Combo sách V&V
Hanoi Architectural works
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Hanoi is a convergence of cultural thousand-year cream, a harmony of a great many of cultures. The secluded and quiet, thoughtful appearance of the shadow of Tran Quoc Pagoda reflecting in the West Lake; The pretty small roofs layer upon layer in the Old Quarter, the ancient mossy walls of the Cathedral, the portly majestic appearance of the dome of Opera House; the mannered pure Lotus next to the national great man located in the middle of the heart of the capital; The winding waves on the roof of the National Convention Center... that has become a symbol of the capital beauty. Here is the traditional oriental architectural manner of the houses, the roofs of communal houses in Hanoi. Here is European sources in the French architectures were designed and built by the very French architects. Here is the latest achievements of modern architectural science are artifacted by the very working hands and minds of the new people in new era. Each figure has represented a historic period of construction and development progress of Thang Long - Hanoi during the thousands of years. But, miraculously, all of these turn up simultaneously every morning when the city wakes up suddenly, and along with the people here create fresh new lives and honor the creative labored hands that has built up the beautiful architectures of the city.
1614 lượt xem
Kinh tế tri thức và phát triển bền vững (Tập 1)
Nguyễn Thanh Tuyên
Nhân loại đã trải qua hơn 20 năm đầu thế kỷ XXI - thế kỷ bùng nổ của công nghệ thông tin và kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu. Nhân loại cũng ngày càng thấm thía những giới hạn của thiên nhiên trước áp lực khủng khiếp về nhu cầu vật chất ngày càng gia tăng của 8 tỷ con người. Những nhu cầu vật chất không thể thay thế được ấy vốn là động lực của phát triển đang hủy hoại nghiêm trọng môi trường sống của con người là Trái Đất. Thông qua mô hình Niêu cơm Thạch Sanh, một mô hình tổng quát, vĩ mô cả về không gian và thời gian, cùng cách tiếp thu khoa học và phản biện, cuốn sách giúp độc giả hiểu được bản chất của sự phát triển, vai trò và ý nghĩa của công nghệ số, tri thức, đặc biệt là bí mật của quá trình tạo ra giá trị và của cải nhờ kinh tế tri thức và công nghệ số với các sản phẩm như phần mềm, vaccine phòng Covid-19. Cuốn sách dành cho những ai muốn có một tầm nhìn lớn, tư duy đột phá về con đường phát triển của nhân loại, về sức mạnh vô cùng to lớn của kinh tế tri thức, công nghệ thông tin và mối quan hệ của chúng với phát triển bền vững. Cuốn sách cũng dành cho những ai chuẩn bị trước cho tương lai trước những hiểm họa chưa từng có do sự phát triển mang tính hủy diệt của kinh tế và công nghệ khiến thế giới đi vào kỷ nguyên khan hiếm vĩnh viễn.
3171 lượt xem
Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các tỉnh phía bắc
PSG. TS Hoàng Lương
Cuốn sách “Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam - các tỉnh phía Bắc” giúp người đọc nắm bắt một cách có hệ thống, toàn diện những nghi thức, nghi lễ và nội dung của các lễ hội, các hình thái tín ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam. Qua đó, có thể thấy rõ vai trò quan trọng của lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng để trân trọng, kế thừa phát huy những cái hay, nét đẹp của chúng góp phần xây dựng nền văn hóa các dân tộc Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nội dung cuốn sách gồm 3 phần: Phần I: Lý thuyết chung về lễ hội truyền thống các dân tộc ở Việt Nam. Phần II: Một số lễ hội tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam. Phần III: Những giá trị của lễ hội tiêu biểu các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam. Phần IV: Một số hình ảnh minh họa của lễ hội truyền thống.
3052 lượt xem
Sức mạnh mềm Ấn Độ: Gợi mở đối với Việt Nam
PGS. TS. Lê Văn Toan

