trong chương trình đào tạo Kỹ sư Công nghệ thông tin cũng như Khoa Quốc tế Đại học Quốc gia Hà Nội sử dụng trong chương trình đào tạo Cao học Quản lý Thông tin liên kết với Đại học Lunghwa - Đài Loan.
1782 lượt xem
Chuyện đời làm báo
Minh Đức
Khi Mỹ bắt đầu leo thang chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam, máy bay Mỹ ném bom, bắn phá các cơ sở kinh tế, các khu dân cư khiến tất cả các trường học ở Hà Nội và ở các thành phố lớn phải sơ tán về nông thôn. Cũng giống như các bạn cùng trang lứa, tôi đã phải một mình về làng Đại Từ - huyện Thanh Trì - Hà Nội để tiếp tục được đi học. Người dân vùng nông thôn đã mở vòng tay đón và cho chúng tôi ở nhờ ngay trong nhà họ. Một lần tôi được nhà báo có bút danh là “Bút Thép” phỏng vấn. Nội dung câu hỏi xoay quanh vấn đề “Cuộc sống ở nông thôn”, tôi đã rất thật thà “tâm sự” cùng ông (theo cách nhìn của một trẻ thơ) về những khó khăn trong đó có cả việc phải dùng nước ao tù làm nước sinh hoạt. “Tâm sự” của tôi được đăng tải trên báo Thiếu niên tiền phong. Thế là một cuộc “búa rìu dư luận” của những người bạn cùng lứa đã “nhắm” vào tôi. Thậm chí có những “cô bạn” đã “chụp mũ” và “quy chụp” tôi thuộc tầng lớp “tiểu tư sản”!!! Nỗi oan xuất phát từ việc “nói thật” - đã để lại ấn tượng khó phai trong tâm trí tôi. Điều nực cười là việc mà nhà báo “Bút Thép” hướng dẫn dư luận chỉ trích tôi thì chỉ hơn 10 năm sau khi Việt Nam thống nhất đã trở thành tiêu chí phấn đấu của nhà nước - phấn đấu để người dân được dùng nước sạch. Nỗi oan này khiến tôi, khi trở thành nhà báo đã định hướng cho mình trong công việc phải có “cái tâm” trong sáng; phải “nói thẳng - nói thật”. Suốt chặng đường làm báo, tôi đã được gặp nhiều người từ những người dân gặp nạn khi quyết tâm chống lại những người “móc túi” nhà nước như kỹ sư Hứa Thúy Lan, như những người dân ở Quảng Ninh bị những người nhân danh các cơ quan công quyền “bớt xén” tiền đền bù khi phải nhường đất để mở rộng quốc lộ 18A và quốc lộ 10 v.v… đến những nhân vật đã trở thành những nhân chứng lịch sử như Đại tá Bùi Tùng, người thảo lời đầu hàng cho Đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống Việt Nam Cộng hòa, trong ngày 30/4/1975; chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thuộc “lực lượng thứ 3” khi miền Nam chưa được giải phóng, 4 chiến sĩ trên chiếc xe tăng 390, chiếc xe đầu tiên đâm đổ cửa Dinh Độc Lập ở Sài Gòn trong ngày 30/4/1975; Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, tác giả của Dinh Độc Lập; rồi viên tướng Gomit, người Xê-nê-gan nhưng có tâm hồn Việt Nam và hát rất hay… Tôi cũng đã thấy, đã biết được những mảng tối của cuộc sống, biết được sự tráo trở của một số người lợi dụng chức quyền hành dân; biết được nỗi khổ của người dân và cũng gặp được những con người chân chính. Như tôi đã phát biểu tại Hội thảo toàn quốc “Trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của nhà báo trong đấu tranh chống tiêu cực” được tổ chức tại Hà Nội cuối năm 2002: “Những bài chống tiêu cực không chỉ là những bài chứa đựng những con số trái ngược nhau để từ đó tìm ra những khuất tất trong xây dựng cơ bản, trong công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) mà các phóng sự đó phải mang tính nhân văn thông qua việc giải quyết tốt vấn đề đặt ra đối với số phận của những người chống tiêu cực”. Để có được một phóng sự điều tra chống tiêu cực là cả một quá trình khó khăn, vất vả mà chỉ những ai từng tham gia mới ý thức được.
2388 lượt xem
Phát triển công chúng thị trường báo chí như thế nào?
Nguyễn Thị Bích Yến
Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, việc nghiên cứu công chúng là bộ phận rất quan trọng, mang tính then chốt cho sự tồn tại của một sản phẩm truyền thông. Vì thế, các nước phát triển trên thế giới đã thực hiện công việc này một cách thường xuyên và chuyên nghiệp. Các chuyên gia chú trọng việc nghiên cứu công chúng từ góc độ kinh tế học, báo chí học, xã hội học, về thái độ, hành vi, nhu cầu, điều kiện tiếp cận… của công chúng đối với các sản phẩm truyền thông đại chúng. Đặc biệt, thời đại toàn cầu hoá thông tin đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt trong hoạt động truyền thông nói chung và truyền thông đại chúng nói riêng. Đây chính là lý do quan thiết khiến các nhà nghiên cứu quan tâm hơn đến việc nghiên cứu công chúng báo chí từ góc độ kinh tế hay còn gọi là nghiên cứu công chúng thị trường báo chí. Mặc dù, công chúng truyền thông giữa các quốc gia có sự khác biệt về địa tầng văn hoá xã hội, kinh tế, chính trị... song trong xu thế toàn cầu hóa thông tin đã khiến họ dần không còn “biên giới cứng” trong tiếp nhận thông tin. Vì thế, quan niệm về công chúng truyền thông, công chúng thị trường báo chí giữa các nước phát triển và Việt Nam có một số điểm xích lại gần nhau”. Hiện tại, Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu công chúng báo chí từ góc độ xã hội học, báo chí học nhưng việc nghiên cứu công chúng thị trường báo chí từ góc độ kinh tế là hướng nghiên cứu còn mới mẻ. Hơn nữa, chưa có một công trình toàn diện nào nghiên cứu về những giải pháp phát triển công chúng thị trường của một tờ báo nước ngoài cụ thể. Để giúp cho bạn đọc có cái nhìn sâu hơn về công chúng thị trường, cũng như có cơ hội được tìm hiểu về bí quyết thành công của một tờ báo in lâu đời nhất thế giới còn hoạt động (1703), tác giả đã phối hợp với Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “Phát triển công chúng thị trường báo chí như thế nào? Kinh nghiệm của báo Wiener Zeitung (Áo)”. Hy vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho báo chí Việt Nam nói chung, các nhà nghiên cứu báo chí truyền thông, các sinh viên, học viên… khi nghiên cứu công chúng báo chí từ góc độ kinh tế; các độc giả muốn tìm hiểu bí quyết thành công của tờ báo nổi tiếng này. Nội dung cuốn sách gồm 3 chương: Chương 1: Khái niệm công chúng truyền thông, thị trường báo chí, công chúng thị trường báo chí Chương 2: Kinh nghiệm phát triển công chúng thị trường của báo Wiener Zeitung (Áo) Chương 3: Phát triển công chúng thị trường của của báo Wiener Zeitung, một số gợi ý cho báo chí Việt Nam
4526 lượt xem