Thư viện
Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
TS. Nguyễn Thành Lợi
Sự ra đời các phương tiện truyền thông mới đã và đang tác động sâu sắc đến “bữa tiệc thông tin” của công chúng hiện đại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự “sinh tồn” của các phương tiện truyền thông truyền thống, đặt ra cho các tòa soạn và nhà báo những thách thức chưa từng có. Hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ kỹ thuật số, Internet đã và đang tác động sâu sắc, đa dạng, phong phú đến “món ăn” tinh thần hàng ngày của công chúng truyền thông hiện đại. Đặc biệt, với sự ra đời của các thiết bị di động, những màn hình tương tác trở thành phương tiện truyền thông thông minh để mỗi giây, cư dân mạng có thể tải và chia sẻ hàng tỉ byte thông tin. Điều đó khiến cuộc va chạm giữa phương tiện truyền thông truyền thống và mới, giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dù thừa nhận hay không, truyền thông xã hội vẫn là một thực thể truyền thông đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống truyền thông hiện đại, tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng, tác động không nhỏ đến ngành báo chí truyền thông thế giới đương đại. Có thể thấy, truyền thông Internet ra đời tạo ra xu hướng hội tụ truyền thông và đa phương tiện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự vận động và phát triển của báo chí truyền thông hiện đại. Vậy, hội tụ truyền thông là gì? Sự xuất hiện của kỷ nguyên truyền thông số đã khiến nghiệp vụ báo chí truyền thông có những thay đổi căn bản. Những thay đổi đó tác động như thế nào đến tiến trình hội tụ truyền thông? Từ tòa soạn đơn loại hình đến đa phương tiện rồi phát triển tới tòa soạn hội tụ là sự phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong bối cảnh chung đó, các tòa soạn báo ở Việt Nam nên sắp xếp và thay đổi mô hình tổ chức như thế nào để thích ứng với xu thế phát triển chung của thế giới hiện đại? Đây là những vấn đề đang được báo giới, học giả cũng như các nhà báo hết sức quan tâm. Có thể khẳng định, sự xuất hiện thời đại truyền thông hội tụ không làm thay đổi bản chất của báo chí, mà báo chí vẫn cần sự phát hiện và khai quật của nhà báo chuyên nghiệp, vẫn cần sự gia công trong khâu biên tập và khâu xuất bản, vẫn phải thông qua phương tiện truyền thông để đưa sản phẩm báo chí tới công chúng. Và sự thay đổi của nó là tốc độ truyền phát thông tin và phương thức tiếp nhận thông tin. Nắm vững các kỹ năng làm báo hiện đại vẫn là yêu cầu quan trọng nhất của người làm báo trong môi trường truyền thông hiện nay. Trong môi trường hội tụ truyền thông, những nghiên cứu về sự thay đổi và bất biến của nghiệp vụ báo chí truyền thông ở nước ta vẫn còn khá ít ỏi. Cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi giới thiệu với độc giả những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều năm - nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyền thông. Tác giả đã giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới, tác giả đã làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại. Kết cấu của cuốn sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với các nhóm đối tượng là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, phóng viên, biên tập viên và những người muốn nghiên cứu lĩnh vực này. Tìm tòi, trình bày và giải thích là mục đích của tác giả viết cuốn sách này, khi tiếp xúc với những vấn đề mà nhà nghiên cứu cảm thấy xa lạ, hoặc khi bản thân vấn đề đó còn khá mới mẻ, người nghiên cứu sẽ phải có những nhận thức sơ bộ đối với đề tài. Sau khi những nhận thức dần được hình thành, hoạt động nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở khâu miêu tả và đánh giá lý thuyết của nước ngoài, mà cần có sự áp dụng sâu hơn vào thực tiễn đào tạo và làm báo của nước nhà. Nghiên cứu khoa học bắt nguồn từ quan sát, nhưng cuối cùng phải giải thích về sự vật mình quan sát được, cần áp dụng phương pháp nào đó để giải thích, ví dụ phương pháp xã hội học, phương pháp tâm lý học truyền thông. Góc độ phân tích phương pháp nghiên cứu của mỗi người mỗi khác mới cho ra đời những quan điểm mới mẻ, có tác dụng gợi mở cho độc giả và ngành khoa học. Công trình nghiên cứu của nhà báo, tiến sĩ Nguyễn Thành Lợi đã đưa ra những vấn đề mới mang tính gợi mở cho các cuộc thảo luận tiếp theo của các nhà khoa học, các đồng nghiệp và độc giả trong nước. Đây là hướng đi khá mới mẻ, cũng là một sự thử nghiệm rất đáng quý.
6600 lượt xem
IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong
TS. Phạm Anh Dũng

Nội dung sách cung cấp những kiến thức cơ bản về IoT như: kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong và rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của IoT, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “IoT (Internet vạn vật) - Kiến trúc IoT, IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0, IoT tổ ong” do TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng (nguyên Trưởng Bộ môn Vô tuyến - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) biên soạn.