Vì mới xuất hiện vài thập niên gần đây nên sức mạnh mềm được coi là khái niệm khoa học mới. Nhưng với Ấn Độ, một trong bốn nền văn minh cổ của nhân loại, có lịch sử dài lâu đến hơn 5000 năm; một quốc gia có hơn 1,3 tỷ dân, sử dụng hàng trăm ngôn ngữ khác nhau, ưa thích đàm đạo triết học và hiện là một quốc gia mạnh về nhiều mặt, nên sức mạnh mềm Ấn Độ, trên thực tế, lại là một thực thể văn hóa - xã hội đã hiện hữu từ rất sớm, khó nơi đâu trên thế giới có thể so sánh. Viết về sức mạnh mềm Ấn Độ, do vậy, là thách thức với tất cả những ai có ý định nghiên cứu về chủ đề này, kể cả những người đã hiểu biết sâu về Ấn Độ. Trên tay bạn đọc là cuốn chuyên khảo “Sức mạnh mềm Ấn Độ: gợi mở đối với Việt Nam” của tác giả PGS.TS. Lê Văn Toan, nhà nghiên cứu hàng đầu và cũng là Giám đốc sáng lập Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

5207 lượt xem
Activities of Hanoi Folk Arts
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Throughout the 1,000-year history of Thang Long - Hanoi, folk activities such as Giong Temple, Co Loa Temple and Hai Ba Temple festivals have always been considered national events by Vietnamese feudal dynasties. At the same time, various types of folk art activities ranging from puppetry to Chèo (popular opera)... were inherited and actively developed. Imperial culture was initiated from folk culture and in turn contributed to improving and developing the later. The harmonious and close combination, parallel existence and intermixture of the two cultures has given Thang Long - Hanoi unique artists and a rich cultural diversity. Most of popular folk art activities in the Red River Delta were present in Thang Long - Hanoi. The vast countryside areas (called Kẻ Quê) surrounding urban areas (called Kẻ Chợ) were places to maintain and develop folk culture with unique and special folk-songs. Then from Kẻ Quê, these folk art activities penetrated into Kẻ Chợ to enrich the cultural life of Thang Long - Hanoi. Artists of Thang Long - Hanoi also brought in their own characteristics, resulting in Ca trù (popular folk music), Chầu Văn (spiritual form of music), Xẩm (songs of strolling blind musicians)and Chèo... being presented by artists of Thang Long - Hanoi, which had unique characteristics and identities and became ancient Đoài Chèo Area and Xẩm singing in Hanoi ancient streets...
2599 lượt xem
Mỹ thuật Hà Nội
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Trong mỹ thuật truyền thống Việt Nam, mỹ thuật dân gian Hà Nội đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Các tác phẩm điêu khắc được tạo tác ở các chùa, đình, đền Hà Nội, hay những bức tranh dân gian Hàng Trống, Kim Hoàng độc đáo thể hiện những dấu ấn lớn của mỹ thuật dân gian Thăng Long - Hà Nội nói riêng và mỹ thuật dân gian Việt Nam nói chung, phản ánh được tính cách và tâm hồn người Hà Nội xưa, bảo tồn các giá trị lịch sử - văn hóa to lớn trong nhiều mặt của cuộc sống. Đến thời kỳ cận đại và hiện đại, mỹ thuật hiện đại Hà Nội với những con người Hà Nội mới, từ các hoạ sĩ tự học đến các họa sĩ ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, từ các nghệ nhân dân gian đến những nghệ sĩ được đào tạo bài bản, đã không ngừng tiếp thu phương pháp khoa học tạo hình của Mỹ thuật phương Tây (được coi là một cơ sở khoa học xây dựng hình tượng nghệ thuật) và kế thừa những tinh hoa của nghệ thuật tạo hình truyền thống trong sáng tác mỹ thuật, đã làm chủ nhiều chất liệu như sơn dầu, sơn mài, lụa, tranh khắc, không ngừng sáng tạo các tác phẩm mỹ thuật trong dòng chảy chung của nghệ thuật. Mỹ thuật Hà Nội đã phản ánh được cái đẹp về hình ảnh cuộc sống, phong tục, tập quán của người Hà Nội, vẻ đẹp con người Hà Nội, với đầy đủ phẩm chất nghệ thuật và mang một bản sắc văn hoá tạo hình có nhiều nét riêng biệt. Nhiều tài năng bậc thầy, với nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo của Mỹ thuật Hà Nội đã góp phần tạo nên một diện mạo chung của nền mỹ thuật Việt Nam. Đồng thời, mỹ thuật Hà Nội là nơi hội tụ và tỏa sáng tinh hoa truyền thống dân tộc, nơi ghi danh những bậc thầy của hội hoạ - điêu khắc Việt Nam hiện đại với những bản sắc độc đáo của mình.
4256 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Đông
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Đông, hay xứ Hải Đông, là tên gọi dân gian để chỉ tiểu vùng văn hóa nằm ở mạn phía đông của vùng đồng bằng sông Hồng, chủ yếu bao gồm tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng hiện nay. Lấy Thăng Long - Kẻ Chợ làm trung tâm, có thể chia 4 phần còn lại của đồng bằng Bắc Bộ - tam giác châu sông Hồng và sông Thái Bình thành “tứ trấn” (tứ chiếng): Hải Đông trấn (lộ, xứ) tức xứ Đông; Sơn Tây trấn (xứ) tức xứ Đoài; Sơn Nam trấn (xứ) tức xứ Nam; Kinh Bắc trấn (xứ) tức xứ Bắc. Còn miền núi phía Bắc và từ Thanh, Nghệ trở vào Nam thì đều là vùng ngoại vi đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Với cách phân chia như vậy, xứ Đông gần như nằm trọn trong lưu vực sông Thái Bình. Hệ thống sông Thái Bình bị chi phối mạnh bởi chế độ thủy triều nên đất đai ở xứ Đông không màu mỡ như ở xứ Nam. Nguồn sống chính của cư dân nơi đây chủ yếu dựa vào đánh bắt thủy hải sản kết hợp với sản xuất nông nghiệp. Thủ công nghiệp trong vùng cũng khá phát triển, đặc biệt tập trung quanh các khu vực kế cận thành phố Hải Dương, thành phố Hải Phòng với số lượng ngành nghề đa dạng, phong phú, như nghề làm vật dụng (chiếu, nón, lược, mũ, giầy dép), nề, mộc, chạm khắc, đan mây tre, chế biến lương thực thực phẩm, khắc ván in sách... Xứ Đông có vị chí chiến lược quan trọng. Từ Kiếp Bạc (thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) có 6 đường thủy bộ đi ra biển và tiến vào đất liền, kết nối với Thăng Long - Hà Nội. Cũng chính vì lý do đó nên hoạt động thương mại ở nơi đây diễn ra từ rất sớm. Buôn bán, trao đổi hàng hóa phát triển suốt một dải ven biển Hải Phòng và mở rộng ra khu vực lân cận, tạo thành những đầu mối giao thương không chỉ của thương nhân khắp mọi miền đất nước Việt Nam mà còn của khách buôn ngoại quốc đến từ Trung Quốc, Cao Ly (Triều Tiên), Ấn Độ... Văn hóa xứ Đông có sự hội tụ, hỗn dung giữa văn hóa nông nghiệp (đồng bằng) và văn hoá biển (vùng duyên hải, hải đảo). Quá trình đô thị hoá (nhất là từ thời Pháp thuộc với các trung tâm công nghiệp, khai mỏ...) làm phong phú, đa dạng hơn văn hóa nơi đây nhờ sự tiếp nhận những yếu tố mới ảnh hưởng từ bên ngoài. Cư dân xứ Đông khá phức tạp. Cộng đồng cư dân nơi đây là kết quả của nhiều đợt di cư trong lịch sử. Vào khoảng đầu thiên niên kỷ I, chính quyền đô hộ Đông Hán chuyển một bộ phận người dân từ miền trung du xuống ven biển làm muối và khai thác hải sản. Theo sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (dòng họ Vũ “tổ tiến sĩ” ở Mộ Trạch, Bình Giang, Hải Dương) thì Hải Đông là quê hương nguyên thủy của nhà Trần thuở hàn vi lưu lạc, sau mới dời về Tức Mặc - Thiên Trường (Nam Định). Tiếp đó, dân cư từ các vùng khác cũng đến khẩn hoang, lập làng. Cũng có trường hợp những người vượt biển từ phía bắc xuống, phía nam lên. Từ muôn nẻo, các nhóm cư dân kẻ trước người sau cùng tới mảnh đất này, cộng cư lâu dài, tạo thành một cộng đồng cư dân mới trong vùng.
3447 lượt xem
Vang vọng lời nước non - Tập 4: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân
Ban Tuyên giáo Trung ương