Nội dung của cuốn sách gồm 6 chương:
Chương 1. Tổng quan về IoT
Chương 2. Kiến trúc mạng và ngăn xếp giao thức Internet
Chương 3. Kiến trúc và các giao thức IoT
Chương 4. Điện toán đám mây và sương mù cho IoT
Chương 5. IoT công nghiệp và công nghiệp 4.0
Chương 6. IoT trong các hệ thống 4G LTE và 5G 
Hy vọng, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các trường đại học, các chuyên gia, kỹ sư và bạn đọc quan tâm đến khái niệm, công nghệ và các ứng dụng của IoT.

4675 lượt xem
Giáo trình Nhập môn trí tuệ nhân tạo
PGS.TS Từ Minh Phương
Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực của khoa học máy tính với mục tiêu nghiên cứu xây dựng và ứng dụng các hệ thống thông minh nhân tạo. Đây là một trong những lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất của khoa học máy tính hiện nay với nhiều kết quả ứng dụng rộng rãi. Nhập môn trí tuệ nhân tạo là môn học mang tính chuyên ngành trong chương trình đào tạo công nghệ thông tin hệ đại học. Mục tiêu của môn học nhằm giúp sinh viên làm quen với khái niệm trí tuệ nhân tạo thông qua việc giới thiệu một số kỹ thuật là ứng dụng cụ thể. Với việc học về trí tuệ nhân tạo, một mặt, sinh viên sẽ được làm quen với những phương pháp, cách giải quyết vấn đề không thuộc lĩnh vực toán lời rạc hoặc giải thuật truyền thống, chẳng hạn các phương pháp dựa trên heuristics, các phương pháp dựa trên tri thức, dữ liệu. Mặt khác, sinh viên sẽ được làm quen với khả năng ứng dụng tiềm tàng các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong nhiều bài toán thực tế. Do trí tuệ nhân tạo hiện đã phát triển với khá nhiều lĩnh vực chuyên sâu nên việc lựa chọn các nội dung để giới thiệu cho sinh viên là vấn đề không đơn giản. Trong cuốn sách này, các nội dung được lựa chọn hoặc là những nội dung có tính tiêu biểu, kinh điển của trí tuệ nhân tạo như biểu diễn tri thức bằng logic, các phương pháp tìm kiếm, hoặc là những kỹ thuật có nhiều ứng dụng và đang có tính thời sự hiện nay, tiêu biểu là phương pháp suy diễn xác suất và các kỹ thuật học máy. Trong khuôn khổ có hạn của cuốn sách với tính chất là giáo trình, phần giới thiệu về việc sử dụng kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong ứng dụng cụ thể không được trình bày nhiều. Chúng tôi dành phần lựa chọn ứng dụng cụ thể cho giảng viên trong quá trình lên lớp và hướng dẫn sinh viên. Tùy điều kiện, giảng viên có thể lựa chọn trong danh mục ứng dụng rất phong phú để giới thiệu và minh họa cho các nội dung của cuốn sách. Nội dung cuốn sách được trình bày thành 5 chương: Chương 1. Giới thiệu chung về trí tuệ nhân tạo: là phần giới thiệu tổng quan về trí tuệ nhân tạo bao gồm khái niệm, lịch sử hình thành, sơ lược về những kỹ thuật và ứng dụng tiêu biểu. Nội dung chương không đi quá sâu vào việc định nghĩa chính xác trí tuệ nhân tạo là gì, thay vào đó, người đọc được giới thiệu về những lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu và lịch sử phát triển, trước khi làm quen với nội dung cụ thể trong các chương sau. Chương 2. Giải quyết vấn đề bằng tìm kiếm: trình bày cách giải quyết vấn đề bằng phương pháp tìm kiếm. Các phương pháp tìm kiếm bao gồm: tìm kiếm không có thông tin (tìm kiếm mù), tìm kiếm có thông tin, và tìm kiếm cục bộ. Khác với một số tài liệu khác về trí tuệ nhân tạo, nội dung về tìm kiếm có đối thủ không được đề cập đến trong tài liệu này. Một số nội dung như giải thuật di truyền có thể bỏ qua trong phần nhập môn và dùng để tham khảo do tương đối phức tạp so với các kỹ thuật khác. Chương 3. Biểu diễn tri thức và lập luận logic: tóm tắt về vấn đề sử dụng, biểu diễn tri thức và lập luận, trước khi đi sâu trình bày về biểu diễn tri thức và lập luận sử dụng logic. Trong hai hệ thống logic được trình bày là logic mệnh đề và logic vị từ, nội dung chương được dành nhiều hơn cho logic vị từ. Do nội dung về lập trình logic hiện không còn ứng dụng nhiều, chúng tôi không giới thiệu về vấn đề lập trình và xây dựng ứng dụng cụ thể ở đây. Chương 4. Lập luận xác suất: là mở rộng của biểu diễn tri thức và lập luận với việc sử dụng nguyên tắc suy diễn xác suất và mạng Bayes. Sau khi trình bày về sự cần thiết của lập luận trong điều kiện không rõ ràng cùng với nguyên tắc lập luận xác suất, phần chính của chương tập trung vào khái niệm cùng với ứng dụng mạng Bayes trong biểu diễn tri thức và lập luận. Chương 5. Học máy: là chương nhập môn về học máy. Trong chương này, người đọc được làm quen với khái niệm, nguyên tắc và ứng dụng của học máy. Trong phạm vi chương cũng trình bày bốn kỹ thuật học máy dùng cho phân loại là cây quyết định, phân loại Bayes, phân loại dựa trên ví dụ và hồi quy logistic, cùng với một số kỹ thuật đánh giá mô hình và lựa chọn đặc trưng. Đây là những phương pháp đơn giản, dễ giới thiệu, thuận tiện để trình bày với tính chất nhập môn. Đồng thời, đây cũng là những phương pháp có tính đại diện trong học máy, cần thiết cho người nghiên cứu về lĩnh vực này. Do ưu điểm và sự phổ biến của Support Vector Machines, phương pháp phân loại này cũng được giới thiệu, nhưng ở mức tóm tắt, không đi vào chi tiết để phù hợp với trình độ nhập môn. Cuốn sách được biên soạn từ kinh nghiệm giảng dạy học phần Nhập môn trí tuệ nhân tạo của tác giả tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, trên cơ sở tiếp thu phản hồi từ đồng nghiệp và sinh viên. Cuốn sách có thể sử dụng làm tài liệu học tập cho sinh viên đại học ngành công nghệ thông tin và các ngành liên quan, ngoài ra có thể sử dụng với mục đích tham khảo cho những người quan tâm tới trí tuệ nhân tạo.