Cách đây hơn một thế kỷ, năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm con đường mới cho sự nghiệp cứu nước, đấu tranh giành độc lập dân tộc. Mang trong mình khát vọng “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, Người đã đi qua gần 30 quốc gia, 4 châu lục và 3 đại dương, vừa làm nhiều công việc khác nhau vừa miệt mài học tập, tiếp thu kho tàng tri thức đồ sộ của nhân loại, trực tiếp tham gia các phong trào yêu nước và cách mạng ở châu Âu và Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở học thuyết cách mạng và khoa học này con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Từ đó, Người kiên trì, sáng tạo, từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc. Cùng với các công việc cực kỳ hệ trọng, trong suốt cuộc đời mình, Người tích lũy được một khối lượng tri thức - văn hóa đồ sộ, nghiền ngẫm sâu sắc từ chỉ đạo và tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam, cách mạng thế giới, Người xây dựng cho mình một hệ thống các quan điểm vô cùng độc đáo và sâu sắc, mang dấu ấn của riêng Người. Từ những năm 20 của thế kỷ XX đến nay, hệ thống các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam, cho toàn bộ quá trình đấu tranh của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Và đó chính là “tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta”.

3600 lượt xem
Câu chuyện Chuyển đổi số 2021
Bộ Thông tin và Truyền thông

Cuốn sách giới thiệu những câu chuyện về chuyển đổi số của Việt Nam, bao gồm các câu chuyện thành công được thực tiễn kiểm chứng là hiệu quả, có thể tham khảo nhân rộng và các câu chuyện sưu tầm có những ý tưởng, giải pháp tiềm năng

3961 lượt xem
Máy tinh xách tay - Nguyên tắc sử dụng và khắc phục sự cố
Ngô Vũ Hải
Máy tính xách tay (laptop) đã và đang trở thành công cụ đắc lực trong học tập, nghiên cứu và trong công việc bởi những tính năng và sự tiện dụng mà nó mang lại. Có thể nói không quá rằng với chiếc máy tính xách tay và một kết nối Internet không dây là bạn đã "có cả thế giới di động trong tay". Hiện nay máy tính xách tay có rất nhiều chủng loại, mẫu mã, cấu hình, mức giá... Tuy nhiên để có một chiếc máy tính xách tay phù hợp với nhu cầu và công việc của mình thì đòi hỏi bạn phải có sự lựa chọn, cân nhắc. Hơn nữa, việc bạn có máy tính xách tay mà bạn không biết sử dụng và bảo quản đúng cách sẽ làm giảm tuổi thọ và hiệu quả của máy. Với mong muốn có thể giúp người dùng hiểu được những nguyên tắc chung khi chọn mua và cách sử dụng máy tính xách tay để đạt hiệu quả cao nhất cũng như giải đáp một số thắc mắc, cách sửa chữa những sự cố thông thường; Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản cuốn sách "Máy tính xách tay - Nguyên tắc sử dụng và khắc phục sự cố" của tác giả Ngô Vũ Hải với hy vọng cuốn sách sẽ thở thành cuốn Cẩm nang tra cứu hỗ trợ đắc lực cho những người đã, đang và sẽ dùng máy tính xách tay.
2696 lượt xem
Thế giới diệu kỳ của sóng vô tuyến
Cục Tần số Vô tuyến điện

Cuốn sách kể câu chuyện về sóng vô tuyến điện, vai trò của sóng vô tuyến đối với đời sống xã hội và vai trò của quản lý tần số…

5441 lượt xem
Tấm gương Bác - Ngọc quý của mọi nhà
TS. Nguyen Van Khoan

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã nêu tấm gương sáng về phương pháp làm việc khoa học và học tập suốt đời cho toàn Đảng, toàn dân ta cùng lớp lớp các thế hệ trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam nguyện phấn đấu học tập và noi theo.
Cuốn sách “Tấm gương Bác - Ngọc quý của mọi nhà” do TS. Nguyễn Văn Khoan sưu tầm qua các sách báo, tập hợp các bài viết, lời kể của các nhân chứng, những kỷ niệm sâu sắc về Bác Hồ thành một công trình dày dặn, phong phú. Nội dung cuốn sách vô cùng quý và có giá trị phổ biến, tên sách đã nói lên điều đó. Đây là những bài viết ngắn gọn, có nội dung súc tích, dễ đọc, dễ nhớ, phản ánh tình cảm gắn bó của Bác Hồ với bộ đội, cán bộ, nhân dân. Mối quan hệ mật thiết và cách ứng xử linh hoạt, có tình có lý của Bác Hồ với mọi người qua những câu chuyện bình thường, cụ thể trong đời sống hàng ngày đã được thuật lại một cách tự nhiên đến xúc động lòng người. Điều đáng được trân trọng nêu cao, đó là giá trị giáo dục to lớn xuyên suốt các bài viết từ đầu đến cuối công trình, qua từng bài, làm cho người đọc tiếp nhận một cách dễ dàng mà sâu sắc, lâu dài, mãi mãi. Người đọc sách này, tùy theo trình độ và tuổi tác, nghề nghiệp và thân phận, kể cả người nước ngoài - “Những chiến sĩ mới của Bác Hồ”, đều có thể rút ra từ đây những bài học lý tưởng và đạo đức làm người, để theo đó cố gắng học tập tư tưởng không ngừng tiến bộ. Tấm gương Bác lung linh không phải treo trên cao để mọi người cùng chiêm ngưỡng kính phục mà rất gần với mọi người, luôn luôn chiếu sáng, soi đường, chỉ lối cho chúng ta không ngừng tu dưỡng bản thân để có điều kiện phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân với chất lượng ngày càng tốt hơn, hiệu quả ngày càng cao hơn.
“Tấm gương Bác - Ngọc quý của mọi nhà” với nội dung phong phú và cao quý như vậy lại ra mắt bạn đọc trong một thời điểm rất thích hợp - Kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2019), nên đã cung cấp đúng lúc và kịp thời một tài liệu tham khảo quý có giá trị lý luận và thực tiễn cao, phục vụ đắc lực cho việc học tập tấm gương Bác một cách thiết thực và hiệu quả.

6362 lượt xem
Các bức thư hay nhất thế giới - Kỷ niệm 50 năm cuộc thi viết thư quốc tế UPU (1971 - 2021)
Liên minh Bưu chính Thế giới

Liên minh Bưu chính Thế giới (gọi tắt là UPU) khởi xướng và tổ chức Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần đầu tiên vào năm 1971 dành cho các em thanh thiếu niên từ 10 - 15 tuổi với mục đích nhằm phát triển khả năng viết văn của thanh thiếu niên, làm phong phú thêm sự tinh tế trong tư duy, góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa các dân tộc và giúp các em hiểu biết thêm về bưu chính và vai trò của ngành Bưu chính trong cuộc sống và phát triển kinh tế, xã hội.
Mỗi năm UPU chọn ra một chủ đề của Cuộc thi gắn với các hoạt động mang tính văn hóa, kinh tế xã hội nổi bật chung của Liên hợp quốc hoặc các vấn đề lớn mang tính toàn cầu và cấp thiết. Thông qua các chủ đề này, các em học sinh không chỉ có dịp để phát triển tư duy và khả năng sáng tạo mà còn là dịp bày tỏ quan điểm và ý kiến của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan tới chủ đề của cuộc thi. Nhiều em đã có những bức thư làm sửng sốt người đọc vì tư duy và tình cảm sâu sắc vượt trên lứa tuổi của mình, mang tính nhân văn sâu sắc.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU (1971 - 2021), Văn phòng Quốc tế UPU đã phát hành ấn phẩm tập hợp 53 bức thư đạt giải Nhất Quốc tế tại các Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU và bình chọn ra bức thư hay nhất trong số đó (Best of The Best). Bức thư đạt giải Nhất Quốc tế Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU lần thứ 7 (năm 1978) với chủ đề “Bác bưu tá, người bạn tốt của tôi - The postman, my best friend” đã được lựa chọn là bức thư hay nhất. Chủ nhân của bức thư đó là Mi-kyong Ryu, bé gái 11 tuổi đến từ Hàn Quốc vào năm 1978. Chủ đề và nội dung bức thư gắn tới hình ảnh thân quen về người bưu tá, gợi cho chúng ta nhớ tới hình ảnh các nhân viên Bưu điện Việt Nam - một trong những lực lượng tuyến đầu miệt mài chuyển phát thư, bưu kiện, hàng hoá tới tận tay người dân trong bối cảnh đại dịch Covid ảnh hưởng tới toàn xã hội. Để tạo cơ hội cho các Nhà trường và các em học sinh trên cả nước tiếp cận phiên bản bức thư hay nhất (Best of The Best) của UPU, Bộ Thông tin và Truyền thông đã liên hệ được bản quyền, và giao Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tổ chức biên dịch, biên tập, xuất bản và phát hành cuốn sách “Các bức thư hay nhất thế giới” sang tiếng Việt. Cuốn sách hữu ích này không chỉ giới thiệu nguyên tác 53 bức thư như những viên ngọc sáng lấp lánh sắc màu mà còn đem đến cho người đọc những ý tưởng, cảm xúc chân thật, các chi tiết ấn tượng nhất của mỗi bức thư. Đọc những bức thư sinh động và lay động lòng người trong ấn phẩm nêu trên cũng là lúc chúng ta lắng lại để suy ngẫm, cảm nhận và liên tưởng về cuộc sống xoay quanh mỗi chủ đề của cuộc thi. Hy vọng, các em học sinh sẽ tìm thấy trong cuốn sách của mình những gợi mở, những liên hệ thú vị để hình thành cách thể hiện riêng, ghi dấu ấn riêng và sẽ có những bức thư hay khi tham gia những cuộc thi tới.