5086 lượt xem
Biên tập Báo chí
TS. Nguyễn Quang Hòa
Cuốn sách mà bạn đang cầm trên tay là giáo trình chính thức của Học viện Báo chí - Tuyên truyền, được viết để phục vụ giảng dạy môn Biên tập báo chí cho sinh viên, những người sẽ trở thành phóng viên, biên tập viên ở các cơ quan báo chí, nhà xuất bản trong tương lai. Đồng thời, nó cũng rất bổ ích cho những người đang làm công tác biên tập, phóng viên báo chí. Ở Chương 1, tác giả đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác biên tập như “khái niệm”, “đặc điểm của công tác biên tập”, “vai trò của biên tập viên” và những vấn đề đặt ra với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ biên tập viên. Từ Chương 2, cuốn sách nói rõ các bước lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, kế hoạch đột xuất; quy trình xuất bản ở các tòa soạn báo, từ bản thảo của phóng viên tới tờ báo trên tay bạn đọc (hoặc các trang điện tử, chương trình phát thanh, truyền hình). Cuốn sách còn trả lời các câu hỏi: - Những ai biên tập báo chí? Vị trí và đặc điểm của công tác biên tập là gì? - Những loại lỗi phổ biến trên báo và các lỗi hi hữu, xảy ra trong các hoàn cảnh đặc biệt. - Những nguyên tắc khi biên tập. - Người biên tập cần những tố chất gì, những loại kiến thức gì để hoàn thành tốt công việc trong các tòa soạn đa phương tiện? - Những điều cần chú ý khi biên tập các chuyên đề Xây dựng Đảng, Kinh tế, Văn hóa xã hội, Pháp luật, Thể thao... Tác giả cũng chỉ ra những kẽ hở trong quy trình biên tập, đó chính là những cạm bẫy đối với người biên tập và đưa ra cách khắc phục.
7714 lượt xem
Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụng nhằm hiểu rõ Điểm mạnh ( Strengths), Điểm yếu ( Weaknesses), Cơ hội ( Opportunities) và Nguy cơ ( Threats) trong phân tích kinh doanh của một doanh nghiệp. Thông qua phân tích SWOT, doanh nghiệp sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Trong quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, hiệu quả cao giúp bạn có cái nhìn tổng thể không chỉ về chính doanh nghiệp của mình mà còn thấy được những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của doanh nghiệp bạn. • Điểm mạnh là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tích cực hoặc có lợi giúp bạn đạt được mục tiêu. • Điểm yếu là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. • Cơ hội là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp lợi đạt được mục tiêu. • Nguy cơ là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp ( thị trường kinh doanh, xã hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn. Có thể thấy, mục đích của phân tích SWOT là nhằm xác định thế mạnh mà bạn đang nắm giữ cũng như những điểm hạn chế cần phải khắc phục. Nói cách khác, SWOT chỉ ra cho bạn đâu là nơi để bạn tấn công và đâu là nơi bạn cần phòng thủ. Cuối cùng, kết quả SWOT cần phải được áp dụng một cách hợp lý trong việc đề ra một Kế hoạch hành động (Action plan) thông minh và hiệu quả. Thấy rõ tầm quan trọng của SWOT, trường Đào tạo Doanh nhân PTI, nơi đào tạo hàng nghìn nhà lãnh đạo cấp cao và cấp trung, đã tổ chức biên soạn cuốn sách “Phân tích SWOT trong chiến lược kinh doanh”. Hy vọng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể hiểu rõ SWOT để vận dụng thành công vào mô hình kinh doanh của doanh nghiệp mình.
5968 lượt xem
Ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong đổi mới hoạt động thư viện
PGS. TS. Vương Toàn
Công nghệ thông tin đang làm biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu. Những thành tựu của cách mạng tin học mang lại nên việc đổi mới hoạt động thư viện truyền thống là tất yếu và cấp bách. Nhờ các quá trình xử lý thông tin và phương thức truyền thông hiện đại, hoạt động thư viện đã và đang thay đổi về cơ bản, có thể nói rằng nó thực sự trở thành một cuộc cách mạng trong ngành Thư viện. Hiện nay, giá trị thư viện không còn được đánh giá là thư viện sở hữu bao nhiêu tài nguyên thông tin, mà là thư viện đó sử dụng công nghệ thông tin như thế nào để truy hồi thông tin khắp nơi nhằm phục vụ tốt cho người sử dụng. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đổi mới hoạt động thư viện” do PGS, TS Vương Toàn biên soạn sẽ đáp ứng nhu cầu đổi mới của hoạt động thư viện. Nội dung cuốn sách được chắt lọc từ gần 80 bài viết lớn nhỏ đã công bố tại các hội thảo khoa học chuyên ngành và trên các tạp chí: Thông tin khoa học xã hội, Thư viện Việt Nam, Bản tin Hội Thông tin - Tư liệu Khoa học và Công nghệ Việt Nam…. được tác giả tổng hợp biên soạn thành 2 phần. Cuốn sách đã phác họa một bức tranh hiện thực về hoạt động thông tin - thư viện nói chung và chuyên về khoa học xã hội ở Việt Nam nói riêng; đồng thời cũng gợi ra một số nội dung đang được ngành Thư viện quan tâm. Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, các cán bộ và các bạn sinh viên chuyên ngành thư viện trên cả nước...
1604 lượt xem
Sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh Việt Nam thực thi các FTA và cộng đồng kinh tế ASEAN
Nguyễn Thị Thùy Dung, Phùng Thị Lan Phương, TS. Nguyễn Thị Thu Trang
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang ngày càng đi vào chiều sâu, đặc biệt với việc đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng với nhiều đối tác thương mại lớn và tuyên bố hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015. Với các FTA và AEC này, nền kinh tế của Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn khi phải mở rộng cánh cửa cho hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, thông qua việc cắt giảm, loại bỏ thuế quan, đặc biệt từ sau năm 2015. Trên thực tế, ngay cả với những cam kết mở cửa đã có, cánh cửa vào thị trường Việt Nam đã được mở ra khá rộng cho hàng hóa nước ngoài nhập khẩu. Cùng với đó cũng xuất hiện những dấu hiệu của hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nước ngoài tại thị trường Việt Nam. Không ít hàng hóa nhập khẩu đã được bán với giá thấp kỷ lục, thậm chí được cho là giá “hủy diệt”. Những hiện tượng này đã và đang gây ra những thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp Việt Nam và trong lâu dài có thể ảnh hưởng tới triển vọng phát triển của các ngành sản xuất trong nước. Trong khi các nước khác trên thế giới từ lâu đã biết tới các công cụ phòng vệ thương mại (PVTM) - chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và sử dụng hiệu quả để bảo vệ các doanh nghiệp của mình khỏi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu; thì ở Việt Nam các công cụ này dường như vẫn còn bị bỏ ngỏ (với chỉ 5 vụ tính tới tháng 12/2015). Vì vậy, Trung tâm WTO và Hội nhập (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) phối hợp với NXB Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “Sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh Việt Nam thực thi các FTA và cộng đồng kinh tế ASEAN” nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các biện pháp PVTM ở Việt Nam. Đây sẽ là cơ sở để triển khai những hoạt động cụ thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu tận dụng hiệu quả các công cụ hợp pháp này trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng trong thời gian tới. Cuốn sách gồm các nội dung chính sau: - Xây dựng bức tranh tổng quan tình hình và hiệu quả sử dụng các công cụ PVTM của doanh nghiệp Việt Nam từ trước tới nay; - Đánh giá thực chất về nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh của hàng nhập khẩu từ các FTA hiện đang đàm phán và AEC tại thị trường Việt Nam trong thời gian tới; - Xác định đầy đủ các hạn chế và nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng các công cụ này chưa hiệu quả; - Đề xuất các giải pháp cụ thể, hợp lý và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các công cụ PVTM cho doanh nghiệp Việt Nam.
1317 lượt xem
Thông tin di động 5G và lộ trình phát triển lên 6G
TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng

5G (5th Generation) hay được gọi là thế hệ thứ 5 của mạng di động với nhiều cải tiến hơn so với 4G. 5G được thiết kế để tăng tốc độ và khả năng phản hồi nhanh chóng của mạng không dây. 5G được ra đời để kế thừa 4G, nhờ đó mà tốc độ tải xuống nhanh hơn, truyền phát dữ liệu mượt mà hơn. 5G không chỉ cải tiến về tốc độ mà nó sẽ mở ra những ứng dụng hoàn toàn mới và tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong những năm tiếp theo. Ngoài các ứng dụng với con người là trung tâm ngày càng rộng khắp, chẳng hạn thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường, phát luồng video 4k, các mạng 5G còn hỗ trợ các nhu cầu truyền thông các ứng dụng thông tin máy - máy (machine to machine), máy - người (machine to human) để làm cho cuộc sống của chúng ta an toàn và tiện lợi hơn.