7823 lượt xem
Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa đạo đức
TS. NGND. Trần Văn Bính

Tại Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã trịnh trọng tuyên bố: “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Khẳng định đó là kết quả tổng kết những bài học kinh nghiệm quý báu của Cách mạng Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua, và những bài học rút ra từ hoạt động thực tiễn hơn 5 năm Đổi mới. Khẳng định đó ngay lập tức nhận được sự đồng thuận của toàn dân, tạo được sự khích lệ lớn đối với mỗi người Việt Nam, trong đó có giới trí thức, các nhà khoa học. GS. TS. NGND. Trần Văn Bính - nguyên Trưởng khoa Văn hóa (nay là Viện Văn hóa và Phát triển) thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, trong nhiều năm qua, đã tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa và con người. Các bài viết của Giáo sư, dù ra đời tại các thời điểm khác nhau, đều hướng tới việc nghiên cứu và khẳng định những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Tư tưởng của Hồ Chí Minh hướng về nội hàm của hai từ văn hóa, là tư tưởng coi con người là động lực, là mục tiêu của mọi hoạt động kinh tế, xã hội, là tư tưởng “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, và là sự quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống cho mỗi con người… Gắn việc nghiên cứu, học tập các tư tưởng của Người với việc giải quyết những vấn đề cơ bản, cấp thiết về văn hóa, con người, trong tình hình hiện nay, là mục tiêu cơ bản của cuốn sách. Đó là các vấn đề: xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hướng tới kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách “Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức” của GS.TS.NGND. Trần Văn Bính. Nội dung cuốn sách gồm hai phần: Phần 1: Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa Phần 2: Di sản Hồ Chí Minh về đạo đức. Việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối để bạn đọc tiện theo dõi, bởi văn hóa và đạo đức là hai phạm trù có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau, hòa quyện vào nhau. Cuốn sách không phải là tập chuyên khảo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người, tác giả không đặt cho mình nhiệm vụ trình bày vấn đề một cách hệ thống và chi tiết, mà thông qua từng bài viết nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, tác giả mong muốn giới thiệu những tư tưởng cơ bản nhất, sát thực nhất đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người ở nước ta hiện nay. Nhân dịp tái bản cuốn sách, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xin trân trọng cảm ơn sự định hướng chỉ đạo của TS. Nguyễn Bắc Son, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; TS. Lê Doãn Hợp, nguyên Ủy viên BCH Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông và các nhà khoa học đã dành thời gian đóng góp những ý kiến quý báu cho cuốn sách này. Hy vọng, cuốn sách sẽ được đông đảo bạn đọc gần xa, trong và ngoài nước nhiệt tình đón nhận. Xin trân trọng cảm ơn!