Mặc dù các hệ thống truyền thông 5G sẽ cung cấp các cải thiện đáng kể so với các hệ thống trước nó, nhưng chúng không thể thực hiện các yêu cầu của các hệ thống tự động và thông minh tương lai sẽ xuất hiện sau 10 năm nữa. Các mạng 5G sẽ không có đủ dung lượng cho một mạng hoàn toàn tự động và thông minh để cung cấp mọi thứ như là một dịch vụ và trải nghiệm thực tế ảo. Sự phát triển nhanh của các hệ thống tự động đặt trọng tâm vào số liệu có thể vượt quá các khả năng của các hệ thống 5G. Một số thiết bị như các thiết bị thực tế ảo sẽ vượt quá khả năng của sau 5G (B5G: Beyond 5G) vì chúng đòi hỏi tốc độ số liệu tối thiểu 10Gbit/s.
Để khắc phục các hạn chế của 5G nhằm hỗ trợ các yêu cầu mới, cần phát triển một hệ thống không dây thế hệ 6 (6G) với các tính năng hấp dẫn mới. Các động lực chính của 6G sẽ là sự hội tụ của tất cả các tính năng cũ như mật độ mạng cao, thông lượng cao, độ tin cậy cao, tiêu thụ công suất thấp và kết nối số đông. 6G cũng sẽ tiếp tục xu thế của các thế hệ trước như đưa ra các dịch vụ mới cùng với các công nghệ bổ sung mới. Các dịch vụ mới bao gồm AI, các thiết bị đeo thông minh, các thiết bị cấy trên người, giao thông tự động, các thiết bị thực tế ảo, cảm biến và lập bản đồ 3D. Yêu cầu quan trọng nhất đối với các mạng 6G là khả năng xử lý khối lượng lớn số liệu và kết nối tốc độ số liệu cao trên một thiết bị.

7853 lượt xem
Tiếng Anh chuyên ngành Điện tử - Viễn thông
Vương Đạo Vy, Đặng Đức Cường, Nguyễn Cẩm Thanh
Cuốn sách “Tiếng Anh chuyên ngành Điện tử - Viễn thông” là tài liệu học tập dành cho cho sinh viên ngành Điện tử -Viễn thông và Công nghệ thông tin, được biên soạn chủ yếu phục vụ cho đối tượng sinh viên năm thứ hai, hoặc tối thiểu đã hoàn thành chương trình tiếng Anh trình độ Elementary. Cuốn sách gồm 20 bài lựa chọn theo những chủ đề cơ bản của chuyên ngành Điện tử - Viễn thông. Nội dung các bài đều hướng vào phát triển kĩ năng đọc hiểu và kỹ năng dịch chuyên ngành. Các bài giới thiệu ngữ pháp (Language focus) được trình bày bằng tiếng Việt giúp cho sinh viên hệ thống hoá hoặc bổ sung những nội dung ngữ pháp cơ bản, thường gặp trong văn phong khoa học - như câu điều kiện, mệnh đề quan hệ, câu bị động v.v... Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp các bài kiểm tra giữa và cuối khoá học, các bài dịch mẫu cũng như phần giải đáp các bài tập của từng bài trong phần phụ lục giúp cho sinh viên tự đánh giá kết quả học tập của mình và tra cứu những đoạn dịch mẫu khi cần.
2612 lượt xem
Phỏng vấn trong chính luận truyền hình
TS. Trần Bảo Khánh

Trong hoạt động báo chí, phỏng vấn là công việc gắn liền với những kĩ năng cần thiết của nhà báo, thường được nhìn nhận từ hai khía cạnh: là một phương pháp công tác và một thể loại báo chí, phỏng vấn được coi là chìa khóa của thành công trong quá trình tác nghiệp của nhà báo. Ở truyền hình cũng vậy, phỏng vấn thực sự là công việc vừa khó khăn, vừa hấp dẫn để có những thông tin hấp dẫn công chúng. Vì vậy, để chinh phục được những khán giả truyền hình hiện nay trước sự cạnh tranh của các phương tiện truyền thông mới, bên cạnh những tác phẩm báo chí của nhiều thể loại khác, rất cần những cuộc phỏng vấn với đầy đủ các khía cạnh của một cuộc đấu trí giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn.
Nghiên cứu về phỏng vấn và phỏng vấn truyền hình, trước đây đã từng có một số công trình ở nhiều cấp độ khác nhau. Cuốn sách “Phỏng vấn trong chính luận truyền hình” mà các bạn cầm trên tay cũng là một trong số những nghiên cứu về phỏng vấn, nhưng chủ yếu trên bình diện của chính luận truyền hình. Nội dung cuốn sách đề cập tới khá nhiều các khía cạnh khác nhau trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn của các chương trình chính luận đang thực hiện trên sóng của VTV và một số kênh truyền hình khác.
Cuốn sách ra mắt bạn đọc chắc chắn khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý quý báu của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn ở những lần xuất bản sau.

7259 lượt xem
Bộ sách xây dựng kế hoạch marketing hoàn hảo (Dành riêng cho doanh nghiệp Việt Nam) - Tập 2: Lập kế hoạch Marketing
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
Trong bối cảnh thị trường kinh doanh toàn cầu đang có nhiều thay đổi nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn phải xem xét các cơ hội và hiểm họa mà toàn cầu hóa đem lại. Người làm marketing cần có sự tinh nhanh trong nắm bắt thông tin để có thể điều chỉnh phù hợp với tương lai. Một trong những nhân tố tiên quyết tạo nên hiệu quả marketing cho doanh nghiệp đó chính là khâu lập kế hoạch marketing. Kế hoạch marketing là cách sắp xếp cấu trúc để hướng dẫn quá trình quyết định thị trường mục tiêu cho sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp bao gồm thị trường cần gì, muốn gì, sau đó sẽ đáp ứng các nhu cầu và mong muốn đó tốt hơn so với các đối thủ. Về bản chất, việc lập kế hoạch marketing một cách chặt chẽ được tiến hành theo một quy trình 10 bước quy tắc nhưng lô-gic, cho phép doanh nghiệp xác định các vấn đề, câu trả lời, câu hỏi một cách chính xác và ra quyết định. Qui tắc 10 bước được chia thành 4 phần chính như sau: 1. Marketing cơ bản bao gồm các thông tin dựa trên những gì mà kế hoạch marketing sẽ phát triển. 2. Kế hoạch marketing sẽ cung cấp hướng dẫn cho việc thực hiện trên thị trường 3. Việc thực hiện kế hoạch marketing là sự tương tác thực tế với thị trường mục tiêu và có nhiệm vụ tạo ra doanh thu và lợi nhuận như dự kiến 4. Việc đánh giá phương pháp marketing là việc đo mức độ thành công của việc thực hiện kế hoạch trên thực tế và rút ra bài học để có thể kết hợp với nền tảng marketing sẵn có nhằm phục vụ cho sự phát triển cho kế hoạch marketing của năm tới. Đứng trước yêu cầu của thực tế và mong muốn trợ giúp các doanh nghiệp Việt Nam biến ý tưởng thành hành động, Trường Đào tạo Doanh nhân PTI đã biên soạn bộ sách “Xây dựng Kế hoạch Marketing hoàn hảo” nhằm giúp các doanh nghiệp tìm được giải pháp marketing cơ bản mỗi ngày. Bộ sách gồm 03 tập như sau: Tập 1: Nền tảng Marketing (gồm 03 chương): Tập trung đưa ra những phương pháp cơ bản hướng dẫn các doanh nghiệp tiến hành đánh giá hoạt động kinh doanh và các bước chuẩn bị cho việc triển khai đánh giá. Đây là phần đặc biệt quan trọng dành cho mỗi doanh nghiệp trước khi bắt tay vào thực hiện lập kế hoạch. Xuất phát từ những thông tin đánh giá ấy để xác định chính xác những thách thức và cơ hội doanh nghiệp đang đón nhận. Tập 2: Kế hoạch Marketing (gồm 16 chương): Nội dung triển khai hướng dẫn doanh nghiệp tiến hành trình tự tất cả bước trong quy trình lập kế hoạch Marketing từ việc xác định mục tiêu bán hàng, thị trường mục tiêu, mục tiêu marketing, định vị thương hiệu, đến việc đưa ra chiến lược marketing, chiến lược sản phẩm, định giá sản phẩm, phân phối… Tập 3: Thực hiện và Đánh giá: Ngay sau khi doanh nghiệp của bạn đã có kế hoạch marketing hoàn hảo, phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình, bạn sẽ được hướng dẫn thực hiện các bước trong kế hoạch vào thực tiễn kinh doanh. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp của bạn đưa ra được những đánh giá chính xác, khoa học nhất về tác động của kế hoạch marketing. Bộ sách này được đúc kết qua nhiều năm giảng dạy cho hàng nghìn lãnh đạo cấp cao và cấp trung, tư vấn trực tiếp cho hàng trăm doanh nghiệp về chiến lược phát triển và lập kế hoạch marketing, Trường Đào tạo Doanh nhân PTI hy vọng các doanh nghiệp sẽ gặt hái được nhiều thành công trong kinh doanh sau khi biết cách lập kế hoạch markeing một cách hoàn hảo.