8652 lượt xem
Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
Xứ Quảng là vùng đất vốn thuộc vương quốc Chămpa xưa. Sau nhiều biến cố lịch sử, vùng đất này đã trở thành một bộ phận của lãnh thổ Đại Việt. Buổi đầu thời Lê Sơ (thế kỷ XV), trên bản đồ quốc gia, vùng đất Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi được ghi là Nam Giới, được xem như một phên dậu của Đại Việt. Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), giữa Đại Việt và Chămpa xảy ra xung đột. Vua Lê Thánh Tông thân chinh và đánh thắng Chămpa, cắt đặt vùng đất từ phía nam đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông làm Thừa tuyên Quảng Nam, gồm có 3 phủ, 9 huyện. Cũng từ thời vua Lê Thánh Tông, tên gọi xứ Quảng bắt đầu xuất hiện trong dân gian bên cạnh xứ Thanh, xứ Nghệ... Sau thời kỳ chiến tranh Lê - Mạc và Trịnh - Nguyễn, vùng đất này nằm dưới quyền cai quản của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát phân chia lãnh thổ Đàng Trong thành 12 dinh. Về mặt hành chính, xứ Quảng khi đó trực thuộc dinh Quảng Nam. Tại xứ Quảng có cửa biển Hội An là cửa biển duy nhất lúc bấy giờ được phép buôn bán với nước ngoài. Năm 1806, vua Gia Long chia cả nước làm 23 đơn vị hành chính. Trong đó, đạo Quảng Nam hay dinh Quảng Nam được chia thành 3 trấn. Xứ Quảng hiện nay thuộc vào địa giới hành chính của doanh Quảng Nam và trấn Quảng Ngãi. Năm 1832, vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính quy mô lớn, đổi tất cả trấn và doanh thành tỉnh, đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát trông coi việc cai trị. Địa giới hành chính của tỉnh Quảng Nam (nay là Quảng Nam và Đà Nẵng) và tỉnh Quảng Ngãi lúc bấy giờ tương đương với xứ Quảng hiện nay. Dưới thời Pháp thuộc (1858-1945), sau khi Liên bang Đông Dương được thành lập (1887), chính quyền thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam, đổi tên là Tourane, trở thành một đơn vị hành chính độc lập, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Quốc gia Việt Nam (tức chính quyền Bảo Đại). Đến tháng 3 năm 1965, các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn. Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa quy định là thành phố trực thuộc Trung ương. Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa. Từ đó đến nay, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng là 3 đơn vị hành chính độc lập. Cũng như các tiểu vùng văn hóa khác, quá trình hình thành và phát triển của tiểu vùng văn hóa xứ Quảng là sự tích hợp của nhiều yếu tố tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa... Các yếu tố này mang đặc trưng riêng biệt, tạo cho mỗi vùng miền những bản sắc không pha lẫn trong tổng thể lịch sử - văn hóa Việt Nam. Những giá trị đặc trưng của văn hóa xứ Quảng đã góp phần làm giàu thêm nét đặc sắc, đa dạng trong văn hóa Việt Nam. Chính vì vậy, sứ mệnh lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa quý báu đó phải được xem là trọng trách không chỉ của những con người sinh sống trên mảnh đất này, mà còn là trách nhiệm chung của cả cộng đồng và xã hội Việt Nam nói chung.
2660 lượt xem
Hanoi Fine Arts
Hà Nguyễn, Ha Nguyen
In the traditional art of Vietnam, Hanoi folk art plays an especially important role. The artifact sculptures in pagodas, communal houses, temples of Hanoi or the unique folk paintings of Hang Trong, Kim Hoang illustrate great footprints of Thang Long - Hanoi folk art in particular and Vietnam folk art in general. At the same time, Hanoi fine art reflects the soul and characters of old Hanoians and preserve great cultural, historical values in many aspects of life. In contemporary and modern period, with new Hanoians, from self-taught artists and those graduated from Indochina College of Fine Arts, from folk artist to well-trained ones, Hanoi modern art has not stopped to acquire from the scientific methods of Western art (considered as a scientific basis to build artistic images) as well as to inherit from the quintessence of traditional plastic arts in artistic creation in many materials such as oil paint, lacquer, silk, carvings, which constantly create art works in the general flow of art. Hanoi fine art has reflected the beauty of living images, traditions, customs, characteristics of Hanoians with complete artistic quality, bearing its own authentic features in the culture of image creation. Many masterly talents with their own unique art styles of Hanoi Fine Arts have contributed to the creation of a general appearance of Vietnamese fine arts. Concurrently, Hanoi fine art is the converging and shining place for the crop of the cream of traditional art as well as for many masters of paintings - sculptures of Vietnamese modern art with their own cachet.
1542 lượt xem