1583 lượt xem
Một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện đại
Nguyễn Đình Hậu, Phan Văn Kiền, Phạm Chiến Thắng, Phan Quốc Hải
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và sự thay đổi trong xu hướng tiếp nhận thông tin của công chúng, báo chí truyền thông hiện đại cũng đang bước vào một thời kỳ mà mọi giá trị của thông điệp và tin tức đều khó có thể khẳng định sự bền vững. Sự thay đổi của công nghệ và tần suất xuất hiện của những xu hướng mới khiến cho báo chí truyền thông hiện đại luôn nằm trong xu thế vận động liên tục. Đóng một vai trò quan trọng trong quá trình truyền tải thông điệp truyền thông đến công chúng, các nhà báo hiện đại cũng luôn phải thay đổi, làm mới chính mình để không chỉ đáp ứng nhu cầu của công chúng mà còn để không bị tụt hậu so với công nghệ của nền công nghiệp truyền thông đang thay đổi từng ngày, từng giờ hiện nay. Nhằm đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách “Một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện đại”. Đây là công trình nghiên cứu của nhóm tác giả đang cùng là nghiên cứu sinh tại Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung cuốn sách được cấu trúc với 4 chương: Chương 1: Một số vấn đề và xu hướng chung của báo chí truyền thông hiện nay do Phan Văn Kiền viết. Chương 2: Truyền hình hiện đại: Đặc tính và xu hướng do Phan Quốc Hải viết Chương 3: Xu hướng phát thanh hiện đại trên Internet do Nguyễn Đình Hậu viết Chương 4: Những vấn đề của quảng cáo hiện đại do Phạm Chiến Thắng viết. Nội dung cuốn sách đề cập đến một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện nay, với mong muốn đem đến một cái nhìn xuyên suốt và đa diện về những xu hướng chủ đạo của báo chí truyền thông hiện đại cả trên thế giới và ở Việt Nam, cả trên lĩnh vực báo chí và truyền thông. Dù chưa bao quát hết được tất cả các lĩnh vực của báo chí và truyền thông hiện đại, nhưng ở mỗi góc nhìn, các tác giả đã cố gắng vừa bao quát được những đặc điểm chung về xu hướng của loại hình, vừa có những kiến giải riêng vào từng góc độ tiếp cận.
4933 lượt xem
CÔNG NGHỆ MẠNG MÁY TÍNH
TS. PHẠM THẾ QUẾ
Cuốn sách “Công nghệ mạng máy tính” không chỉ đề cập đến những vấn đề cơ sở lý luận mà còn trình bày một số kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết để thiết kế và cài đặt các mạng máy tính. Hy vọng cuốn sách sẽ có ích cho các học sinh, sinh viên và những người quan tâm xây dựng các hệ thống tin học ứng dụng phục vụ cho quản lý và sản xuất trong các cơ quan, đơn vị và các doanh nghiệp. Trong quá trình biên soạn, cuốn sách không tránh khỏi thiếu sót, tác giả mong nhận được các ý kiến góp ý của bạn đọc.
3154 lượt xem
Lý luận nghiệp vụ xuất bản
Phạm Thị Thu
Từ xa xưa khi con người xuất hiện, họ đã dùng vỏ cây, thân cây, phiến đá để lưu giữ những tri thức, những hiểu biết có được trong quá trình lao động và nhận thức… Nhờ đó mà các thế hệ sau mới có thể kế thừa những thành quả của thế hệ trước mà không phải mò mẫm, dò tìm. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, cách thức để con người thực hiện lưu giữ tri thức cũng phát triển và tiến bộ không ngừng. Xuất phát từ chính thực tiễn cuộc sống cộng với sự phát triển hàng nghìn năm lịch sử, Ngành Xuất bản đã ra đời. Nhận thức được tầm quan trọng cũng như nhu cầu thiết thực của bạn đọc muốn tìm hiểu về lĩnh vực xuất bản cũng như nghiệp vụ xuất bản, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông trân trọng giới thiệu bạn đọc cuốn sách “Lý luận nghiệp vụ xuất bản” do tác giả Phạm Thị Thu biên soạn. Nội dung cuốn sách gồm 10 chương: Chương 1: Lý luận cơ bản về xuất bản, xuất bản học, xuất bản phẩm Chương 2: Biên tập và biên tập học Chương 3: Nghiệp vụ biên tập sách Chương 4: Thiết kế tổng thể cuốn sách Chương 5: Sửa bài Chương 6: In ấn Chương 7: Giá thành và giá bán xuất bản phẩm Chương 8: Phát hành sách Chương 9: Xuất bản ấn phẩm đa phương tiện Chương 10: Xuất bản điện tử Cuốn sách dẫn dắt bạn đọc tìm hiểu các hoạt động xuất bản: từ lý luận đến thực tiễn, từ xuất bản phẩm truyền thống đến xuất bản phẩm điện tử; từ công tác xây dựng đề tài, quan hệ với cộng tác viên, các nghiệp vụ biên tập, sửa bài, thiết kế, in ấn, định giá cho đến trữ và phát hành.
2780 lượt xem
Công nghệ 4G LTE và chiến lược, lộ trình phát triển ở Việt Nam
PGS.TS Trần Minh Tuấn
Thông tin di động ngày nay đã trở thành một trong những dịch vụ viễn thông phát triển rất nhanh và mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp viễn thông, mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển của thị trường viễn thông di động đã thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu và triển khai các hệ thống thông tin di động mới trong tương lai. Hệ thống di động thế hệ thứ hai với GSM và CDMA là những ví dụ điển hình đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, tuy nhiên thị trường viễn thông ngày càng mở rộng càng thể hiện rõ những hạn chế về dung lượng và băng thông của các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai. Sự ra đời của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba với các công nghệ tiêu biểu như WCDMA hay HSPA là một tất yếu để có thể đáp ứng được nhu cầu truy cập dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, xem phim… với tốc độ cao. Hiện nay, mặc dù các hệ thống thông tin di động thế hệ 2,5G hay 3G vẫn đang phát triển không ngừng nhưng các nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới đã triển khai một chuẩn di động thế hệ mới có rất nhiều tiềm năng và sẽ trở thành chuẩn di động 4G trong thời gian tới, đó là LTE (Long Term Evolution - Sự phát triển dài hạn). Thực tế triển khai công nghệ LTE vừa qua tại nhiều nước đã chứng tỏ khả năng vượt trội của LTE cả trên phương diện công nghệ lẫn khả năng thương mại. Trước đây, muốn truy cập dữ liệu lớn, bạn phải cần có một đường dây cố định để kết nối. Với LTE, chúng ta có thể truy cập tất cả các dịch vụ mọi lúc mọi nơi trong khi vẫn di chuyển như: xem phim chất lượng cao HDTV, điện thoại có hình, chơi game, nghe nhạc trực tuyến, tải cơ sở dữ liệu… với một tốc độ “siêu tốc”. Đó chính là sự khác biệt giữa mạng di động thế hệ thứ 3 (3G) và mạng di động thế hệ thứ tư (4G). Tuy vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam nhưng mạng di động băng rộng 4G đang được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều thay đổi khác biệt so với những mạng di động hiện nay. Bộ Thông tin và Truyền thông rất coi trọng việc phát triển thông tin di động băng rộng các thế hệ tiếp theo để có hạ tầng viễn thông hiện đại, làm nền tảng cho phát triển kinh tế số, góp phần thay đổi cơ cấu tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phục vụ cộng đồng như giám sát và bảo vệ môi trường, xây dựng ngôi nhà thông minh, thành phố thông minh, chăm sóc sức khỏe… Mạng và dịch vụ di động băng rộng công nghệ 4G mở ra cơ hội to lớn cho việc đạt được mục tiêu này.
4053 lượt xem
Cơ sở dữ liệu quan hệ và Ứng dụng
PGS.TS Nguyễn Bá Tường
Ngày nay, sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng có được những dữ liệu chính xác và kịp thời về các hoạt động của doanh nghiệp, để quản lý và phân tích dữ liệu một cách có hiệu quả nhằm đưa ra được chiến lược cho những hoạt động tiếp theo. Vấn đề quản lý và sử dụng thông tin dần trở thành một ngành công nghiệp có doanh số nhiều tỷ đô la. Người ta coi giá trị của dữ liệu như là một thứ tài sản quý giá của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu không có được sự quản lý một cách hữu hiệu đối với lượng dữ liệu ngày càng lớn này, cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu của các câu hỏi tìm kiếm, lượng dữ liệu này sẽ trở nên vô nghĩa. Chính điều này đã thúc đẩy sự cần thiết có được một cơ sở dữ liệu cũng như một hệ quản trị cơ sở dữ liệu hiệu quả và linh hoạt, hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác quản lý cũng như tìm kiếm thông tin. Chúng ta có thể định nghĩa cơ sở dữ liệu như là một bộ sưu tập có tổ chức của các dữ liệu liên quan logic với nhau và được các hệ ứng dụng của một tổ chức cụ thể nào đó sử dụng. Cách tiếp cận cơ sở dữ liệu nhấn mạnh đến tính chia sẻ và tích hợp của dữ liệu trong toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận này, dữ liệu được lưu trữ có tổ chức, tập trung dưới dạng một cơ sở dữ liệu và giữa các dữ liệu có sự liên kết logic với nhau. Trong cuốn sách này một lần nữa chúng tôi muốn nêu có hệ thống những vấn đề quan trọng nhất của cơ sở dữ liệu quan hệ. Môt mô hình dữ liệu xuất hiện trong hầu khắp các bài toán quản lý của doanh nghiệp. Cuốn sách gồm bốn chương: Chương 1 nêu một vài khái niệm, ký hiệu toán học sẽ dùng cho các chương sau. Chương 2 là cơ sở dữ liệu quan hệ trình bày các khái niệm như quan hệ, phụ thuộc hàm, khóa, khóa chính, khóa ngoại, dạng chuẩn, ràng buộc toàn vẹn v.v. Đặc biệt trong chương này chúng tôi có đưa thêm các ví dụ ứng dụng cụ thể và các bước thiết kế một cơ sở dữ liệu. Chương 3 giới thiệu những khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết tập thô, một công cụ đắc lực của khai thác dữ liệu, khai phá tri thức đang được những người làm tin học cả thế giới quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu. Việc nghiên cứu và hiểu biết về tập thô thật sự cần thiết trong nghiên cứu về cơ sở dữ liệu. Chương 4 là chương về hệ tin, một trường hợp tổng quát của khái niệm quan hệ. Hệ tin thực chất là một bảng dữ liệu. Việc đưa hệ tin vào lý thuyết cơ sở dữ liệu giúp chúng ta có cách nhìn tổng thể về mô hình dữ liệu quan hệ. Hệ tin giúp chúng ta dễ dàng diễn đạt một số bài toán như thuật toán Quiland, K-Mean, Bayer v.v.
2393 lượt xem